Tag Archives: y đức

Y đức, trách nhiệm, an toàn cho bệnh nhân trong sản phụ khoa (Tài liệu dịch)

Y đức, trách nhiệm, an toàn cho bệnh nhân trong sản phụ khoa

Vấn đề y đức và luật pháp trong sản phụ khoa

Sinh viên nên có cách đánh giá về tầm quan trọng có tính luật pháp của giấy cam đoan và sự đồng ý của bệnh nhân.

Sinh viên nên định nghĩa được những nguyên tắc y đức cơ bản và áp dụng chúng cho những khó khăn trong lâm sàng khi thực hành sản phụ khoa.

Họ nên hiểu vai trò của bác sĩ sản phụ khoa như là những người giúp cải thiện sức khỏe người bệnh.

Trường hợp lâm sàng

Một cô luật sư 27 tuổi được chuyển đến bạn từ bác sĩ gia đình của cô ta. Người này đã cung cấp kế hoạch chăm sóc của khoa tổng quát bao gồm biện pháp ngừa thai từ lúc dậy thì. Cho đến thời gian gần đây, chăm sóc sức khỏe cho cô ta không có gì bàn cãi, nhưng trong 18 tháng qua, cô ta đi khám 5 lần, than phiền về huyết trắng có mùi hôi. Lần khám đầu tiên, Tricomonas vaginalis được chuẩn đoán và điều trị; kết quả âm tính cho những xét nghiệm khác về bệnh lan truyền qua đường tình dục. Bác sĩ gia đình tham vấn của bạn ghi nhận rằng: nói chuyện với cô ta về tiền sử hoạt động tình dục và tình dục an toàn được cô ta trả lời bằng thái độ rất kín đáo, anh ta nhận thấy hơi mất tính hợp tác khi khám bệnh. Cũng ghi nhận rằng cô ta mong ước không bàn luận thêm về chủ đề này. 4 lần khám kế tiếp đến cô ta đến bác sĩ gia đình với lời than phiền là dịch âm đạo ngày càng hôi nhiều hơn, bác sĩ cũng không có chẩn đoán lâm sàng nào. Người bệnh này ngày càng trở nên chán nản và yêu cầu 1 buổi tư vấn với 1 chuyên gia để có thể tìm thấy nhiễm trùng gây ra huyết trắng. Khi đi khám bệnh, có mặt bạn cùng với người chuyên gia, người bệnh nhân khăng khăng rằng có 1 vấn đề quan trọng mà cô ta mong muốn bạn giải quyết. Khác với những cuộc nói chuyện chi tiết và khá cụ thể về huyết trắng, cô ta thể hiện một cách mơ hồ và lẫn lộn, không hợp tác về tiền sử xã hội ngoại trừ cô ta đã xin phép nghĩ làm việc ở tòa án vì lí do không cụ thể. Cô ta bảo rằng, bạn nên dành thời gian điều trị huyết trắng hơn là hỏi chuyện không liên quan, vô ích.

Bệnh nhân và thầy thuốc của họ thỉnh thoảng nhận thấy rằng họ cũng đối diện với những khó khăn để chọn lựa và thực thi 1 quyết định xử trí lâm sàng, thậm chí khi có đủ thông tin từ việc khám bệnh để cung cấp 1 hoặc hơn 1 kế hoạch xử trí hợp lý. Khó khăn này có thể bao gồm vấn đề về y đức, đạo đức, kinh tế, tôn giáo cho bệnh nhân, gia đình bệnh nhân, thầy thuốc. Vấn đề có thể xuất phát từ những xung đột giữa luật pháp và chọn lựa, quyết định xử trí. Không may, áp lực mà thầy thuốc cảm nhận và hệ thống y tế đương đầu vì mối quan tâm về trách nhiệm trong khám chữa bệnh thường gây ra nhiều khó khăn hơn nữa. Trong 1 số trường hợp, khó khăn này có thể bao gồm vấn đề bỏ sót hoặc thực thi khám chữa bệnh, về sự an toàn cho bệnh nhân. Trong chương này, chúng tôi khảo sát 3 lĩnh vực này (y đức, trách nhiệm trong khám chữa bệnh và an toàn cho bệnh nhân) với mục đích giúp bệnh nhân, thầy thuốc, những người khác có liên quan trong những khó khăn này để đi đến chọn lựa xử trí tốt nhất.

Y đức

Thầy thuốc thường đương đầu khó khăn có tính y đức trong quá trình đưa ra quyết định lâm sàng (xử trí lâm sàng). Xử dụng chuẩn y đức được tổ chức trong những tình huống này rất có giá trị, đảm bảo rằng việc đánh giá tình huống và tạo quyết định có thể được tiến hành theo 1 bước có hệ thống, hơn là dựa vào cảm xúc, thiên vị cá nhân, áp lực xã hội của thầy thuốc. Một số hệ thống y đức có thể được ứng dụng ví dụ như bảng 3.1. Một trong những hệ thống này được ứng dụng nhiều nhất là y đức dựa vào nguyên tắc bởi vì tính đơn giản của nó, áp dụng dễ dàng vì cách viết dễ hiểu. Bảng 3.2 cho thấy 4 qui tắc về y đức dựa vào nguyên tắc có thể được áp dụng như thế nào.

Bảng 3.1: Cách tiếp cận hiện thời đối với tạo quyết định y đức

Cách tiếp cận Mô tả

Y đức dựa vào nguyên tắc Cách tiếp cận hệ thống dựa vào 4 nguyên tắc: Độc lập, có lợi, vô hại, công bằng
Y đức về chăm sóc Quyết định tốt từ những đặc điểm về nhân cách thầy thuốc như là đồng cảm, lòng trắc ẩn, tính trung thực, tình yêu, tình bè bạn cố hữu trong mối quan hệ giữa những cá nhân.
Y đức về nữ quyền Chăm sóc dựa vào tính công bằng khi chăm sóc cho nam và nữ, phụ nữ phải được điều trị và chăm sóc tương đương nam giới.
Y đức về cái chung Chăm sóc dựa vào những giá trị chung, mục tiêu chung, các ý tưởng của cả cộng đồng hơn là từng cá nhân.
Y đức dựa vào trường hợp cụ thể Chăm sóc dựa vào những trường hợp người bệnh trước đó và kiến thức khoa học thu được từ thực tế, cần nhớ rằng kiến thức có thể thay đổi bằng những thông tin mới.
Y đức dựa vào nhân cách Chăm sóc dựa vào nhân cách thầy thuốc được thực hiện dễ dàng nhờ vào một số đặc điểm của nhân cách như: bảo đảm tính công bằng, tin cậy, tính khí, sự thống nhất, dũng cảm, khiêm tốn, lòng trắc ẩn.

Bảng 3.2: Cách tiếp cận y đức dựa vào nguyên tắc để tạo quyết định lâm sàng.

Nguyên tắc y đức Mối quan tâm về y đức
Lợi ích
Trách nhiệm để tạo lợi ích cho bệnh nhân
Tính độc lập
Tôn trọng khả năng tự quyết định của bệnh nhân
Tránh gây hại cho bệnh nhân
Trách nhiệm: không tạo ra nguy hại hoặc tổn thương cho bệnh nhân
Công bằng
Đảm bảo cho bệnh nhân có những gì cần phải có
Chẩn đoán và điều trị dựa theo chứng cớ

Biết những gì bệnh nhân muốn

Tác động của điều trị lên cuộc sống của người bệnh

Sở thích của bệnh nhân, nhu cầu của xã hội, rào cản đối với điều tri do luật pháp chỉ định

Y đức dựa vào nguyên tắc

Xử trí lâm sàng dựa vào nguyên tắc, xem xét có hệ thống trường hợp lâm sàng dùng 4 nguyên tắc y đức. Tuy nhiên, Đoàn sản phụ khoa tin rằng, y đức dựa vào nguyên tắc không nên chi phối những phương pháp khác được mô tả trong bảng 3.2 và sử dụng nó đơn độc thì không đủ.

1/ Kính trọng tính tự chủ của bệnh nhân cho biết rằng: quyền cơ bản của 1 cá nhân để giữ quan điểm, chọn lựa, hành động dựa trên niềm tin của người ta, hoặc dựa trên giá trị độc lập với các giá trị, niềm tin từ thầy thuốc, hệ thống y tế, xã hội cũng nhưng không bị ảnh hưởng từ những chi phối kiểm soát bên ngoài và từ những hiểu biết hạn chế. Tôn trọng tính tự chủ tạo ra cơ sở đạo đức vững chắc trong quá trình viết cam đoan trong đó bệnh nhân, được cung cấp đầy đủ thông tin về bệnh tật của cô ta và phương pháp điều trị hiện có, tự do chọn lựa điều trị cụ thể hoặc không cần điều trị. Cố gắng áp đảo quyền tự do của bệnh nhân để thúc đẩy những gì mà thầy thuốc đã cảm nhận được xem là vấn đề mà người bệnh quan tâm nhất, người bệnh gọi là thầy thuốc gia trưởng, do đó vi phạm nguyên tắc độc lập của bệnh nhân. Độc lập không loại thầy thuốc ra khỏi việc khuyến cáo phương pháp điều trị dựa vào y học chứng cớ, dựa vào kinh nghiệm và đánh giá của thầy thuốc, song song với việc hiểu biết 1 cách rõ ràng rằng, thầy thuốc không mong chờ hoặc đòi hỏi bệnh nhân nghe theo khuyến cáo. Thay vào đó, điều này có thể được xem như là một yếu tố, là một phần của quá trình tạo quyết định của bệnh nhân.

2/ Lợi ích cho người bệnh là trách nhiệm để tăng cường sức khỏe bằng cách giúp người bệnh thực hiện quyết định chọn lựa xử trí bằng phẫu thuật hoặc nội khoa tốt nhất, theo nghĩa đen nghĩa là làm tốt. Đó là trách nhiệm của thầy thuốc luôn luôn hành động theo lợi ích của bệnh nhân. Trong việc cân bằng lợi ích với tính tự chủ của bệnh nhân, thầy thuốc nên xác định mối bận tâm nhất của người bệnh một cách khách quan.

3/ Không gây hại cho người bệnh xuất hiện từ quan điểm có lợi cho người bệnh, áp đặt trách nhiệm thầy thuốc không gây hại, gây ra hoặc cho phép tổn thương xảy ra cho bệnh nhân. Tôn chỉ được biết nhiều nhất (đầu tiên không làm hại) xuất phát từ nguyên tắc y đức này. Điều này cũng bao hàm trách nhiệm của thầy thuốc để duy trì khả năng khám chữa bệnh thông qua học tập, áp dụng, tăng cường kiến thức y học, kỹ năng cũng như nhấn mạnh và cải tạo bất cứ hành vi nào làm suy giảm khả năng của thầy thuốc trong thực hành, chẳng hạn như lạm dụng một thuốc nào đó. Hơn nữa, thầy thuốc nên tránh bất cứ phân biệt trên cơ sở về chủng tộc, màu da, tôn giáo, nguồn gốc của quốc gia, quan điểm chính trị, tình trạng tài chính hoặc bất cứ yếu tố nào khác, cũng như tránh bất cứ xung đột quyền lợi. Áp dụng nguyên tắc này bao gồm cân bằng giữa lợi ích và tác hại, cả hai tác hại do cố ý và tác hại có thể được tiên đoán có thể xảy ra mặc dù có ý tốt (ví dụ tác dụng phụ không mong muốn của thuốc hoặc là biến chứng của phẫu thuật).

4/ Công bằng là trách nhiệm của thầy thuốc để đáp lại bệnh nhân về cái gì mà họ phải có. Đây là phần phức tạp nhất của nguyên tắc y đức, một phần bởi vì vai trò của thầy thuốc trong việc phân bố nguồn nhân lực y tế hạn chế. Công bằng là trách nhiệm thầy thuốc phải đối xử mọi người 1 cách công bằng dù họ có khác hoặc giống theo tiêu chuẩn được chọn lựa nào đó. Mọi bệnh nhân nên được điều trị công bằng, trừ khi bằng chứng khoa học và lâm sàng chỉ ra bệnh nhân nào phù hợp với phương pháp điều trị cần quan tâm.
Các bước quản lý y đức trong lâm sàng

Dùng cách tiếp cận hệ thống theo trình tự đối với trường hợp lâm sàng khó khăn, dựa theo cơ sở y đức đã được chứng minh vững chắc có lợi cho bệnh nhân, cho gia đình họ, cho thầy thuốc, hệ thống y tế (bao gồm bệnh viện), xã hội. Một ví dụ về áp dụng này được tìm thấy trong Box 3.1

Nghiên cứu 1 trường hợp lâm sàng: 5 cách tiếp cận

Mặc dù một số cách tiếp cận về quyết định y đức, tất cả đều có 1 câu trả lời giống nhau, trong tình huống cần đưa ra quyết định, chúng tập trung vào những khía cạch khác nhau mặc dù có liên quan của một tình huống và một quyết định. Chẳng hạn như khi xem xét xem chúng nhấn mạnh đến khía cạnh can thiệp để bào thai có sức khỏe tốt như thế nào nếu bà mẹ không đồng ý với khuyến cáo trong khám chữa bệnh hoặc tham gia vào hoạt động có thể gây nguy hiểm cho bào thai.

Cách tiếp cận dựa theo nguyên tắc giúp tìm kiếm, xác định nguyên tắc và quy luật phù hợp cho từng trường hợp lâm sàng. Có thể bao gồm lợi ích- nguy hại cho cả hai, sản phụ và bào thai, công bằng cho 2 phía, tôn trọng quyết định tự chủ của sản phụ. Nguyên tắc này không nên áp dụng 1 cách máy móc. Nói chung, có thể mọi người không rõ sản phụ có quyết định độc lập hay không, và có thể có tranh cãi về sự cân bằng giữa lợi ích và nguy cơ từ can thiệp cho tất cả những người đánh cược cũng như nguyên tắc nào nên được ưu tiên trong trường hợp khó khăn này. Luật hành nghề và những lời dẫn giải có thể giúp hướng dẫn cách để giải quyết khó khăn này.
Cách tiếp cận y đức dựa vào phẩm giá tập trung vào quá trình hành động đối với phẩm giá nào sẽ quyết định bác sĩ sản phụ khoa. Chương trình hành động nào có thể đưa ra từ sự cảm thông? từ phương diện tôn trọng? và hơn nữa. Ngoài ra bác sĩ sản phụ khoa có thể nhận thấy nó rất hữu ích khi họ hỏi nhiều hơn nữa: Chương trình hành động nào có thể biểu đạt tốt nhất nhân cách của 1 thầy thuốc có y đức?

Y đức về khám chữa bệnh nên tập trung vào việc thực thi giá trị khám chữa bệnh trong mối quan hệ đặc biệt giữa sản phụ, bác sĩ sản phụ khoa và với thai nhi. Khi suy nghĩ cân nhắc, ai sử dụng cách tiếp cận này sẽ đối kháng lại quan điểm “nhìn nhận mối quan hệ với sản phụ và thai nhi có tính thù địch”, chấp nhận rằng hầu hết thời gian người phụ nữ dành cho bào thai có tính kiểu mẫu, mối quan tâm của bà mẹ và thai nhi là đồng điệu. Tuy nhiên nếu xung đột thật sự tồn tại, bác sĩ sản phụ khoa nên chống lại cảm nghĩ thiên vị bên này hoặc bên kia. Thay vào đó anh ta hoặc cô ta nên tìm giải pháp xác định và cân bằng trách nhiệm trong mối quan hệ đặc biệt này, xác định mục tiêu này trong bối cảnh của giá trị của sản phụ và mối quan tâm của họ, thay vì cụ thể hóa và cân bằng những nguyên tắc và những quyền có tính mơ hồ.

Lấy 1 ví dụ khi xem xét 1 trường hợp 1 sản phụ bị sinh non và từ chối nhập viện để nghỉ ngơi tuyệt đối hoặc dùng thuốc giảm co thắt tử cung, Harris kết hợp quan điểm chăm sóc người bệnh với quan điểm về nữ quyền để đưa ra một cái nhìn bao quát hơn là cách tiếp cận dựa trên nguyên tắc có thể sau đây:

Thầy thuốc nên tập trung chú ý của họ về mối quan hệ gia đình và xã hội chủ yếu, bối cảnh và ràng buộc có thể gây áp lực lên quyết định chọn lựa của sản phụ, chẳng hạn như nhu cầu chăm sóc những con tại nhà hoặc tiếp tục đi làm để hỗ trợ những thành viên khác trong gia đình; bất cứ kế hoạch trong đời chiếm hết thời gian, và nỗ lực để tìm giải pháp cho những ràng buộc, sức khỏe bào thai tốt khi sản phụ có sức khỏe tốt.

Như ví dụ đề cập, cách tiếp cận y đức cho nữ giới nên để tâm đến những vấn đề xã hội và những rào cản kiểm soát chọn lựa của sản phụ, quyết định cho những tình huống này, và tìm giải pháp để thay đổi bất cứ những gì có thể thay đổi được. Cũng nên xem xét về sự dính líu của bất cứ can thiệp nào khác có thể có kiểm soát hơn nữa lên chọn lựa và quyết định của sản phụ, chẳng hạn, bằng cách hạ thấp giá trị của sản phụ, với cái nhìn tiêu cực, xem sản phụ là 1 cái máy đẻ hoặc là lồng ấp con.

Cuối cùng cách tiếp cận dựa theo trường hợp lâm sàng, nên xem xét có bất cứ những trường hợp giống nhau tương đối góp phần tiên đoán cho trường hợp hiện tại. Chẳng hạn, bác sĩ sản phụ khoa có thể phân vân để tìm kiếm về y lệnh có tính luật pháp để chỉ định mổ lấy thai mà ông ta/ cô ta tin rằng sẽ tăng cơ hội sống sót cho đứa trẻ tương lai nhưng sản phụ tiếp tục từ chối. Trong việc xem xét cái gì cần làm, thầy thuốc có thể hỏi, như là 1 số tòa án đã hỏi, có 1 tiền lệ có lợi hay không trong việc thiết lập sự đồng thuận mà không màn đến người không chấp nhận phẫu thuật để đem lại lợi ích cho bên thứ 3, chẳng hạn như là lấy tạng để ghép.

Có 6 bước trong quá trình đưa ra quyết định

1/ Xác định người đưa ra quyết định.

Bước đầu tiên trong việc xử trí lâm sàng để trả lời câu hỏi: quyết định này là của ai? bệnh nhân được ám chỉ là người có khả năng để chọn trong số những giải pháp xử trí được chấp nhận trong y học dựa theo chứng cứ hoặc từ chối điều trị. Khả năng của bệnh nhân tùy thuộc vào hiểu biết của họ với thông tin hoặc chấp nhận hàm ý những thông tin này được trình bày và/ hoặc có thể thay đổi theo từng người.

Khả năng không nên nhầm với quyền thực thi khả năng. Quyền thực thi khả năng là một quyết định pháp lý hạn hẹp được tiến hành bởi nhân viên y tế với kiến thức uyên thâm trong quyết định của họ (bác sĩ tâm lý, bác sĩ tâm thần, những người khác), bởi luật sư, chánh án. Hiểu biết sự khác biệt giữa khả năng và khả năng tạo quyết định của bệnh nhân là quan trong trong những tình huống đưa ra quyết định lâm sàng khó khăn, nhiều cảm xúc. Nếu bệnh nhân được quyết định là không có khả năng về mặt pháp lý, hoặc nếu thầy thuốc tin rằng bệnh nhân không có khả năng đưa ra quyết định, người quyết định đại diện phải được chỉ định. Trong trường hợp không có mặt về giá trị pháp lý lâu dài, các thành viên trong gia đình phải được gọi đến để được chỉ định như là người đại diện. Trong 1 số tình huống, nhờ tòa án được để chỉ định người giám hộ. Người đưa ra quyết định đại diện nên cố gắng đưa ra quyết định mà bệnh nhân mong muốn, hoặc ngay cả khi không biết mong muốn của bệnh nhân; sẽ thúc đẩy mối quan tâm nhất của bệnh nhân. Trong trường hợp cấp cứu, thầy thuốc phải đảm nhận vai trò này trong 1 thời gian ngắn trước khi người đưa ra quyết định thích hợp được xác định. Trong bối cảnh sản khoa, sản phụ được xem như là người đưa ra quyết định phù hợp cho bào thai của chính họ.

2/ Thu thập dữ liệu càng khách quan càng tốt. Hội ý lẫn nhau thường có lợi để xúc tiến trong việc này.

3/ Xác định và đánh giá tất cả chọn lựa xử trí y tế thích hợp.

4/ Đánh giá có hệ thống các chọn lựa này. Sau khi loại bỏ những chọn lựa vi phạm y đức, chọn lựa còn lại phải được xem xét và xác định chọn lựa tốt nhất. Chân giá trị của bệnh nhân nói chung là xem xét quan trọng nhất khi xúc tiến chọn quyết định.

5/ Xác định những xung đột về y đức và lập ra thứ tự ưu tiên, sau đó chọn lựa cái gì có thể được cho là phù hợp nhất

6/ Đánh giá lại quyết định sau khi đã chọn lựa nó và theo dõi nó trong thực tế dựa trên những kết quả lâm sàng. Nếu xử trí điều trị không giải quyết được vấn đề 1 cách đầy đủ, phải tiến hành đánh giá lại tất cả những thông tin và tiến hành những kế hoạch điều trị khác. Những câu hỏi phù hợp ở thời điểm này bao gồm: quyết định có khả năng nhất đã được đưa ra chưa?, bài học nào được học từ buổi thảo luận và giải pháp của vấn đề là gì?

Sẽ có ý nghĩa cho từng bác sĩ khi họ tìm ra và nghĩ ra bảng hướng dẫn về chọn lựa quyết định để có thể được ứng dụng xuyên suốt khi đối mặt với những khó khăn về y đức. Đoàn bác sĩ sản phụ khoa và những tổ chức nghề nghiệp tương tự khác đã cho những bảng hướng dẫn mà chúng thường giúp thầy thuốc dễ dàng thực hiện công việc quan trọng này.

Tuy nhiên thỉnh thoảng điều trị bằng phẫu thuật hoặc nội khoa cho kết quả có hại và/hoặc không mong muốn. Cho thầy thuốc kết quả tốt nhất, hiểu biết thành thật việc gì đang diễn ra cho bệnh nhân và tại sao (cho gia đình của sản phụ và những người có trách nhiệm khác) là trách nhiệm y đức hiện hữu của thầy thuốc, chẳng hạn như ghi bệnh án rõ ràng về buổi trao đổi này. Khi bệnh nhân hoặc gia đình bệnh nhân hỏi về lời giải thích ghi trong bệnh án, nỗi ám ảnh về trách nhiệm trong khám chữa bệnh (thỉnh thoảng được cảm nhận sai như là biến cố do chăm sóc người bệnh không tốt) từ từ hiển hiện.

Trách nhiệm thầy thuốc trong khám chữa bệnh

Khi kết quả khám chữa bệnh được cảm nhận không tốt, hoạt động quy trách nhiệm (thưa kiện) có thể xảy ra. Những tình huống như vậy có thể phòng ngừa bằng phương cách tốt nhất là thực hành y học dựa theo chứng cớ, giao tiếp thành thật và thẳng thắn giữa bệnh nhân và thầy thuốc. Ghi hồ sơ bệnh án thích hợp rất quan trọng trong khám chữa bệnh.

Tờ cam kết

Đưa ra tờ cam kết thật sự là 1 sự đột phá, đó là một phần của quá trình chăm sóc người bệnh, mỗi ngày nên có cam kết giữa thầy thuốc với bệnh nhân. Nói 1 cách đơn giản, tờ cam kết bao gồm thầy thuốc báo cáo cho sản phụ về chọn lựa có sẵn để chăm sóc phòng ngừa và các vấn đề cụ thể khác. Quá trình cam kết thuộc trách nhiệm của thầy thuốc, không thể ủy nhiệm cho người khác. Thảo luận nên bao quát những phát hiện và thông tin mà hiện tại người ta biết cũng như những khảo sát khác được khuyến cáo, bao gồm chỉ định, nguy cơ, ưu điểm, những giải pháp thay thế. Bệnh nhân cũng nên ý thức rằng: cô ta quyền không chấp nhận điều trị. Nếu thầy thuốc muốn trợ giúp, 1 buổi tham vấn hoặc chuyển bệnh nhân đi có thể có hiệu quả. Qua tham vấn này, bệnh nhân có cơ hội để hỏi những điều mà thầy thuốc có thể trả lời đầy đủ. Quá trình này dàn trải hoạt động của thầy thuốc từ kê thuốc Aspirin chữa nhức đầu đến cuộc đại phẫu nào đó. Thực tế chứng minh, tờ cam kết có tầm quan trọng đặc biệt như 1 phần quyết định can thiệp phẫu thuật chính yếu, chẳng hạn như sinh đẻ và phẫu thuật. Ghi chép phù hợp bao gồm ký tờ cam kết theo đúng qui trình và bệnh nhân đồng ý với kế hoạch xử trí được đưa ra (hoặc không chấp nhận điều trị tại thời điểm đó). Bệnh nhân này, 1 nhân chứng, thường thường thầy thuốc kí vào tờ cam kết, mảnh giấy này được dán vào hồ sơ bệnh án. Một bản sao được đưa cho bệnh nhân.

Tuy nhiên thỉnh thoảng, bệnh nhân hoặc gia đình vẫn hỏi về quyết định phẫu thuật và kết quả điều trị. Trong trường hợp này, hoạt động thưa kiện trong khám chữa bệnh có thể diễn ra.

Hoạt động thưa kiện trong khám chữa bệnh

Hoạt động thưa kiện trong khám chữa bệnh có thể là nỗi sợ hãi ám ảnh và gây lo lắng cho thầy thuốc. Hiểu biết về các bước của hoạt động này là có lợi, ví dụ nhận biết rõ hệ thống phám luật hiện thời, 1 vụ kiện có thể xuất phát từ bệnh nhân hoặc gia đình họ bất chấp chất lượng khám chữa bệnh mà họ có được như thế nào. Người quản lý nguy cơ khám chữa bệnh hoặc quản lý hành nghề y dược, người tư vấn pháp luật là những ngườu quan trong để giúp thầy thuốc trong các vụ kiện. một số điều luật thay đổi không ngừng nhưng trong, 1 số trường hợp có 1 số điểm chung sau đây:

– Đơn thưa kiện, đó là 1 bản viết ngắn gọn, thông thường thầy thuốc đủ kiến thức về vấn đề của hoạt động này, nói rằng có đủ thông tin để hỗ trợ hoạt động thưa kiện trong khám chữa bệnh, phải được tòa án chấp nhận bởi nhằm mục đích cho vụ kiện diễn ra.

– Xác định nguyên cáo, (bệnh nhân hoặc thỉnh thoảng gia đình của bệnh nhân) và bị cáo (thầy thuốc, bệnh viện, hệ thống y tế có liên quan trong trường hợp này).
– Hồ sơ của nguyên cáo đưa ra lời tố cáo cụ thể cho những gì mà nguyên cáo nghĩ là sai và tại sao.
– Người hòa giải cho 2 phía yêu cầu đưa hồ sơ bệnh án và bất cứ những thông tin liên quan khác (xét nghiệm, hóa đơn, những ghi nhận về chi phí, 1 số giao dịch). Thông tin là đặc quyền (nghĩa là không thể sử dụng, được miễn trừ) chẳng hạn như nội dung trao đổi với người hòa giải.
– Nhân chứng có kiến thức trong ngành được 2 bên thuê. Họ được mong chờ để nói lên kiến thức y học liên quan đến trường hợp này. Quan điểm của những người này, về mặt lý thuyết đơn thuần, dựa vào thông tin y học và kiến thức về vụ kiện. Họ không bị chi phối bởi bất cứ ai tiếp xúc với họ hoặc được số tiền họ nhận cho dịch vụ của họ. Trong thực tế, những chuyên gia y học thường là người ủng hộ cho thân chủ của họ, mà thân chủ họ có luật sư đại diện, chính luật sư là người thuê chuyên gia này. Ngày nay, nhiều tổ chức chuyên nghiệp đưa ra nhiều bảng hướng dẫn cho các thành viên. Đoàn bác sĩ sản phụ khoa cũng xuất bản những bảng hướng dẫn.
– Phân biệt giữa kết quả không mong muốn và sai lầm trong khám chữa bệnh.

Kết quả không mong muốn trong khám chữa bệnh được định nghĩa như là kết quả xảy ra không như ý bất chấp chất lượng chăm sóc áp dụng cho người bệnh. Đối với kết quả được xem như là sai lầm trong khám chữa bệnh, kết quả này phải được chứng minh là do sự thờ ơ với bệnh nhân (chăm sóc bệnh nhân với kết quả thấp hơn tiêu chuẩn chăm sóc được mong chờ). Sai lầm trong khám chữa bệnh khác với kết quả khám chữa bệnh không mong muốn khác nhau bằng việc chứng minh có sự thiếu trách nhiệm với bệnh nhân.

Sau khi xem những thông tin có sẵn và quan điểm của những nhân chứng có kiến thức y học, người hòa giải cho nguyên cáo và bị cáo có 3 chọn lựa chính: 1 là đồng ý về những gì đã được thảo luận, bồi hoàn tiền cụ thể cho nguyên cáo, thường không thông báo cho bên ngoài biết; 2 là đồng ý rằng trường hợp này cho rằng sai lầm khám chữa bệnh là không chính xác, kết quả là rút lại lời tố cáo, thường không thông báo cho bên ngoài biết; 3 là bất đồng về việc có hay không sai lầm trong điều trị, kết quả là vấn đề được đưa ra tòa và vụ kiện sẽ diễn ra.

Có nhiều bảng hướng dẫn dựa trên chứng cớ trong chăm sóc bệnh nhân không được xem như tiêu chuẩn trong khám chữa bệnh.

An toàn cho người bệnh

Trong bảng báo cáo của viện y học: “sai lầm mới là con người, xây dựng 1 hệ thống y tế an toàn vào năm 2000”, an toàn cho người bệnh và sai lầm trong khám chữa bệnh được ghi nhận đóng vai trò quan trọng gây tổn thương và chết chóc cho bệnh nhân. Hậu quả, an toàn người bệnh và giảm thiểu sai lầm trở thành ý nghĩa tột bực trong hệ thống y tế và trong hành nghề khám chữa bệnh.

Định nghĩa về an toàn cho bệnh nhân

Có nhiều định nghĩa được lưu hành rộng rãi về an toàn cho bệnh nhân. Các tổ chức về an toàn khám chữa bệnh hàng đầu và định nghĩa của họ được nêu ra dưới đây.

– Viện y học: không gây chấn thương vô ý, đảm bảo an toàn người bệnh, bao gồm lập ra 1 hệ thống vận hành và những quá trình giảm thiểu khả năng xảy ra sai lầm, tăng cao khả năng can thiệp xử trí khi chúng xảy ra.

– Quỹ an toàn bệnh nhân quốc gia: để tránh, phòng ngừa, giảm thiểu những kết quả có hại, những chấn thương xuất phát từ quá trình khám chữa bệnh, bao gồm sai lầm, lệch lạc, tai nạn. An toàn cho bệnh nhân xuất phát từ sự tương tác của những thành phần này.
– Cơ quan khảo sát khám chữa bệnh và chất lượng khám chữa bệnh, diễn đàn về chất lượng khám chữa bệnh chquốc gia: đây 1 quá trình nhiều bậc mà khi áp dụng vào thực tế sẽ giảm được xác xuất xảy ra những biến cố nguy hại khi được khám và điều trị 1 số bệnh và 1 số phẫu thuật trong hệ thống y tế. Mặc dù dường như có nhiều định nghĩa về an toàn cho người bệnh, 1 số chủ đề đã xuất hiện. đây là hệ thống vận hành, xử lý, phân tầng nhằm giảm thiểu khả năng xảy ra sai lầm. các yếu tố này hòa hợp với nhau tạo ra thói quen làm việc an toàn.” Có theo quen làm việc an toàn cần hiểu biết về giá trị, niềm tin, phong tục về khía cạnh quan trọng trong một tổ chức và thái độ và hành vi có liên quan với an toàn cho người bệnh là phù hợp và được mong mỏi.

GIẢM THIỂU SAI LẦM BẰNG CÁCH XEM TRỌNG VẤN ĐỀ AN TOÀN NGƯỜI BỆNH
– Vấn đề và những khía cạnh chủ yếu về an toàn cho người bệnh và giảm thiểu rủi ro cho họ như sau đây:
– sai lầm về kê đơn
-Sai lầm về phẫu thuật
-Cải thiện trong giao tiếp với các thành viện trong ekip làm việc, đặc biệc khi giao ban
– cải thiện trong giao tiếp với người bệnh
-Sai làm về dùng thuốc
– Hầu hết sai lầm trong khám chữa bệnh có liên quan đến vấn đề sử dụng thuốc. Chữ viết xấu, khó đọc, viết tắt không chuẩn, không kiểm tra dị ứng hoặc tương tác thuốc, y lệnh miệng, dùng số 0 đi sau chấm thập phân khi cho thuốc là tất cả các yếu tố góp phần cho sai lầm về dùng thuốc. Mặc dù, hệ thống nhập y lệnh của thầy thuốc đã được vi tính hóa có thể giảm một số sai lầm, khi bắt buộc cẩn trọng đối với những vấn đề trên đây khi thầy thuốc kê toa giúp giảm sai lâm về sử dụng thuốc.
– Sai lầm về phẫu thuật
– Hiếm xảy ra so với sai lầm về sử dụng thuốc, sai lầm do phẫu thuật thường nguy hiểm hơn. Sai lầm bao gồm mổ sai hoặc thủ thuật sai, mổ sai vị trí trên cơ thể người bệnh, mổ lầm bệnh nhân. Quá trình kiểm tra trước mổ theo chuẩn và nghiêm túc với sự tham gia của người bệnh được nghĩ ra để làm giảm sai lầm phẫu thuật. Ngay khi đưa bệnh nhân đến phòng mổ, tất cả nhân viên phòng mổ tham gia tuần tự để khẳng định các khía cạnh quan trọng của trường hợp mổ này. An toàn cho người bệnh cũng được đề cập về việc đếm chính xác dụng cụ mổ, kim, bong gạc khi mổ xong.

Cải thiện giao tiếp giữa các thành viên nhóm làm việc lúc giao ban.

Giao ban, hoặc chuyển nhiệm vụ sang cho nhóm khác là chuyển thông tin bệnh nhân từ 1 người, 1 nhóm có trách nhiệm cho 1 người, 1 nhóm khác. Giao ban nên năng động với cơ hội cho nhóm hoặc người nhận trách nhiệm đặt câu hỏi và làm sáng tỏ những điểm để chăm sóc bệnh nhân. Dùng thuật ngữ chuyên ngành theo chuẩn tránh được sai lầm trong giao tiếp.

Bối cảnh để giao ban phải không bị quấy rầy để tăng cường trò chuyện và giảm gián đoạn. Bí mật của bệnh nhân nên được giữ kín và chỉ những gì liên quan đến chăm sóc bệnh nhân nên được riêng tư để bảo vệ thông tin về bệnh tật.

Thứ bậc của nhóm chăm sóc bệnh nhân, đặc biệt trong môi trường giảng dạy cũng có thể can thiệp vào quá trình chuyển giao thông tin quan trọng. Mỗi thành viên của nhóm điều trị có mặt nên được khuyến khích tham gia. Phương pháp giao tiếp có thể là rào cản quan trọng đối với chuyển giao hiệu quả những thông tin quan trọng. Những dạng giao tiếp theo cấu trúc như là kỹ thuật giới thiệu đánh giá nền tảng tình huống nên được xem xét.

Chú ý nhiều đến nhiều mặt của buổi chuyển giao bệnh nhân là quan trọng đối với sự phát triển văn hóa an toàn cho người bệnh.
Cải thiện giao tiếp với bệnh nhân

Thiếp lập mối quan hệ gần gũi và tạo ra 1 buổi nói chuyện ý nghĩa là quan trọng đối với mối quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân, cải thiện giao tiếp với bệnh nhân, lắng nghe mối quan tâm của họ, xúc tiến mối quan hệ chủ động nên là trọng tâm của bất cứ chiến lược an toàn cho người bệnh. Nhân viên y tế nên nói chậm; dùng ngôn ngữ bình dân; và không chỉ cho phép mà còn khuyến khích bệnh nhân hỏi.

Tờ cam đoan là 1 quá trình giao tiếp, không đơn thuần là mảnh giấy hoặc tờ giấy có chữ ký. Với tờ cam đoan bệnh nhân nên hiểu biết chuẩn đoán của cô ta, điều trị được khuyến cáo, biến chứng có thể xảy ra, chọn lựa điều trị. Trong thực tế, tạo ra quyết định lâm sàng là 1 sự liên tục với thầy thuốc đi đầu buổi thảo luận cho đến sau cùng và người bệnh chọn quyết định lúc kết thúc.

Thầy thuốc cần thông báo bệnh nhân kết quả xét nghiệm sẽ được trao đổi như thế nào, trong bối cảnh ngoại trú và nội trú. Kết quả xét nghiệm cho ra những chiến lược được nghĩ ra cho từng khoa và có thể bao gồm các sổ nhật ký hoặc những lời nhắc nhở trong máy vi tính. Mục đích nên để trao đổi mỗi kết quả xét nghiệm cho từng bệnh nhân trên cơ sở chọn trước khi bệnh nhân nhập viện, thầy thuốc bắt buộc dùng hệ thống thông tin bệnh viện và thông báo bệnh nhân về kết quả và ý nghĩa của chúng khi chúng có sẵn.

Cải thiện giao tiếp với bệnh nhân giúp tăng cường mối quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân, để tăng mức độ thỏa mãn của người bệnh, tăng độ chính xác của chuẩn đoán, tăng sự tuân thủ với các khuyến cáo điều trị, cải thiện chất lượng chăm sóc người bệnh.

Theo dõi lâm sàng ngoại trú

Lúc khám bệnh nhân lần đầu, bạn quyết định rằng cô ta không dùng các sản phẩm vệ sinh âm đạo phụ nữ, không thay đổi hóa mỹ phẩm khi tắm bao gồm xà bông, không có dị ứng. Tiền sử về bệnh tật là không có, bao gồm là đái tháo đường. Khám vùng chậu không thấy huyết trắng, sang thương…. Bạn tiến hành 1 số xét nghiệm tầm soát và chuẩn đoán. Lúc cô ta tái khám, bạn chú ý rằng tất cả xét nghiệm đều bình thường. Một lần nữa cô ta than phiền rằng tiếp tục có huyết trắng. Bạn khám vùng chậu lại với các dung dịch thì cũng không có phát hiện gì. Bởi vì phải có sự phối hợp của các triệu chứng tái phát liên quan đến huyết trắng có mùi hôi chưa được chuẩn đoán nguyên với khả năng bị lạm dụng tình dục, hoặc thậm chí có thể bị bạo hành tình dục, bạn sử dụng kỹ năng giao tiếp thấu cảm tốt nhất để gợi ra vấn đề này hơn nữa. Lúc đầu, cô ta từ chối, nhắc nhở bạn về quyền hợp pháp của cô ta và sự vi phạm của bạn trong việc xúc tiến đưa ra những câu hỏi phi lý nữa. Mặc dù bạn ý thức rằng đây là một lời đề nghị đanh thép là hoàn toàn tương thích với quyền độc lập về y đức của cô ta. Bạn đồng thời ý thức được trách nhiệm về quyền lợi có tính y đức, hiểu về mối nguy hại ngày càng nhiều nếu không nhận ra 1 lần hoặc nhiều lần bị bạo hành tình dục. Cô ta miễn cưỡng cho phép người tư vấn ngay phòng làm việc của bạn tham gia vào cuộc nói chuyện với bạn và cuối cùng, cô ta tiết lộ bạo hành tình dục từ người làm cùng phòng trước đó 3 ngày tại 1 cuộc vui trước khi cô ta đi khám lần đầu tại bác sĩ gia đình. Trichomonas vaginalis được phân lập. Cô ta khóc và nói rằng không có ai bạo hành bởi vì cô ta xấu hổ là không sử dụng những lời khuyến cáo trước đó để ngăn ngừa cuộc bạo hành. Cô ta tiếp tục cam đoan rằng bạn không tìm được nguyên nhân nhiễm trùng mà cô ta biết nó đang hiện diện. Bạn và nhóm nhân viên ngay lập tức bắt đầu điều trị cô ta và nhận ra đây là hội chứng chấn thương do hiếp dâm, an ủi cô ta và nói rằng đó không phải là lỗi và giúp cô ta điều trị vấn đề này. Bạn nói rằng sẽ luôn bên cạnh với cô ta và sắp xếp lần theo dõi kế tiếp; với sự hỗ trợ này, cô ta đồng ý khám ngay để điều trị về bị hiếp dâm, nhân viên sắp xếp lần khám bệnh vào cuối ngày. Bạn cũng được phép tiết lộ thông tin này cho nhóm điều trị chấn thương do hiếp dâm và cũng thông báo với bác sĩ gia đình của cô ta. Hơn nữa, cô ta đồng ý là cần báo cảnh sát, điều này bạn cũng biết và nó sẽ là 1 phần của lần khám đầu tiên cho cô ta ở trung tâm điều trị chấn thương. Trong khi vẫn còn tâm trạng bấn loạn, bệnh nhân này cũng nói ra 1 số hi vọng cho tương lai, ghi nhận là có quá nhiều người sẵn sàng giúp đỡ mà không có ai đánh giá về phẩm giá của bệnh nhân này.

BS Nguyễn Văn Học

12 điều Y ĐỨC

Quy Định về y Đức (Tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế) (Ban hành kèm theo quyết định số: 20881BYT-QĐ ngày 06 tháng 11 nǎm 1996 của Bộ trưởng Bộ Y tế) Y đức là phẩm chất tốt đẹp của người làm công tác y tế, được biểu hiện ở tinh thần trách nhiệm cao, tận tuỵ phục vụ, hết lòng thương yêu chǎm sóc người bệnh, coi họ đau đớn như mình đau đớn, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Lương y phải như từ mẫu”. Phải thật thà đoàn kết, khắc phục khó khǎn, học tập vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ, toàn tâm toàn ý xây dựng nền Y học Việt Nam. Y đức phải thể hiện qua những tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo đức được xã hội thừa nhận.

1. Chǎm sóc sức khoẻ cho mọi người là nghề cao quý. Khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ y tế phải nghiêm túc thực hiện lời dạy của Bác Hồ. Phải có lương tâm và trách nhiệm cao, hết lòng yêu nghề, luôn rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức của thầy thuốc. Không ngừng học tập và tích cực nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn. Sẵn sàng vượt qua mọi khó khǎn gian khổ vì sự nghiệp chǎm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.

2. Tôn trọng pháp luật và thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên môn. Không được sử dụng người bệnh làm thực nghiệm cho những phương pháp chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu khoa học khi chưa được phép của Bộ Y tế và sự chấp nhận của người bệnh.

3. Tôn trọng quyền được khám bệnh, chữa bệnh của nhân dân. Tôn trọng những bí mật riêng tư của người bệnh; khi thǎm khám, chǎm sóc cần bảo đảm kín đáo và lịch sự. Quan tâm đến những người bệnh trong diện chính sách ưu đãi xã hội. Không được phân biệt đối xử với người bệnh. Không được có thái độ ban ơn, lạm dụng nghề nghiệp và gây phiền hà cho người bệnh. Phải trung thực khi thanh toán các chi phí khám bệnh, chữa bệnh.

4. Khi tiếp xúc với người bệnh và gia đình họ, luôn có thái độ niềm nở, tận tình; trang phục phải chỉnh tề, sạch sẽ để tạo niềm tin cho người bệnh. Phải giải thích tình hình bệnh tật cho người bệnh và gia đình họ hiểu để cùng hợp tác điều trị; phổ biến cho họ về chế độ, chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của người bệnh; động viên an ủi, khuyến khích người bệnh điều trị, tập luyện để chóng hồi phục. Trong trường hợp bệnh nặng hoặc tiên lượng xấu cũng phải hết lòng cứu chữa và chǎm sóc đến cùng, đồng thời thông báo cho gia đình người bệnh biết.
5. Khi cấp cứu phải khẩn trương chẩn đoán, xử trí kịp thời không được đùn đẩy người bệnh.

6. Kê đơn phải phù hợp với chẩn đoán và bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý an toàn; không vì lợi ích cá nhân mà giao cho người bệnh thuốc kém phẩm chất, thuốc không đúng với yêu cầu và mức độ bệnh.

7. Không được rời bỏ vị trí trong khi làm nhiệm vụ, theo dõi và xử trí kịp thời các diễn biến của người bệnh.

8. Khi người bệnh ra viện phải dặn dò chu đáo, hướng dẫn họ tiếp tục điều trị, tự chǎm sóc và giữ gìn sức khỏe.

9. Khi người bệnh tử vong, phải thông cảm sâu sắc, chia buồn và hướng dẫn, giúp đỡ gia đình họ làm các thủ tục cần thiết.

10. Thật thà, đoàn kết tôn trọng đồng nghiệp, kính trọng các bậc thầy, sẵn sàng truyền thụ kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau.

11. Khi bản thân có thiếu sót, phải tự giác nhận trách nhiệm về mình không đổ lỗi cho đồng nghiệp, cho tuyến trước.

12. Hăng hái tham gia công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe, phòng chống dịch bệnh, cứu chữa người bị nạn, ốm đau tại cộng đồng; gương mẫu thực hiện nếp sống vệ sinh, giữ gìn môi trường trong sạch.