Tag Archives: thảo luận chung

Vệt giả mạch – Angiod streaks

Vệt giả mạch

(Angioid streaks)

Nguyễn Thiên Luân – Nguyễn Phước Long

 

Hình: Thể hiện các vệt giả mạch.

Chỉnh sửa lại dưới sự cho phép từ Kanski JJ, Clinical Diagnosis of Ophthalmology, 1st edn, Philadelphia: Mosby, 2006: Fig 13-78.

Mô tả triệu chứng

Vệt giả mạch là những đường bất đối xứng, lởm chởm (jagged) và bóp nhọn lại một đầu (tapering) tỏa ra từ võng mạc cạnh nhú (peri-papillary retina), đi vào trung tâm và ngoại vi đáy võng mạc.

Về bản chất, nó là những đường nứt rạn của màng Bruch’s dẫn đến sự phát triển của một màng tân sinh mạch ở lớp màng mạch (choroidal) gây giảm thị lực.

Tình trạng đi kèm

Phổ biến

–          Pseudoxanthoma elasticum – Bệnh lý thoái giáng mạn tính của mô chun (elastic tissue).

–         Bệnh Paget xương.

–         Các bệnh lý của Heamoglobin.

Ít phổ biến

–         Hội chứng Ehlers – Danlos – Rối loạn di truyền hiếm gặp của mô liên kết, người mắc phải có khớp linh hoạt và da chun giãn rất bất thường.

–         Bệnh to cực (Acromegaly – còn gọi là to đầu chi)

–          Bệnh lý u sợi thần kinh (Neurofibromatosis) – Là một bệnh lý thần kinh di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường. Tuy nhiên, nó cũng có thể là hậu quả của hiện tượng đột biến gene. Các rối loạn ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của tế bào thần kinh. Bệnh có 3 thể và điều trị hiện chỉ ở mức kiểm soát được triệu chứng.

Cơ chế

Vệt giả mạch được xem là hậu quả của sự đứt gãy trong cấu trúc màng Bruch’s dễ vỡ (brittle) hay bị vôi hóa thế nhưng cơ chế của hiện tượng này vẫn còn là bí ẩn. Có một vài yếu tố gợi ý như sau:

–          Sự giảm khả năng chun giãn của màng (bao gồm sự thoái giáng elastin,…).

–          Lắng đọng sắt trong sợi mô chun do tán huyết và khoáng hóa thứ cấp (secondary mineralisation).

–          Hiện tượng loạn dưỡng xảy ra do bệnh lý hồng cầu hình liềm, sự ứ trệ và tắc mạch máu nhỏ.

Người ta cho rằng chính những đường sức (lines of force) từ cơ vận nhãn trong và cơ vận nhãn ngoài làm cho lớp màng vốn dễ vỡ bị vỡ.

Giá trị của triệu chứng

Khoảng 50% bệnh nhân có vệt giả mạch có bệnh lý nền. Do vậy, nếu phát hiện có vệt giả mạch, việc kiểm tra kĩ hơn được khuyến cáo. Một vài nghiên cứu cho thấy rằng:

–          80 – 87% bệnh nhân có Pseudoxanthoma elasticum có vệt giả mạch.

–          2 – 15% đối với người có bệnh Paget’s.

–          0 – 6% bệnh lý haemoglobin sẽ xuất hiện triệu chứng này.

–          Hiện tại chưa có nghiên cứu nói lên giá trị của vệt giả mạch với bệnh to cực.

Các câu hỏi, ý kiến thảo luận cũng như đóng góp cho bài viết vui lòng gửi về diễn đàn docsachysinh.com:

http://www.docsachysinh.com/forum/ hoặc

http://www.docsachysinh.com/forum/index.php?forums/noi-tiet-hoc-endocrinology.96/

Cơ chế tiết acid dạ dày và tương quan của H+/HCO3- là gì?

Cơ chế tiết acid dạ dày và tương quan của H+/HCO3- là gì?

Mình đọc sách và có một câu trong sách như thế này rất thắc mắc, nguyên văn câu đó là:
“… Khi một H+ được tiết vào lòng ống tiêu hóa, thì hầu như ngay lúc ấy một HCO3- sẽ được tiết theo một hướng đối nghịch vào máu, làm giảm tính acid của máu tĩnh mạch sau khi đi qua dạ dày.”

Các anh/chị/bạn nào có thể giúp mình giải thích rõ câu ở trên được không?
Cám ơn!

Trả lời:

Đây là cơ chế sinh lý tiết acid dịch dạ dày, bạn xem tham khảo nhé. Có kèm đoạn video minh họa.

Mechanism of Acid Secretion

The hydrogen ion concentration in parietal cell secretions is roughly 3 million fold higher than in blood, and chloride is secreted against both a concentration and electric gradient. Thus, the ability of the partietal cell to secrete acid is dependent on active transport.

The key player in acid secretion is a H+/K+ ATPase or “proton pump” located in the cannalicular membrane. This ATPase is magnesium-dependent, and not inhibitable by ouabain. The current model for explaining acid secretion is as follows:

  • Hydrogen ions are generated within the parietal cell from dissociation of water. The hydroxyl ions formed in this process rapidly combine with carbon dioxide to form bicarbonate ion, a reaction cataylzed by carbonic anhydrase.
  • Bicarbonate is transported out of the basolateral membrane in exchange for chloride. The outflow of bicarbonate into blood results in a slight elevation of blood pH known as the “alkaline tide”. This process serves to maintain intracellular pH in the parietal cell.
  • Chloride and potassium ions are transported into the lumen of the cannaliculus by conductance channels, and such is necessary for secretion of acid.
  • Hydrogen ion is pumped out of the cell, into the lumen, in exchange for potassium through the action of the proton pump; potassium is thus effectively recycled.
  • Accumulation of osmotically-active hydrogen ion in the cannaliculus generates an osmotic gradient across the membrane that results in outward diffusion of water – the resulting gastric juice is 155 mM HCl and 15 mM KCl with a small amount of NaCl.
Hydrochloric Acid (HCl) Production In The Stomach Animation

Lưu ý thêm:

– Cái chấm đầu tiên, OH- tác dụng với CO2 tạo ra HCO3- thực ra là một tổ hợp cân bằng như sau:
CO2+H2O <-> HCO3- + H+ (1)
H+ + OH- <-> H2O (2)

Cộng (1) và (2), loại bỏ thành phần trùng nhau ở mỗi vế ta sẽ được CO2 + OH- <-> HCO3-

– Vai trò của các antiporter khá là quan trọng trong bất kì cơ chế vận chuyển ion từ khoang này sang khoang khác. Không bao giờ được phép quên sự hiện diện của nó.

– Bất kì vai trò nào xảy ra cũng phải tuân thủ qui luật về phân bố điện tích, phân bố nồng độ và duy trì pH sinh lý. Do vậy pH trong khoang ống tiêu hóa có thể thấp, nhưng pH máu, pH dịch kẽ và tế bào thường được đảm bảo (không toan, không kiềm) bởi hệ đệm và các yếu tố giúp hệ đệm cân bằng (kênh ion, bào quan,…).

Nếu phải chọn lựa thì cơ thể sẽ hi sinh những khu vực có khả năng tái hồi hoặc chịu đựng tốt hơn để làm nơi chịu trận. Ví dụ một ít HCO3- sinh ra không ảnh hưởng đến pH máu bao nhiêu, nhưng có thể gây xáo trộn cân bằng trong tế bào, do vậy nó được đưa vào máu.

– [Nói thêm, Ít quan trọng với ai không quan tâm đến bản chất hóa học của sinh học] Ngoài ra có thể gặp các “cặp” ion thường đi kèm với nhau bởi dạng tồn tại cơ hữu của nó, ví dụ NaCl, HCl; cái phân bố này phần lớn là do thuận lợi về mặt năng lượng (có lẽ do năng lượng solvate hóa trong dung dịch và do nó có ích trong duy trì pH) và cũng bởi vì tế bào có “công cụ” thể cho quá trình vận chuyển xảy ra. Tuy nhiên cần lưu ý rằng không có dạng hợp chất NaCl, HCl (hay nói chung các dạng hợp chất ion và cộng hóa trị mà hệ số phân ly cao) tồn tại dạng liên kết trong dung dịch nước, nó là tập hợp Na+, Cl-, H+ chuyển động nhiệt tự do và chính các ion gây ra tác động. Chỗ này cứ gây hiểu nhầm hoài nên cẩn thận vẫn hơn.

Cách lựa chọn sách Nội khoa để đọc

Cách lựa chọn sách nội khoa để đọc!

Reading List Pic 2 Về việc lựa chọn sách Nội khoa để đọc
Hình trên vừa to vừa nặng, phần nào minh họa cho chúng ta thấy rằng việc đọc sách không phải đơn giản. Nhưng sách được viết ra là để cho chúng ta đọc, do vậy không có lý do gì để nghĩ rằng ta không thể đọc nó!

Hôm nay mình nhận được câu hỏi về việc lựa chọn sách Nội khoa thích hợp. Trong đó câu hỏi có 2 đặc điểm chính như sau:
1. Sách để bắt đầu và sách phù hợp với năng lực bản thân.
2. Làm sao chọn sách hiệu quả giữa một rừng sách.

Vì câu hỏi của bạn có lẽ cũng là câu hỏi chung của nhiều bạn khác. Do vậy mình xin mạn phép trả lời chung theo quan điểm cá nhân của mình. Các bạn thành viên khác nếu có ý tưởng gì hãy trao đổi cùng nhau ở chủ đề này luôn nhé!

Theo mình các khó khăn ở buổi đầu khi sử dụng sách ngoại văn thường gặp là:
1. Khả năng ngoại ngữ nền chưa đủ, kinh nghiệm đọc chưa phong phú.
2. Khả năng ngoại ngữ chuyên ngành chưa đạt được mức tối thiểu để có thể đọc một cách trôi chảy.
3. Không biết phải sử dụng từ điển gì và sử dụng như thế nào cho chính xác.
4. Dễ cảm thấy chán nản và bỏ cuộc.
5. Không biết được tài liệu nào đọc trước, tài liệu nào đọc sau để phù hợp với sự phát triển năng lực cá nhân.
6. Một vài cách nghĩ sai lầm thường gặp:
a. Đọc là dịch, dịch ra rồi đọc lại.
b. Khi nào có thời gian thì đọc, tùy hứng.
c. Quan tâm vấn đề gì thì chỉ đọc vấn đề đó.

Từ những cơ sở trên đây mình xin được nêu ra một số giải pháp:

(1): Chúng ta cần phải trau dồi mỗi ngày vào một khời điểm cụ thể, cố định và thời lượng vừa đủ với các nội dung gợi ý như sau:
a. Sử dụng các video của Engvid (bạn có thể tìm thấy trên youtube hoặc tại website riêng của họ).
b. Sử dụng các video của Mr.Duncan (bạn có thể tìm thấy trên youtube).
c. Sử dụng các audio của A. J. Hoge với phương pháp Effortless English (bạn có thể tìm thấy tại rất nhiều trang chia sẻ cộng đồng).
d. Đọc tin tức tại các trang thông tin đại chúng (Gợi ý BBC, CNN, các facebook hướng dẫn học tiếng Anh,…)
e. Sử dụng các phần mềm dạy tiếng Anh nếu bạn sử dụng smartphone (Android, iOS,…)
f. Không thể thiếu để đảm bảo rằng mình có thể đọc tốt, bạn nên có một quyển sách Ngữ pháp tiếng Anh bằng tiếng Anh để làm quen với những cấu trúc câu căn bản và nâng cao.

(2) và (3):

Thông thường ai cũng có xu hướng đọc sách chuyên ngành ngay khi mới bắt đầu đọc sách ngoại văn. Theo mình cách làm này không chính xác!

HÃY BẮT ĐẦU VỚI MỘT QUYỂN ANH VĂN CHUYÊN NGÀNH!

Bạn cần nó vì những lý do sau:
a. Bạn cần biết nguyên lý tạo từ chuyên ngành của ngành chúng ta!
b. Bạn cần biết nghĩa của các tiền tố, gốc từ và hậu tố hay sử dụng trong Y khoa!
c. Bạn cần hệ thống hóa lại một số kiến thức giải phẫu – sinh lý và thuật ngữ triệu chứng – hội chứng cơ bản!
d. Bạn cần thực hành ngôn ngữ để nhận diện và mở rộng năng lực ngoại ngữ chuyên ngành của mình!

 Về việc lựa chọn sách Nội khoa để đọc

ĐỪNG LỆ THUỘC VÀO MỘT QUYỂN TỪ ĐIỂN CHUYÊN NGÀNH CỐ ĐỊNH NÀO!

Nhân tiện, điều mình không đồng ý nhất là việc sử dụng một tài liệu Anh – Việt một cách thường xuyên trong việc đọc sách chuyên ngành! Đúng là bạn vẫn phải cần nó khi gặp các tình huống khó hoặc không tự tin về thuật ngữ Việt ngữ tương đương, nhưng hãy loại bỏ cách làm đó một cách từ từ cho đến khi hoàn toàn tách khỏi nó!

Điều nên làm là tra thuật ngữ Anh – Anh. Một số trang gợi ý:
1. Wikipedia (một nguồn thuật ngữ rất rất to lớn).
2. MeSH – pubMed (Một nguồn thông tin, định nghĩa Y khoa vô cùng lớn).
3. Merriam – Webster’s online Dictionary.
4. Emedicine của Medscape, uptodate,… – Đặc biệt với các thuật ngữ bệnh. Thuật ngữ và hơn thế nữa!

(4) Để giải quyết vấn đề này, thiết nghĩ chúng ta cần phải:

a. Đọc các vấn đề đơn giản trước và nâng cao dần. Ví dụ trước khi đọc các bài viết Y khoa trong textbook. Bạn có thể bắt đầu bằng việc đăng kí ngay một tài khoản Medscape để nhận email về các vấn đề Y tế nổi cộm mỗi ngày. Bạn hãy đọc các bài viết trên Uptodate hay Medscape. Do người ta có chia ra từng chuyên ngành, từng mặt bệnh cụ thể và đi theo đúng cấu trúc METS (Mechanisms, Epidemiology, Time course và Syndrome Statement) nên sẽ rất dễ cho chúng ta tiếp cận.

b. Hãy nêu kế hoạch cụ thể mỗi tuần mình cần làm. Ví dụ, trong một tuần đọc hết đại cương về Tăng huyết áp chẳng hạn. Hãy vừa đọc vừa ghi chép bằng chính ngôn ngữ bạn đang đọc sau đó hãy ‘review’ sau khi đọc theo thứ tự 15′, 40′ và một ngày sau đó. Luôn luôn đọc lướt toàn bài trước và lướt lại một lần phần mình đã đọc trước khi đọc tiếp.

c. Hãy rủ bạn bè cùng tham gia, lập nhóm! Điều này là vô cùng hữu ích. Chúng ta có thể vừa tạo áp lực cho nhau, vừa động viên nhau và cùng nhau giải quyết các thắc mắc một cách hiệu quả nhất!

d. Động viên bản thân và tìm cho mình một lý do để cố gắng. Theo ‘định luật hấp dẫn’, khi chúng ta gửi đi thông điệp tích cực, chúng ta sẽ nhận lại được thông điệp tích cực. Cảm giác sẽ thật hay biết bao khi mà 30 phút kể từ lúc bắt đầu đọc, bạn đã có cái gì đó ‘hơn hẳn’!!!

kids reading Về việc lựa chọn sách Nội khoa để đọc

(5): Vì câu hỏi của bạn đặc thù về sách Nội khoa. Do vậy mình sẽ đề cập nó ở đây.

Tuy các bạn trường Y hay nói rất nhiều về Harrison’s, Davison’s, Cecil’s,… Nhưng nếu bạn bắt đầu bằng những quyển đó, bạn sẽ nhanh chóng bị đánh bại và gục ngã. Chúng đòi hỏi ta có một chút nội lực để bắt đầu. Ở các nước sử dụng ngôn ngữ viết trong những quyển sách đó làm ngôn ngữ chính, bản thân sinh viên cảm thấy dễ thở hơn phần lớn bởi vì họ đã có một quãng thời gian đọc các khái niệm, quá trình,… bằng chính ngôn ngữ đó chứ không hẳn hoàn toàn bởi đó là ngôn ngữ chính của họ. Nên nhớ rằng:

Y KHOA VẪN LÀ MỘT NGOẠI NGỮ ĐỐI VỚI NGƯỜI BẢN XỨ CHO DÙ NÓ ĐƯỢC VIẾT BẰNG NGÔN NGỮ ĐÓ ĐI CHĂNG NỮA!

Mình gợi ý một số quyển dễ dàng hơn để bắt đầu:

1. CURRENT MEDICAL DIAGNOSIS AND TREATMENT
2. French’s index of differential diagnosis
3. The Washington manual of medical therapeutics

Quyển đầu tiên hiện tại đã có bản 2013 và nó còn có phiên bản dành cho các bạn sử dụng smartphone để có thể đọc bất kì đâu! Mình rất ưu tiên quyển đó bởi vì nó dễ đọc và dễ vận dụng trên lâm sàng, ngoài ra còn tiện cho chúng ta tra cứu bước đầu trong khi gặp một tình huống nào đó khi đi lâm sàng.

p/s: Về việc lựa chọn sách giữa một rừng sách thì chúng ta nên xác định được mục tiêu của mình và biết cách tìm hiểu ‘chất lượng’ của một quyển sách. Việc xác định mục tiêu có vẻ đơn giản, dù đôi khi thực sự khó mà xác định được (đọc để có kiến thức cơ bản – tổng quát, đọc để vận dụng trong thực hành lâm sàng, đọc để hiểu sâu về cơ chế, đọc để biết được những bước tiến mới trong ngành,…). Còn về thẩm định sách thì hãy áp dụng nhiều hơn một phương pháp trong các phương pháp để xuất sau:

1. Hỏi người có năng lực chuyên môn và người bạn chắc rằng hiểu rõ nhiều đầu sách. Ví dụ: Thầy cô, anh chị hoặc thậm chí là cả bạn bè. Khi bạn đọc nhiều hơn, bạn sẽ có sự so sánh và phân biệt rất rõ nét chất lượng sách!
2. Truy cập vào Amazon hoặc một số trang giới thiệu sách khác để xem các bài đánh giá về nội dung của sách.
3. Tham gia các điễn dàn Y khoa trong và ngoài nước, đặc biệt là các diễn đàn của các trường đại học để xem các khuyến cáo của họ.
4. Hãy đặt sự ưu tiên của mình cho những quyển sách có thâm niên, sách có trích dẫn tài liệu tham khảo nhiều và mới, sách do trường đại học uy tín viết (Ví dụ quyển Current medical diagnosis and treatment là do các Giáo sư Y khoa của đại học UCSF viết), sách tái bản và đổi mới liên tục, những sách có quan điểm tiếp cận theo hướng Y học bằng chứng,…

Tạm có vài lời trao đổi với bạn như vậy, chúc bạn vui!

Đọc thêm tại đây:

http://www.docsachysinh.com/forum/index.php?threads/ve-viec-lua-chon-sach-noi-khoa-de-doc.2013/