Tag Archives: thuật ngữ

Phenotype (kiểu hình) theo quan điểm hiện đại có gì khác?

Phenotype (kiểu hình) theo quan điểm hiện đại có gì khác?

Thầy Phùng Trung Hùng giảng giải:

Các bạn có để ý khi khái niệm thay đổi thì ngữ nghĩa (semantics) của một thuật ngữ cũng thay đổi. Phenotype trong hình 1&2 có phải phản ánh quan niệm của của genetics quen thuộc với chúng ta từ khi học Mendel? có phải là khái niệm này gắn với hình ảnh hay hiện tượng? Các bạn quan sát hình 3 sẽ thấy Phenotype chẳng còn liên hệ gì đến hình ảnh hay hiện tượng bên ngoài phải không? Câu trả lời cho thấy đây là khái niệm genetics đương đại của thuật ngữ Phenotype: là tất cả các chất hiện hữu trong một tế bào tại một thời điểm biểu thị cho hoạt động của bộ gene (genotype).1 2 3

Phân biệt downregulation và dysregulation

Phân biệt downregulation và dysregulation

“Downregulation” và “Dysregulation” là 2 danh từ rất thường gặp khi các bạn sử dụng sách liên quan tới Y sinh học và các chuyên ngành hệ nội (đặc biệt là Nội tiết học). Vậy mỗi từ có nghĩa là gì và phạm vi sử dụng như thế nào?

Bài viết ngắn này sẽ sử dụng định nghĩa trong từ điển “Merriam-Webster Online” (1) và MeSH (2) để khảo sát.

Downregulation

Định nghĩa:

(1) the process of reducing or suppressing a response to a stimulus; specifically: reduction in a cellular response to a molecule (as insulin) due to a decrease in the number of receptors on the cell surface.

(2) A negative regulatory effect on physiological processes at the molecular, cellular, or systemic level. At the molecular level, the major regulatory sites include membrane receptors, genes (GENE EXPRESSION REGULATION), mRNAs (RNA, MESSENGER), and proteins.
Year introduced: 2002 (1990)

Bàn luận:

Như vậy từ downregulation (được giới thiệu năm 2002) có phạm trù sử dụng ở cả mức độ phân tử, tế bào và hệ thống; tuy nhiên đặc thù ở mức độ phân tử – tế bào (vì thường đi kèm với các thuật ngữ khác như cellular response, stimulus, membrane receptor, gene, mRNAs, proteins,…). Định nghĩa có thuộc tính âm, mang tính tự thân trọn nghĩa – đề cập đến tới sự sụt giảm số lượng thụ thể trên bề mặt màng tế bào hoặc giảm đáp ứng với tác dụng của một tác nhân kích thích sinh lý.

Ví dụ điển hình:

Hãy đọc phần giải nhạy cảm thụ thể ở chương 40 của quyển sách SHPT tế bào độc quyền của Diễn đàn chúng ta tại đây.

Dysregulation

Định nghĩa

(1) impairment of a physiological regulatory mechanism (as that governing metabolism, immune response, or organ function).

(2) Có ít nhất 9 định nghĩa, liên quan tới các quá trình rối loạn nội tiết, thần kinh, tâm thần, miễn dịch,… Thông thường sẽ đi chung với một viên cảnh cụ thể.

Bàn luận:

Để hiểu chính xác về dysregulation, ta phân tích tiếp đầu ngữ dys-. Theo (1) chúng ta có ít nhất những nghĩa sau:

1: abnormal<dysplasia>

2: difficult <dysphagia>
3: impaired <dysfunction>
4: bad <dyslogistic>

Như vậy nó có thể là rối loạn (trong dysplasia – loạn sản, tình trạng thay đổi kích thước, hình dạng và tổ chức mô), khó khăn hay chướng ngại (trong dysphagia – khó nuốt), suy giảm (dysfunction – suy giảm chức năng) và (tình trạng, mức độ) tệ hay xấu (dyslogistic – chê bai, bài xích).

Vậy dysregulation là một từ được sử dụng rộng rãi, ít nhất trong ngành Y của chúng ta như đang đề cập ở đây. Là một từ có thuộc tính âm và nghĩa không có tính đặc thù mà tuỳ thuộc vào gốc từ được sử dụng kèm theo và văn cảnh.

Ví dụ và cũng là câu hỏi thảo luận:

Thuật ngữ “Thyroid dysfunction” có gì khác so với “Hypothyroidism”?

Phân biệt Biochemistry và Biological chemistry

Phân biệt Biochemistry và Biological chemistry

Có rất nhiều định nghĩa phân biệt 2 môn học này. Nhưng đại thể, sự khác nhau nằm ở đây (sau khi tham khảo qua những quyển sách textbook ‘đình đám’ và cách phân chia, định nghĩa môn học của một số đại học trên internet):

Biochemistry: Nghiên cứu về các đại phân tử sinh học và sự tương tác của nó trong hệ thống sống.

Hệ quả: Có thể coi cái này là 1/3 hóa học và 2/3 sinh học.

Biological chemistry: Ứng dụng thành tựu hóa học, nhất là hóa học hữu cơ vào nghiên cứu các phân tử sinh học tổng hợp và vận dụng chúng trong hệ sinh học. Và có những quan niệm mới đây cho rằng đây là một ‘phân ngành’ của Pharmacology.

Hệ quả: Có thể coi cái này là 2/3 hóa học và 1/3 sinh học.

Ngoài ra còn có môn học bioanalytical chemistry nữa (mình lại đang rất quan tâm tới món này, vì thực ra đó là cái mình định theo đuổi trước khi vào trường Y khoa), nhưng không quan trọng đối với đa số chúng ta nên không bàn ở đây.

Phân định định nghĩa và phân tích khá hay trên wikipedia: