Tag Archives: y học thường thức

Các nguyên tắc sơ cấp cứu quan trọng [Y học phổ thông]

Các nguyên tắc sơ cấp cứu quan trọng [Y học phổ thông]

Sơ cấp cứu là một kĩ năng hết sức quan trọng và cần thiết trong cuộc sống hằng ngày. Video trình bày một số nguyên tắc cơ bản cần có và áp dụng trong mọi tình huống sơ cấp cứu thường gặp.

Hãy tải phần mềm học tiếng Pháp miễn phí tại đây:

https://play.google.com/store/apps/details?id=com.tiengphap.biomedera&hl=en

Biomedera – Aspiration of Knowledge

Channel:
https://www.youtube.com/BiomederaEducation

Kỉ nguyên Y Sinh học – Biomedera’s channel

Chúng tôi không thể trình bày chính xác hoàn toàn sự thật trong các video này. Do vậy mong rằng các bạn có thể sử dụng sự tinh tế của mình khi xem cơ hồ nắm bắt được tri thức!

Follow us:

Fb: http://www.facebook.com/Biomedera

Website: http://www.biomedera.com
http://www.docsachysinh.com

Hãy ấn Like và Subcribe để theo dõi những video mới nhất của chúng tôi nhé!

Nhiễm khuẩn tiết niệu: Bệnh hay gặp khi mang thai

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu là khi vi khuẩn xâm nhập bàng quang hay thận và sinh sôi nẩy nở rồi gây nhiễm khuẩn cho nước tiểu, cuối cùng ảnh hưởng nghiêm trọng đến từng cơ quan của hệ tiết niệu. Nhiễm khuẩn đường tiết niệu là chứng bệnh thường gặp ở phụ nữ mang thai, nó thường xuất hiện vào đầu tháng thứ tư của thời kỳ mang thai.

Thủ phạm gây bệnh

Nước tiểu bình thường vô khuẩn, chứa nước, muối, các chất bã nhưng không có vi khuẩn, nấm… Nhiễm khuẩn xảy ra khi các vi sinh vật bình thường ở ống tiêu hóa bám vào lỗ niệu đạo và bắt đầu sinh sản. Hầu hết các nhiễm khuẩn tiết niệu do vi khuẩn E.coli (Escherichia Coli) từ vùng hậu môn, âm đạo xâm nhập bàng quang qua niệu đạo vốn rất ngắn của phụ nữ (chỉ 3 – 4cm), cũng có thể E.Coli lúc thường sống ở ruột già, khởi đầu sinh sản ở niệu đạo, nhiễm khuẩn khu trú ở đấy gọi là nhiễm khuẩn niệu đạo. Từ đấy, vi khuẩn di chuyển đến bàng quang gây viêm bàng quang. Nếu nhiễm khuẩn này không được điều trị ngay, vi khuẩn có thể lan đến thận qua đường niệu quản gây viêm thận bể thận.

Bệnh hay gặp khi mang thai 1
 Sỏi bàng quang – nguyên nhân gây nhiễm khuẩn tiết niệu.

Để vi khuẩn phát triển thì một trong những yếu tố thuận lợi hay gặp của phụ nữ khi mang thai là sự ứ đọng nước tiểu, sự ứ đọng này xảy ra do khối lượng tử cung lớn lên chèn ép vào niệu quản làm giãn đài bể thận, hoặc do sự trào ngược nước tiểu từ bàng quang lên niệu quản…

Các thể nhiễm khuẩn tiết niệu thường gặp ở phụ nữ mang thai

Căn cứ vào triệu chứng lâm sàng và kết quả xét nghiệm, người ta phân ra một số thể nhiễm khuẩn tiết niệu ở phụ nữ có thai như sau:

Thể nhiễm khuẩn: Thường không có triệu chứng lâm sàng. Qua hai lần xét ngiệm nước tiểu riêng biệt thấy có tối thiểu 100.000 vi khuẩn trong 1ml nước tiểu. Thể bệnh này có thể gây biến chứng viêm thận – bể thận cấp với tỷ lệ khá cao nếu không được điều trị kịp thời.

Thể viêm bàng quang: Người bệnh có tiểu buốt, tiểu dắt, có khi ra máu cuối bãi, có cảm giác nóng bỏng, rát khi đái, không sốt người mệt mỏi khó chịu. Xét nghiệm nước tiểu: Tối thiểu thấy có 10.000 bạch cầu và 100.000 vi khuẩn trong 1ml nước tiểu trở lên thì có thể chẩn đoán xác định. Nếu không được điều trị kịp thời thì viêm bàng quang có thể dẫn đến viêm thận – bể thận cấp.

Thể viêm thận – bể thận cấp: Đây là thể nặng nhất. Khởi phát thường đột ngột với hội chứng nhiễm khuẩn rõ rệt: sốt cao 39 – 400C, mạch nhanh, rét run, thể trạng suy sụp nhanh, hốc hác, mệt mỏi li bì, đau vùng thắt lưng bên phải là triệu chứng hay gặp, có khi đau âm ỉ, cũng có lúc đau dữ dội từng cơn xuyên xuống hố chậu phải và bộ phận sinh dục. Nếu không điều trị kịp thời thì viêm thận – bể thận cấp sẽ gây ra những biến chứng nguy hiểm cho cả mẹ và thai nhi. Người mẹ dễ bị choáng, sốc nhiễm khuẩn gây suy tuần hoàn, suy hô hấp cấp, suy thận cấp… thai nhi dễ bị suy thai, đẻ non… Bệnh cảnh này thường gặp trên người có tiền sử viêm thận – bể thận do sỏi, có viêm bàng quang do sỏi, hoặc dị dạng đường tiết niệu từ trước khi mang thai mà không biết nay mới có điều kiện bộc lộ ra ngoài.

Làm gì khi bị nhiễm khuẩn tiết niệu?

Đối với thể nhiễm khuẩn tiết niệu không có triệu chứng và thể viêm bàng quang, sản phụ có thể điều trị ngoại trú dưới sự theo dõi hướng dẫn của thầy thuốc sản khoa. Dùng kháng sinh loại diệt khuẩn tốt mà không có hại cho thai. Sau một đợt điều trị, sản phụ cần xét nghiệm lại nước tiểu.

Đối với thể viêm thận – bể thận cấp, sản phụ cần được điều trị tích cực tại bệnh viện. Tại đây, sản phụ sẽ được thăm khám đầy đủ cả về tiết niệu và sản khoa, tiến hành làm các xét nghiệm đánh giá tình trạng nhiễm khuẩn và chức năng thận, làm siêu âm kiểm tra hệ tiết niệu, siêu âm kiểm tra xem thai nhi có bị ảnh hưởng gì không…

Muốn điều trị có kết quả tốt bệnh nhiễm khuẩn tiết niệu nên sử dụng kháng sinh theo kết quả kháng sinh. Nếu phát hiện nguyên nhân do sỏi hoặc dị dạng tiết niệu thì phải tạm thời dẫn lưu nước tiểu bằng đặt ống sonde qua niệu quản. Phụ nữ khi mang thai, cần kiểm tra nước tiểu định kỳ, xét nghiệm tế bào vi khuẩn trong nước tiểu 3 tháng một lần. Ngoài ra, về chế độ ăn uống, vệ sinh sản phụ hàng ngày nên uống nước đầy đủ, không nên cố nhịn khi muốn đi tiểu, nên đi tiểu ngay sau khi giao hợp vì lúc này lỗ niệu đạo mở dễ tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập bàng quang và nhiễm khuẩn ngược dòng, khi đi đại tiện hoặc khi vệ sinh vùng âm hộ – hậu môn thì nên vệ sinh từ trước ra sau.

   BS. Thanh Quy – SKDS

Đừng tự làm thầy thuốc cho con

Khi dùng thuốc cho con, các bậc cha mẹ thường có tâm lý làm mọi cách để cho con em mình nhanh khỏi bệnh. Nhưng đôi lúc bố mẹ vẫn mắc phải một số sai lầm khiến cho trẻ không khỏi bệnh mà thậm chí bệnh còn nặng hơn, có khi dẫn đến tai biến nguy hiểm đến tính mạng của trẻ…

Tự chẩn đoán bệnh: Khi con mình bị bệnh, thay vì đưa con đi khám để bác sĩ chẩn đoán và chỉ định thuốc, một số bố mẹ đã tự ý chẩn đoán bệnh và mua thuốc cho trẻ dùng. Trong một số ít trường hợp, việc tự ý dùng thuốc cho trẻ không dẫn đến sự nguy hại nào hoặc có khi trẻ chỉ bị rối loạn nhẹ, không có những tổn thương thực thể đáng kể. Tuy nhiên, việc tự ý dùng thuốc cho trẻ có thể dẫn đến các tác hại không thể lường hết. Đã có trường hợp trẻ bị cảm sốt nhẹ nhưng bố mẹ lại cho dùng kháng sinh cloramphenicol thường xuyên sau một thời gian trẻ bị “thiếu máu bất sản” dẫn đến tử vong.

Đừng tự làm thầy thuốc cho con 1
 Không để thuốc trong tầm với của trẻ.

Sử dụng toa thuốc cũ: Một số bà mẹ đã tự ý sử dụng đơn của bác sĩ đã kê cho con trong lần khám bệnh trước để mua thuốc dùng cho trẻ trong lần bệnh sau (khi trẻ có những triệu chứng giống hoặc na ná lần bệnh trước).  Cần lưu ý, một đơn thuốc bác sĩ ghi sau khi khám chẩn đoán bệnh chỉ dành riêng cho một cá nhân vào một thời điểm và trong điều kiện nhất định nào đó thôi. Bệnh cũ có thể bị tái phát nhưng lần này tiến triển đến mức nặng hơn hoặc triệu chứng bệnh có vẻ giống như bệnh cũ nhưng lần này lại là bệnh khác. Vì vậy, dùng toa thuốc cũ là không đúng, thậm chí còn nguy hiểm…

Dùng không đúng hoặc không đủ liều: Nhiều bậc cha mẹ có tâm lý sợ thuốc gây hại cho con nên đã tự ý điều chỉnh liều của bác sĩ (thay vì cho trẻ dùng 3 – 4 lần trong ngày, lại chỉ dùng 1 – 2 lần/ngày), hay do cho uống thuốc không đúng cách (như pha thuốc vào bình sữa cho trẻ bú và trẻ không bú hết bình sữa) hoặc bố mẹ cho trẻ dùng thuốc quá liều do tâm lý nôn nóng muốn trẻ mau hết bệnh đã dồn liều thuốc uống trong ngày thành uống một lần duy nhất và uống như thế liều tăng lên gây hại hoặc dùng dụng cụ đo lường thuốc không chính xác (như dùng muỗng ăn ở nhà đong đo thể tích thuốc sirô cho trẻ thay vì dùng dụng cụ được cung cấp).

Dùng dạng thuốc không thích hợp cho trẻ: Dạng thuốc thích hợp cho trẻ là dạng thuốc lỏng (sirô, thuốc uống giọt, hỗn dịch, nhũ dịch) nhưng có trường hợp bố mẹ dùng thuốc dành cho người lớn là thuốc viên nén, nghiền viên thuốc ra thành bột mịn và phân liều cho trẻ uống (như nghiền viên paracetamol 500mg và lấy 1/4 hay 1/5 lượng viên này hòa với nước cho trẻ uống). Làm như thế có thể lấy liều không đúng hoặc phá hỏng dạng thuốc gây hại cho trẻ (như phá hỏng dạng thuốc bao tan ở ruột gây hại dạ dày của trẻ). Một số thuốc viên được thông báo “chống chỉ định đối với trẻ dưới 12 tuổi” (tức không được dùng cho trẻ dưới 12 tuổi) nhưng bố mẹ thấy con mình phát triển tốt, hình thể cao to như người lớn bèn cho trẻ dùng thuốc đó mà không nghĩ đã có lý do xác đáng nhà sản xuất thuốc phải hạn chế đối tượng sử dụng thuốc như thế.

Để thuốc trong tầm với của trẻ: Bố mẹ đã cất giữ thuốc không tốt để trẻ có thể tự tiện dùng thuốc. Trên thực tế nhiều trẻ phải đi cấp cứu do ngộ độc thuốc vì sự bất cẩn này.

  TS. Nguyễn Hữu Đức – SKDS

Có nên ngưng chích ngừa bệnh viêm gan siêu vi B không?

Với tư cách một thầy thuốc, tôi đã xuất hiện nhiều lần trên các phương tiện thông tin đại chúng để nói về các bệnh viêm gan B, và C. Trong đó, tôi đã đề cập đến chương trình chích ngừa bệnh viêm gan siêu vi B (VGSV B).

Một trong ba gia đình đau đớn vì mất con sau khi tiêm ngừa vắcxin VGSV B tại bệnh viện Hướng Hoá, Quảng Trị. Ảnh: CTV

Hôm nay, khi tin tức đang tràn ngập trên báo chí, tivi về việc ba trẻ sơ sinh xấu số ở bệnh viện Hướng Hoá, Quảng Trị bị tử vong ngay sau khi được chích ngừa bệnh VGSV B. Vắcxin này còn hạn dùng đến năm 2015, do công ty Vắcxin sinh phẩm số 1 (Vabiotech) thuộc bộ Y tế cung cấp. Theo trang web của công ty (http://vabiotech.com.vn/?act=info&id=8) vắcxin này đã “đoạt giải nhì VIFOTECH 1995, công trình đoạt giải nhì VIFOTECH 1995, giải thưởng KOVALEVSKAIA 1999, huy chương vàng hội chợ Vì tuần lễ xanh quốc tế, sản phẩm được chứng nhận đạt tiêu chuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn quốc tế”.

Bên cạnh những giải thưởng khoa học đó, lần đầu tiên, y giới Việt Nam có được bằng chứng cụ thể về nguyên nhân của những cái chết xảy ra liên tiếp sau khi chích ngừa: cơ địa em bé trước khi chích hoàn toàn khoẻ mạnh, cái chết xảy ra chỉ dăm phút sau khi chích thuốc. Và quan trọng hơn hết, bằng chứng mổ tử thi mà theo báo cáo của bệnh viện đa khoa huyện Hướng Hoá, các cháu bé tử vong nghi do “sốc phản vệ” sau khi tiêm thuốc (nguồn:http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130721/tam-dung-tiem-vac-xin-viem-gan-b-cho-tre-so-sinh-tai-quang-tri.aspx)

Dĩ nhiên, tôi nhận được rất nhiều câu hỏi, email, điện thoại… để chất vấn về sự việc này. Trong đó, hoàn toàn hữu lý khi nhiều bậc phụ huynh có ý định không cho con cái đi tiêm phòng bệnh VGSV B nữa. Họ có lý khi nói: “không tiêm chưa chắc đã chết, mà tiêm chết ngay như thế thì làm sao tôi dám mang con đi được?”

Để rộng đường dư luận, tôi đưa lại một số thông tin, có dẫn nguồn tham khảo từ những tạp chí y học có uy tín. Tự những con số sẽ nói lên tất cả!

Bệnh VGSV B có phổ biến và nguy hiểm không?

Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ VGSV B cao nhất thế giới: 20% (một phần năm dân số). Bệnh này là nguyên nhân hàng đầu của ung thư gan. 25% bệnh nhân mắc phải siêu vi B sẽ đi vào biến chứng xơ gan, ung thư gan nếu không điều trị. 100% ung thư gan ở trẻ em là do VGSV B.

Ở trẻ em Việt Nam, tỷ lệ bị mắc VGSV B vào khoảng từ 13 – 18%. Chủ yếu các em bị lây nhiễm theo chiều dọc từ mẹ sang con trong quá trình chuyển dạ.

Có thể phòng ngừa bệnh VGSV B không?

Tuy nguy hiểm, nhưng hoàn toàn có thể phòng ngừa được bệnh bằng chích ngừa. Vắcxin có thể ngừa được bệnh trong ít nhất 95% trường hợp. Ở Đài Loan, chỉ 10% sau khi áp dụng tiêm chủng đại trà cho trẻ em, tỷ lệ bé sơ sinh nhiễm bệnh từ 10% đã giảm còn 1%. Đồng thời, tỷ lệ ung thư gan ở trẻ em trong cùng thời điểm giảm gần 50%.

Thiên vương Lưu Đức Hoa, một người mắc bệnh VGSV B, đã được Chính phủ Trung quốc mời sang Hoa lục để cổ suý cho việc chích ngừa VGSV B. Với hiệu quả như vậy, vắcxin ngừa VGSV B đã được mệnh danh là vắcxin ngừa ung thư đầu tiên của nhân loại.

Miễn dịch với bệnh kéo dài trong bao lâu?

Với phác đồ chuẩn 0, 1, 6 tháng, hiệu quả bảo vệ của vắcxin có thể kéo dài ít nhất 15 năm, thậm chí cả đời. Trừ một số trường hợp đặc biệt, không cần thiết phải theo dõi nồng độ kháng thể để chỉ định tiêm nhắc liều thứ tư. Lý do: cơ chế bảo vệ của vắcxin chủ yếu là qua hệ miễn dịch tế bào, vai trò kháng thể chỉ là thứ yếu. Do đó, tiêm nhắc liều thứ tư sau 5 năm là một tuỳ chọn, không phải bắt buộc để bảo đảm hiệu quả bảo vệ của vắcxin.

Chủng ngừa có an toàn không?

Có nhiều tranh luận đã nổ ra quanh độ an toàn của vắcxin ngừa bệnh VGSV B. Tuy nhiên, hệ thống thu thập dữ liệu về an toàn thuốc của Hoa Kỳ cho thấy: từ năm 1991 – 1998, có 18 trẻ em tuổi từ 0 đến 28 ngày tử vong sau khi tiêm vắcxin ngừa viêm gan B. Phân tích chi tiết nguyên nhân tử vong cho thấy có 12 trường hợp chết do đột tử (sudden infant death syndrome hay SIDS), ba trường hợp do nhiễm trùng, một trường hợp do xuất huyết não, còn lại không rõ nguyên nhân.

Trang thông tin chính thức của trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) khẳng định: “kể từ khi áp dụng vào năm 1982, đã có hơn 100 triệu lượt người được chích và hoàn toàn không ghi nhận được tác dụng phụ nghiêm trọng nào. Tác dụng phụ chủ yếu là đau chỗ tiêm chích” (http://www.cdc.gov/hepatitis/B/bFAQ.htm#bFAQ38)

Dựa vào những con số thống kê này, y học hoàn toàn không ghi nhận được trường hợp tử vong nào có liên quan trực tiếp, nhân quả với tiêm ngừa vắcxin VGSV B, nếu nó được bào chế đúng chuẩn, bảo quản đúng quy cách. Vắcxin này tiêm bắp thịt, nên nếu việc tiêm thuốc không đúng quy cách thì bất quá là không gây miễn dịch cho trẻ, không thể làm chết người được. Do đó, vắcxin ngừa VGSV B vẫn được tiếp tục sử dụng ở mức độ chương trình tiêm chủng toàn quốc ở hơn 150 quốc gia (bộ Y tế Mỹ từ năm 1991 đã áp dụng chương trình này cho toàn bộ trẻ sơ sinh).

Thông tin từ y văn và thế giới là vậy! Nhưng như nhiều chuyện đáng buồn khác, tình hình nước ta có những “đặc thù” riêng (?). Với tư cách một thầy thuốc và một người làm cha mẹ, tôi cũng đang chờ câu trả lời minh bạch, trung thực từ bộ Y tế.

Trong lúc chờ đợi, tôi vẫn khuyên bệnh nhân của mình đi chích ngừa VGSV B. Dĩ nhiên, với một loại vắcxin tin cậy (mặc dù chúng không có huy chương hay giải thưởng): Engerix-B (GSK), Recombivax HB (Merck) hay Twinrix (vắcxin phối hợp ngừa VGSV A và B, GSK). Xin đừng trách tôi “sính ngoại”: it nhất, tôi có quyền tin rằng bệnh nhân của mình sẽ không chết thảm, như nhiều em bé vô tội vừa qua.

BS LÊ ĐÌNH PHƯƠNG

SGTT

Ngừng toàn bộ việc tiêm phòng lô vắcxin viêm gan B ở Quảng Trị

Ngày 21.7, sau vụ ba trẻ sơ sinh tử vong ngay sau khi tiêm vắcxin phòng viêm gan B tại bệnh viện đa khoa huyện Hướng Hoá, Quảng Trị, Công an Quảng Trị đã vào cuộc tìm nguyên nhân cái chết. Trong khi đó, ông Trần Văn Thành, giám đốc sở Y tế tỉnh Quảng Trị cho biết, vắcxin tiêm cho ba trẻ sơ sinh nói trên sản xuất tại Việt Nam thuộc lô V-GB 020812E, nhằm phục vụ chương trình Tiêm chủng quốc gia, hoàn toàn miễn phí. Lô vắcxin được sản xuất năm 2012 và có hạn dùng đến năm 2015, do công ty Vắcxin sinh phẩm số 1 sản xuất. Bệnh viện đa khoa huyện Hướng Hoá vừa tiếp nhận lô vắcxin nói trên chiều 18.7.2013, từ trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Quảng Trị. Trước sự việc này, tỉnh Quảng Trị đã cho niêm phong toàn bộ vỏ vắcxin đã tiêm cho ba trẻ nói trên và niêm phong 29 lọ vắcxin còn lại để gửi cơ quan chức năng. Nói rõ hơn với báo giới, ông Nguyễn Xuân Tường, giám đốc trung tâm Y tế dự phòng Quảng Trị cho biết, lô vắcxin trên do viện Pasteur Nha Trang – bộ Y tế cung cấp.

Theo lãnh đạo sở Y tế Quảng Trị, ngày 21.7, bộ trưởng bộ Y tế Trần Thị Kim Tiến đã vào đến Quảng Trị. Theo bộ trưởng, nếu đội ngũ y, bác sĩ bệnh viện Hướng Hoá của kíp trực làm đúng quy trình thì bộ Y tế phải làm rõ trách nhiệm của đơn vị cung cấp số vắcxin và nguồn gốc lô vắcxin này. Ngược lại, nếu kíp trực tiêm vắcxin viêm gan B không thực hiện đúng theo quy trình thì phải bị xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật. Tỉnh Quảng Trị cũng đã giao cơ quan chức năng kiểm tra toàn bộ quy trình chuyên môn của đội ngũ y, bác sĩ trực để xem có sai sót gì không.

Ông Nguyễn Đức Chính, phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị cho biết, nhận định ban đầu từ phía các cơ quan chức năng địa phương qua việc khám nghiệm ban đầu, có thể ba trẻ tử vong do sốc phản vệ. Tuy nhiên, các cơ quan chức năng vẫn chưa thể khẳng định nguyên nhân cuối cùng. Hiện tỉnh Quảng Trị đã thông báo về toàn tuyến y tế cơ sở dừng việc tiêm chủng lô vắcxin nói trên.

Quốc Nam

Các tác nhân sinh học gây bệnh ung thư: Ngăn chặn cách gì?

4 loại virut liên quan đến cơ chế sinh bệnh ung thư

Virut Epstein – Barr: Loại ung thư này đầu tiên thấy có mặt ở bệnh ung thư hàm dưới của trẻ em vùng Uganda (loại bệnh này do Epstein và Barr phân lập nên virut này được mang tên virut Epstein – Barr). Về sau người ta còn phân lập được loại virut này ở trong các khối ung thư vòm mũi họng, bệnh có nhiều ở các nước ven Thái Bình Dương đặc biệt là ở Quảng Đông, Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Ở nhiều bệnh ung thư vòm còn thấy kháng thể chống lại kháng nguyên của virut Epstein – Barr. Tuy nhiên, người ta chưa khẳng định vai trò gây bệnh trực tiếp của virut Epstein – Barr đối với ung thư vòm mũi họng. Trong dân chúng tỷ lệ nhiễm loại virut này tương đối cao nhưng số trường hợp ung thư vòm không phải là nhiều. Hướng nghiên cứu về virut Epstein – Barr đang còn tiếp tục và đặc biệt ứng dụng phản ứng IgA kháng VCA để tìm người có nguy cơ cao nhằm chủ động phát hiện sớm ung thư vòm mũi họng.

Ngăn chặn cách gì? 1
 Hình ảnh virut Epstein – Barr gây ung thư vòm mũi họng.

Virut viêm gan B: Gây ung thư gan nguyên phát hay gặp ở châu Phi và châu Á trong đó có Việt Nam. Virut này khi thâm nhập cơ thể gây viêm gan cấp, kể cả nhiều trường hợp thoáng qua. Tiếp theo là một thời kỳ dài viêm gan mạn tiến triển không có triệu chứng. Tổn thương này qua một thời gian dài sẽ dẫn đến hai biến chứng đó là xơ gan toàn bộ và ung thư tế bào gan. Điều này phần nào giải thích sự xuất hiện nhiều ổ nhỏ trong ung thư gan và tính chất tái phát sớm sau cắt gan. Ngoài ra, xơ gan đã làm cho tiên lượng của bệnh ung thư gan xấu đi rất nhiều. Việc khẳng định virut viêm gan B gây ung thư gan giữ vai trò rất quan trọng. Nó mở ra một hướng phòng bệnh tốt bằng cách tiêm chủng chống viêm gan B. Phát hiện người mang virut bằng xét nghiệm HBsAg (+) và những người này nên dùng vaccin.

Virut gây u nhú thường truyền qua đường sinh dục: Loại này được coi là có liên quan đến các ung thư vùng âm hộ, âm đạo và cổ tử cung, các nghiên cứu đang tiếp tục.

Virut HTLV1 là loại virut (Retro virut) liên quan đến gây bệnh bạch cầu tế bào T gặp ở Nhật Bản và vùng Caribê.

Ký sinh trùng và vi khuẩn có liên quan đến ung thư

Khuyến cáo của thầy thuốcLoại trừ tác nhân sinh học liên quan đến ung thư bằng lối sống khoa học; vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường tốt.

Cần đến thầy thuốc khi đau ốm để được điều trị đúng, sớm và triệt để, loại trừ các yếu tố nguy cơ gây ung thư.

Chỉ một loại ký sinh trùng được coi là nguyên nhân gây ung thư, đó là sán Schistosoma. Loại sán này thường có mặt với ung thư bàng quang và một số ít ung thư niệu quản ở những người Ảrập vùng Trung Đông, kể cả người Ảrập di cư. Cơ chế sinh ung thư của loại sán này hiện chưa được giải thích rõ.

Loại vi khuẩn đang được đề cập đến vai trò gây viêm dạ dày mạn tính và ung thư dạ dày là vi khuẩn Helicobacter Pylori. Các nghiên cứu đang được tiếp tục nhằm mục đích hạ thấp tác hại Helicobacter Pylori và giảm tần số ung thư dạ dày, đặc biệt là ở các nước châu Á.

Dự án PCUTQG, Bệnh viện K TW – SKDS

Ung thư vú và thai nghén: Những điều cần biết

Tôi đang chuẩn bị điều trị ung thư vú thì lại phát hiện có thai, có nên giữ thai khi tôi đã 36 tuổi và đang mong có con đầu?  Đó là một trong số nhiều câu hỏi bạn đọc gửi về tòa soạn báo SK&ĐS. Để giúp bạn đọc có thêm thông tin, chúng tôi giới thiệu bài viết của BS. Hồng Ánh.

Ung thư vú khi đang có thai không quá hiếm nhưng ngày càng gặp nhiều hơn ở phụ nữ có tuổi mới mang thai và sinh đẻ. Về phương diện y học, các liệu pháp điều trị đã được chuẩn hóa nhưng chưa đủ các nghiên cứu và đánh giá về mặt cảm xúc đối với những trường hợp còn khá phức tạp này.

Ung thư vú và thai nghén:   Những điều cần biết  1

Chiến lược đặt ra với ung thư vú ở phụ nữ có thai phụ thuộc chủ yếu vào giai đoạn nào của thai nghén: 3 tháng đầu, 3 tháng giữa hay 3 tháng cuối?

Chữa ung thư vú khi mang thai như thế nào? Tỷ lệ chẩn đoán ung thư vú khi mang thai ở Pháp khoảng 200 – 300 trường hợp mỗi năm. Tuy nhiên, ngày nay tuổi phụ nữ sinh con lần đầu đã cao hơn và việc quản lý ung thư khi đang mang thai cũng đã có chất lượng hơn.

Thai nghén không làm khó cho việc điều trị, với ung thư vú, ngày nay tiên lượng không có gì khác giữa phụ nữ có thai và không có thai. Điều này liên quan đến biểu hiện ban đầu: đó là loại ung thư của phụ nữ trẻ, nói chung xâm lấn hơn và chẩn đoán thường hơi chậm vì không ở trong môi trường phát hiện mà trong lúc sinh đẻ. Việc điều trị do thầy thuốc chuyên khoa ung thư và thầy thuốc phụ khoa cùng xây dựng và dựa trên giai đoạn mang thai, thể ung thư và kích thước khối u. Rất nhiều khi phải chỉ định hóa liệu pháp nhưng không phải thực hiện giống nhau mà theo từng giai đoạn. Thầy thuốc phải chấp nhận liệu pháp này với điều kiện phải theo dõi sát thai nghén.

Nói một cách giản lược, điều trị ung thư vú ở 3 tháng đầu của thai nghén khác hẳn với 3 tháng giữa và 3 tháng cuối. Trong trường hợp phát hiện ung thư vú khi mới có thai thì vấn đề đình chỉ thai nghén được đặt ra. Việc này có thể trở nên cần thiết nếu như cần phải chỉ định khẩn cấp hóa liệu pháp, chỉ định này có thể làm cho phôi thai bị nhiễm độc vì đang ở giai đoạn tạo thành các cơ quan và tỷ lệ dị dạng bẩm sinh cao. Nếu người mẹ vẫn muốn giữ thai thì có 2 lựa chọn: 1) Chờ đến khi thai đã ở 3 tháng giữa (ngoài 12 tuần thai nghén) mới bắt đầu dùng hóa liệu pháp.  2) Tạm thời bằng lòng với can thiệp ngoại khoa và chờ khi đẻ xong thì bắt đầu điều trị bổ sung. Khi đã ở giai đoạn giữa của thai nghén (ít nhất đã 4 tháng) thì thầy thuốc có thể yên tâm hơn vì đã có thể chỉ định hóa liệu pháp truyền thống. Ở 3 tháng cuối cũng vậy. Điều đáng ngạc nhiên là phụ nữ mang thai bị ung thư vú dung nạp liệu pháp hormon tốt hơn nhiều, không bị nôn, trạng thái sức khỏe tổng thể vẫn ít thay đổi. Hóa liệu pháp nên ngừng trước khi sinh 2-3 tuần và sau khi sinh 2-3 tuần mới lại tiếp tục. Ngày nay, gần như không cần phải làm cho cuộc đẻ diễn ra sớm, chỉ cần thai nghén đã vượt qua tuần 37 hay 38 kể từ khi mất kinh.

Phát hiện ung thư vú khi có thai? Khối u vú thường có thể phát hiện trên lâm sàng. Ngay từ lần khám thai đầu tiên đã có thể phát hiện thấy một u nhỏ và được xác định bằng chẩn đoán hình ảnh và chọc thăm dò. Không có kỹ thuật phát hiện có giá trị nào ở hoàn cảnh này. Nên thực hiện khám vú có hệ thống ngay từ khởi đầu của thai nghén, nếu cần thiết thì thêm cả siêu âm chẩn đoán.

Ung thư vú và thai nghén:   Những điều cần biết  2

Kiểm tra, chẩn đoán ung thư vú

Thuốc điều trị ung thư vú có độc hại cho thai? Bao giờ cũng cần lo ngại về mọi thứ thuốc dùng trong khi đang mang thai, chưa có nghiên cứu nào về ảnh hưởng của hóa liệu pháp đến thai và trẻ sơ sinh. Vì vậy, các thầy thuốc đã sử dụng phương pháp hồi cứu để tiếp cận với những nguy cơ và lợi ích. Kết quả bước đầu cho thấy: Không có những vấn đề nghiêm trọng xét trong thời gian ngắn, chỉ có những tác dụng tạm thời đến tình trạng máu ở trẻ sơ sinh, chưa có nghiên cứu dài hạn ở những trẻ này và cần có nghiên cứu dài hơi hơn với những trẻ bị tác động của thuốc khi còn trong tử cung. Tất nhiên sẽ tốn kém, khó khăn nhưng khả thi. Hiện cũng chưa có nhiều thông tin về taxane như là hóa liệu pháp khi có thai và cơ chế tác dụng, chưa rõ thuốc có vô hại với thai không cho nên không dùng cho phụ nữ mang thai. Với nhiều liệu pháp khác cũng vậy (herceptin, dùng kháng thể). Số lượng bệnh nhân ít cũng gây khó khăn cho nghiên cứu.

Trạng thái tâm lý khi ung thư vú kết hợp với thai nghén: Lo lắng làm cho cuộc sống bản thân nhưng mong muốn đem lại cuộc sống cho con là sức mạnh lớn với người bệnh, có ý nghĩa như một sự nâng đỡ tâm lý. Người bệnh quan tâm đến sự phát triển của con hơn cả bệnh của mình. Đôi khi cần phải đình chỉ thai nghén vì lý do liên quan đến ung thư thì đó là một khó khăn lớn về mặt tâm lý với cặp vợ chồng. Ngược lại cũng có một số người bệnh không lựa chọn giữ thai trong khi chính thầy thuốc lại không thấy có vấn đề gì. Sau đẻ cũng là một thách thức vì mẹ phải tiếp tục điều trị nên không thể cho con bú và một số bà mẹ có cảm tưởng như đã tước đoạt tuổi thơ đầu tiên của con họ.

BS. Hồng Ánh – SKDS

Khát nước, thèm ngọt, stress: đã bị tiểu đường?

Các triệu chứng lâm sàng điển hình của đái tháo đường là khát nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sút cân, mệt mỏi, có dấu hiệu tê bì chân tay và giảm thị lực… Tuy nhiên, không hẳn có các triệu chứng trên là đã bị tiểu đường, và cũng không nên nhầm lẫn là không có các triệu chứng ấy có nghĩa không mắc bệnh.

Ảnh: Zily

Vì nếu không có các triệu chứng lâm sàng kể trên mà sau hai lần làm xét nghiệm, đường máu vẫn tăng trên 7mmol/l hoặc đường máu sau ăn hoặc đường máu được làm xét nghiệm bất kỳ trên 11,1mmol/l thì vẫn mắc bệnh đái tháo đường. Do đó, những người có yếu tố nguy cơ cao như béo phì, gia đình có tiền sử bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp, tuổi trên 40… cần được phát hiện bệnh sớm để can thiệp kịp thời.

Khát và uống nhiều nước (trên 4l/ngày) nằm trong hội chứng uống nhiều tiểu nhiều mà bệnh đái tháo đường chỉ là một trong nhiều nguyên nhân. Vì vậy, không thể dựa vào hai triệu chứng này để khẳng định bị bệnh đái tháo đường mà phải dựa vào nhiều triệu chứng và các xét nghiệm để chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt. Bởi khát và uống nhiều nước còn do tiêu chảy, đái tháo nhạt, bệnh tâm thần, lao động mất nhiều mồ hôi hoặc tổn thương thần kinh trong não gây rối loạn điều hoà nước trong cơ thể…

Ăn quá nhiều chất ngọt cũng không có nghĩa là mắc bệnh đái tháo đường, nếu ăn nhiều chất ngọt nhưng ăn hạn chế các chất bột đường (gạo, bột mì) và duy trì chế độ hoạt động tốt thì vẫn không bị mắc bệnh đái tháo đường, còn nếu ăn quá nhiều chất ngọt kết hợp ăn nhiều chất bột đường thì nguy cơ đái tháo đường rất cao.

Đến nay người ta chưa rõ mối liên quan giữa các stress và sự xuất hiện bệnh đái tháo đường. Tuy nhiên các stress ảnh hưởng trực tiếp lên người bệnh đái tháo đường thì đã được thừa nhận. Stress làm giảm khả năng tự theo dõi bệnh, làm người bệnh chán nản, ăn uống thất thường, thậm chí uống rượu để giải sầu… Những hành vi này không chỉ làm tình trạng kiểm soát đường huyết kém đi mà còn làm trầm trọng các biến chứng khác của bệnh.

TS.BS NGUYỄN VĂN TIẾN

(nguyên giám đốc bệnh viện Nội tiết Trung ương)

SGTT

Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng: khi nào nên mổ?

Thông tin trên các phương tiện truyền thông về những trường hợp gặp rủi ro liệt người do mổ điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, đã khiến nhiều bệnh nhân hoang mang. Đây là bệnh rất thường gặp và đáng quan tâm bởi không chỉ ảnh hưởng lên cá nhân người bệnh mà còn đến kinh tế gia đình và xã hội. Tuy nhiên, do bệnh nhân thiếu thông tin, do một số bác sĩ nhận diện không đúng bệnh lý, lạm dụng thái quá các kỹ thuật chẩn đoán… mà đã có nhiều trường hợp tiền mất tật mang.

Không cứ “thoát” là mổ

Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng mức độ nhẹ hầu hết được điều trị bằng phương pháp bảo tồn (dùng thuốc, nghỉ ngơi, tập vật lý trị liệu…) Chỉ với những trường hợp bệnh nặng, điều trị bảo tồn thất bại mới cần xem xét khả năng điều trị bằng phẫu thuật. Phẫu thuật là phương pháp mà mọi bệnh nhân đều muốn tránh vì lo sợ biến chứng. Cũng chẳng ai muốn động dao động kéo và chịu một vết sẹo trên vùng cột sống, thắt lưng. Nhưng nếu so sánh các nguy cơ với lợi ích, một ca vi phẫu hay nội soi kéo dài không hơn 60 phút vẫn là lựa chọn tốt nhất trong điều trị thoát vị đĩa đệm nặng. Trong các trường hợp khối u chèn ép rễ thần kinh và tuỷ sống thì phẫu thuật loại bỏ chúng là phương pháp duy nhất cần thiết và hiệu quả (nhưng cũng tuỳ thuộc khối u lành tính hay ác tính).

Không phải bất cứ thoát vị đĩa đệm nào tại vùng thắt lưng đều bắt buộc điều trị mổ. Nếu bác sĩ chỉ định đúng, thường mang lại kết quả cao và thoả mãn được mong đợi của người bệnh. Ngược lại, sẽ dẫn đến hiệu quả điều trị thấp, nhiều biến chứng, liệt người, thậm chí tử vong. Hiện có hai phương pháp được coi là chính thống trong điều trị thoát vị đĩa đệm được thực hiện hàng ngày tại nhiều bệnh viện lớn, là mổ vi phẫu và mổ nội soi. Hai phương pháp này là phẫu thuật xâm lấn tối thiểu, phổ biến nhất trên thế giới hiện nay.

Thực tế không phải bệnh nhân nào cũng có thể được bác sĩ chỉ định mổ. Khi gặp bệnh nhân quá yếu, tuổi cao, có bệnh toàn thân như tim mạch, tiểu đường nặng, hoặc thoái hoá cột sống quá nặng thì không thể điều trị bằng phẫu thuật được vì rất dễ gặp biến chứng khi gây mê và trong quá trình mổ.

Nhưng có lúc chỉ mổ mới thoát

Điều này còn tuỳ thuộc chỉ định của bác sĩ là đúng hay không. Hiện nay, loại thoát vị đĩa đệm mà việc chỉ định mổ đem lại kết quả cao nhất là thoát vị lồi rất lớn chèn ép trực tiếp rễ thần kinh, hoặc vỡ vào lỗ thần kinh, đôi khi khối thoát vị chui vào trong ống sống chèn ép chùm đuôi ngựa ảnh hưởng nhiều đến cảm giác và vận động. Đối với những trường hợp này, khả năng hồi phục chức năng của thần kinh và cột sống đến 80 – 90%. Những thoát vị nhẹ hoặc chưa chèn ép rễ thần kinh hoặc chèn ép không nhiều, nếu đặt chỉ định phẫu thuật giai đoạn này thì hiệu quả hầu như không đáng kể. Chỉ định mổ bao giờ cũng phải dựa vào hai tiêu chuẩn chính là triệu chứng lâm sàng và kết quả chụp cộng hưởng từ (MRI) cột sống ngực và thắt lưng.

Đôi lúc, chính người thầy thuốc cũng rất phân vân giữa chỉ định mổ hay điều trị bằng thuốc và vật lý trị liệu. Như khối thoát vị còn nhỏ, chưa gây đau đớn nhiều nên chưa đáng để phẫu thuật, hoặc khối thoát vị lớn trên MRI nhưng không ảnh hưởng nhiều trên lâm sàng, thì có nên mổ hay không? Những trường hợp này cần đến sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa để chọn lựa biện pháp tối ưu. Thật ra, điều trị nội khoa không thể làm khối thoát vị biến mất hay đưa đĩa đệm trở lại vị trí cũ. Cái ranh giới mong manh này nhiều khi làm bệnh nhân có tâm lý đang phải chờ khối thoát vị lồi nhiều hơn để mổ một lần cho có kết quả tốt, nên tư vấn của bác sĩ chuyên khoa là vô cùng cần thiết.

PGS.TS.BS VÕ VĂN NHO

(Chủ tịch hội Phẫu thuật thần kinh Việt Nam. giám đốc bệnh viện chuyên khoa Ngoại thần kinh quốc tế).

SGTT

Nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm thường do lao động nặng, hoặc nhấc một vật nặng sai tư thế. Thậm chí, cũng hay xảy ra ở những người làm việc văn phòng do ngồi lâu, đĩa đệm chịu áp lực cột sống gây thoát vị mặc dù tuổi đời chưa cao.

10 đồ vật thông dụng bẩn “vô đối”

10 đồ vật thông dụng bẩn “vô đối”

Để an toàn, hàng ngày bạn vẫn rửa tay bằng xà phòng diệt khuẩn, tránh xa thức ăn chế biến sẵn và những nơi bẩn thỉu. Tuy nhiên, bất chấp những nỗ lực đó, bạn vẫn bị bủa vây bởi những đồ vật bẩn “vô đối” mà bạn phải đụng chạm hàng ngày.

10 đồ vật thông dụng bẩn “vô đối” 1
Bàn phím máy tính – ổ chứa vi trùng.

1. Bệ toilet

Vâng, chính là cái “vòng tròn” mà bạn bắt đầu buổi sáng mỗi ngày. Mặc dù bạn có cọ rửa toilet hai lần mỗi tuần, thì vẫn có thể tìm thấy hàng trăm loại vi khuẩn trên mỗi cm của bệ ngồi toilet!

2. Công tắc đèn

Công tắc đèn là một trong những thứ được sử dụng nhiều nhất ở nhà cũng như ở nơi công cộng. Trông chúng có vẻ rất sạch sẽ và vô hại nhưng đây lại là một trong những đồ vật bẩn nhất mà da bạn phải tiếp xúc hàng ngày.

3. Tiền

Ai cũng yêu chúng, những tờ giấy bạc và những đồng xu lấp lánh! Trước khi tới tay bạn, chúng đã được chuyển qua tay rất nhiều người, từ thủ quỹ tới nhân viên văn phòng, từ những kẻ lang thang trên phố tới người mẹ vừa mới sinh con. Không ai biết được tờ tiền trong tay bạn đã đến từ đâu. Một nghiên cứu ở Mỹ đã phát hiện thấy 135.000 vi khuẩn khi rửa một tờ tiền.

4. Bàn phím máy tính

Giờ đây rất khó tìm được người nào không bao giờ sử dụng máy tính. Hầu như tất cả chúng ta đều dành nhiều thời gian trên máy. Tuy nhiên, chúng ta thường quên vệ sinh bàn phím, vốn là nới chứa đầy vi khuẩn và mầm bệnh. Một số nghiên cứu thậm chí còn tuyên bố rằng những bàn phím rất bẩn có thể chứa nhiều mầm bệnh hơn cả bồn cầu! Vì thế lần tới khi bạn ngồi trước máy tính hãy đảm bảo rằng bàn phím đã được vệ sinh sạch sẽ.

5. Bồn rửa trong bếp

Với phần đông các bà nội trợ, điều này thật khó chấp nhận vì họ mất rất nhiều thời gian cho việc cọ rửa bồn rửa bát. Tuy nhiên, rất dễ lý giải thực tế này vì bồn rửa bát hầu như luôn ẩm ướt và bạn rửa nào bát đĩa, thịt thà, rau quả và v.v…ở đó, khiến nó trở thành nơi sản sinh mầm bệnh. Đó là lý do tại sao bồn rửa bát lại cần được làm sạch hằng ngày.

6. Miếng mút rửa bát

Điều này không có gì là bất ngờ nếu xét theo thực tế công việc cọ rửa khá bẩn mà món đồ này phải đảm nhiệm. Miếng mút rửa bát hầu như luôn ướt và nước chứa đầy những lỗ nhỏ li ti rất khó làm sạch. Hãy hình dung những mầm bệnh đang thoải mái “bơi lội” trộng đó. Một cách tốt để đối phó là cho miếng mút rửa bát vào đun nóng trong lò vi sóng trong 60 giây!

7. Điện thoại di động

Hãy nghĩ xem bạn thân thiết với chú “dế” của bạn thế nào, bạn mang nó theo bên mình, khoe khoang nó, má ấp tai kề với nó hàng giờ liền! Các nghiên cứu tiến hành ở Anh đã cho thấy điện thoại di động là những “kẻ thù thời đại mới” đối với người sử dụng. Hơi ấm mà nó tỏa ra và sự ẩm ướt từ cơ thể bạn thu hút hàng nghìn mầm bệnh được hình thành trên dế yêu.

8. Bồn tắm

Mặc dù toilet và sàn nhà tắm được làm sạch thường xuyên, song bồn tắm lại ít khi được cọ rửa như vậy. Chất bẩn và mầm bệnh ở bồn tắm thường không được phát hiện cho đến khi trong nhà có người bị ốm vì nhiễm trùng đường tiết niệu.

9. Điều khiển TV

Bạn vừa nấu ăn vừa chọn kênh TV, con bạn vừa chơi ở sân về là vớ ngay cái điều khiển, còn ông xã bạn thì hầu như chỉ chú ý tới nó mỗi khi về đến nhà. Hãy ngẫm mà xem, cái điều khiển TV là thứ thu thập đủ loại mầm bệnh từ đủ mọi nơi và đủ mọi người. còn chần chừ gì nữa, hãy bổ sung ngay đồ vật này vào danh sách cần vệ sinh hằng ngày!

10. Xe đẩy mua hàng

Chúng tôi không muốn làm bạn cụt hứng trước chuyến shopping vui vẻ, nhưng do mồ hôi và phải tiếp xúc liên tục với nhiều người, nên tay cầm của xe đẩy mua hàng trong siêu thị chứa đầy mầm bệnh và vi khuẩn.

Theo Dân trí/ MFW

Trứng ung: đồ bỏ mà tưởng Viagra!

Trứng ung: đồ bỏ mà tưởng Viagra!

Thông tin trên báo chí nước ngoài cho biết một nhóm nhà khoa học ở Trung Quốc vừa công bố kết quả nghiên cứu khí Hydro sulfua (H2S) trong trứng ung giúp cương dương, làm chậm quá trình lão hoá, ngăn chặn các phản ứng gây tổn hại bên trong tế bào… đã tạo nên “trào lưu” ăn trứng ung ở TP.HCM và một số tỉnh phía Bắc. Rất nhiều quán nhậu và cơ sở bán trứng đã đưa vào bán mặt hàng trứng ung, với nhu cầu đang tăng cao.

Trứng gia cầm chỉ bổ dưỡng khi là trứng tươi 5 – 7 ngày. Ảnh: Vi Thoại

Nghiên cứu chưa chính thống

Theo các nhà nghiên cứu Trung Quốc, khí H2S có tác dụng chống lại các gốc tự do gây hại cho tế bào, đồng thời khuyến khích cơ thể sản xuất một loại enzyme điều chỉnh tuổi thọ và tương tác với một gien giúp tạo ra hợp chất chống lão hoá. Mặt khác, khi đàn ông bị kích thích, các tế bào thần kinh trong não giải phóng một lượng nhỏ khí H2S, khiến cho các mạch máu chùng xuống và được bơm đầy máu. Đây là quá trình kiểm soát và duy trì trạng thái cương cứng của dương vật. Do đó, bổ sung khí H2S từ nguồn thực phẩm hay dược phẩm sẽ giúp tăng khả năng cương ở đàn ông.

Nhưng theo PGS.TS Trần Đáng, chủ tịch hiệp hội Thực phẩm chức năng Việt Nam, nguyên cục trưởng cục An toàn vệ sinh thực phẩm (bộ Y tế) thì thông tin trên chỉ mới dừng lại ở phạm vi nghiên cứu cá nhân. Hàng ngày thế giới có rất nhiều những công bố như thế. Để những công bố đó thành thông tin khoa học chính thống, phải có thêm những nghiên cứu khác và được thế giới công nhận. “Cho đến thời điểm này, chưa có nghiên cứu chính thống nào chứng minh tác dụng của trứng ung tương đương Viagra hay chống lão hoá. Tôi đọc các tài liệu y văn thế giới cũng chưa thấy công trình nghiên cứu khoa học nào đề cập đến những thông tin này”, PGS Đáng cho biết.

TS Ngô Quốc Anh, phó viện trưởng viện Hoá học thuộc viện hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam cho biết, trứng ung sinh ra khí H2S nhưng khi đập vỡ vỏ trứng, khí này sẽ thoát ra ngoài, có ăn thì cũng chỉ ăn được phần trứng hư còn lại. “H2S có mùi rất khó chịu, gây ức chế hô hấp, chóng mặt, chảy nước mắt… Theo tôi, ăn trứng ung có hại nhiều hơn lợi. Người dân không nên tin vào những thông tin thiếu cơ sở khoa học để sử dụng thực phẩm không an toàn”, TS Anh lưu ý.

Đã không bổ lại có thể bị ngộ độc

TS.DS Đào Đại Cường, giảng viên khoa dược đại học Y dược TP.HCM cho biết người ta đã phát hiện trong trứng ung có nhiều chất độc nên cấm dùng. Trên thế giới cũng đã có nhiều bộ test để kiểm tra trứng ung trong thực phẩm: thí dụ bánh và sản phẩm có trứng ung nếu bị phát hiện thì nhà chức trách sẽ phạt nặng. DS Cường lưu ý: “Sở dĩ một số người ăn trứng ung nhiều năm mà không bị ngộ độc bởi cơ thể họ đã thích nghi với loại thực phẩm này. Phải tích luỹ đến một mức độ, một thời gian nào đó, độc chất mới phát tác. Công nhân làm trong ngành chế tạo bình ắcquy hay ngành dệt chẳng hạn, có người sau 20 năm mới bị ngộ độc chì hoặc xơ hoá nhu mô phổi do hít phải sợi bông vải…”

Theo PGS Đáng, vì trứng ung là loại trứng đã hư, tất cả công dụng, giá trị dinh dưỡng của một quả trứng bình thường sẽ không còn, nên người ăn trứng ung có thể bị ngộ độc thực phẩm. PGS Đáng giải thích, trứng cho vào lò ấp hoặc gia cầm ấp nhưng không nở thành con do không được thụ tinh, hoặc bị hư bởi ảnh hưởng của nhiệt độ, môi trường… thì protein trong lòng đỏ đã biến chất, có độc vì lưu huỳnh trong trứng biến thành khí H2S… Ngoài ra, khi vỏ trứng không còn tác dụng bảo vệ, vi khuẩn dễ dàng xâm nhập bên trong trứng, bao gồm cả các ký sinh trùng và vi khuẩn thương hàn. Những độc tố này gây trướng bụng, đau bụng, khó tiêu hoặc nôn mửa, tiêu chảy… cho người ăn, ngộ độc nặng có thể tử vong. Do vậy, PGS Đáng nhấn mạnh: “Không nên nghe lời đồn thổi về tác dụng nọ, tác dụng kia trong thực phẩm mà sử dụng thực phẩm mất an toàn. Không chỉ trứng ung mà bất kỳ loại thực phẩm nào đã bị hư, biến chất cũng không nên sử dụng, bởi dễ gây ngộ độc, thậm chí rước bệnh vào người”.

CẨM VÂN – THOẠI VI – SGTT