Tag Archives: thảo luận chung

Nhược giáp – Hypothyroidism

GIẢI THÍCH CĂN BẢN SINH LÝ BỆNH HỌC NỘI TIẾT

Nhược giáp – Hypothyroidism

Phùng Trung Hùng – Nguyễn Phước Long

Tình trạng thiếu iodine là nguyên nhân hàng đầu gây ra tình trạng nhược giáp trên toàn thế giới. Bên cạnh đó, bệnh lý tự miễn (như viêm giáp Hashimoto’s) và nguyên nhân đến từ trị liệu (iatrogenic cause) là 2 nguyên nhân phổ biến nhất.

Bảng 1: Các nguyên nhân gây ra nhược giáp

Xét một trường hợp phụ nữ 48 tuổi. Có:

Triệu chứng cơ năng

–          Fatigue – mệt mỏi, cảm giác kiệt sức.

–          Weakness – suy nhược.

–          Weight gain – tăng cân.

–          Muscle cramping – vọt bẻ (chuột rút).

–          Always feel cold – luôn cảm thấy lạnh, nhạy cảm với môi trường lạnh.

–          Constipation and headache during the past 2 months – Táo bón và đau đầu tiếp diễn suốt 2 tháng nay.

Triệu chứng thực thể

–          T = 36oC, P = 50, R = 16, BMI = 32.

–          Overweight postmenopausal female – Phụ nữ mãn kinh béo phì.

–          Skin is pale, dry and thin – Da tái nhợt, khô và mỏng.

–          Hair is brittle – Tóc dễ gãy.

Cận lâm sàng

–          RBC = 3.9 Mcell/µL (normal: 4.2 – 5.4)

–          Serum TSH 6.4 mIU/mL (normal: 0.4 – 6.0)

–          Thyroxine (T43.9 µg/dL (normal 4.5 – 11.2)

–          Triiodothydronine (T380 ng/dL (normal 95 – 190)

–          TSH receptor antibody: Negative.

–          Thyroid antibodies: Positive.

Chẩn đoán xác định

Hypothyroidism caused by Hashimoto’s thyroiditis

(Nhược giáp do viêm giáp Hashimoto’s)

Bảng 2: Triệu chứng cơ năng và triệu chứng thực thể của nhược giáp theo thứ tự giảm dần sự phổ biến.

Sinh lý bệnh các triệu chứng chính

Sinh lý tuyến giáp

Hormone tuyến giáp có bản chất là amino acid nhưng thụ thể của nó nằm bên trong nhân tế bào. Sinh lý quá trình sản xuất hormone tuyến giáp được mô tả qua hình sau:

Hình 1: Tuyến giáp có rất nhiều nang chứa chất keo bao xung quanh các tế bào nang tuyến. Các tế bào nang tuyến hấp thu iodide thông qua NIS (sodium-iodide co-transporter) và sau đó dự trữ nó ở chất keo (qua pendrin, tên đầy đủ là sodium-independent chloride/iodide transporter). Tế bào nang tuyến còn tổng hợp thyroglobulin và các enzyme khác cần thiết cho quá trình gắn iodide vào tyrosine. Cần nhớ rằng tyrosine gắn kết với thyroglobulin và sau đó iodinate hóa ở trong chất keo chứ không phải trong tế bào. Mỗi tyrosine sẽ gắn 1 hoặc 2 iodide rồi dimer hóa để tạo thành T3 hay T4 một cách ngẫu nhiên rồi được ẩm bảo trở lại vào trong tế bào, sau đó được tiết vào máu.

Các chức năng của hormone tuyến giáp, cần lưu ý dạng hoạt động của hormone tuyến giáp là T(xúc tác với 5’-deiodinase type 2):

–          Cần thiết cho sự trưởng thành của tế bào não trong giai đoạn bào thai.

–          Cần thiết cho sự biệt hóa – phát triển của tế bào cũng như sự tăng trưởng của cơ thể.

–          Cần thiết cho sự tăng trưởng mô (cơ vân, tim, gan,…) và xương. Quá trình này bao gồm khả năng khởi động các quá trình tổng hợp nhiều protein cấu trúc và enzyme của tế bào. Lưu ý là vai trò của hormone tuyến giáp đối với sự tăng trưởng của xương được thực hiện trung gian qua việc tổng hợp GH/IGF-1.

–          Là thành phần quyết định mức chuyển hóa cơ bản của cơ thể. Thực hiện quá trình phosphoryl hóa oxy hóa, tiêu thụ oxygen,… để cân bằng tỉ lệ ATP/ADP cần thiết cho các hoạt động bình thường của cơ thể. Do vậy tình trạng nhược giáp gây nên một sự thiếu năng lượng toàn thể, khiến người bệnh rơi vào trạng thái mệt mỏi, suy nhược, không muốn vận động.

–          Sinh nhiệt. Trong tế bào mỡ, T3 hoạt hóa phiên mã tạo UCP1 (uncoupling protein 1). Protein này làm thất thoát H+ trong màng trong ti thể, khiến năng lượng phần lớn chuyển thành nhiệt năng thay vì đưa về dạng sử dụng chủ động ATP.

–          Điều hòa sự chuyển hóa carbohydrate, mỡ và protein.

–          Thực hiện vai trò tác hồi âm đến sự sản xuất TRH và TSH.

–    Da khô, tái nhợt, mỏng. Thiếu hormone tuyến giáp làm giảm tổng hợp protein và lipid, do vậy các thành phần của da bị giảm sút, gây ra biểu hiện trên. Xem thêm tại đây.

Hình 2: Sự chế tiết TSH bởi TRH phụ thuộc vào sự hoạt hóa PLC để tạo InsP3. Sau đó, InsP3 sẽ hoạt hóa phóng thích Ca2+ ở ER nhằm kích hoạt quá trình xuất bào của các túi tiết có chứa TSH. Ngoài ra, Ca2+ còn có thể bật đèn xanh cho sự biểu hiện của β-TSH gene. Cuối cùng, TSH chịu sự ức chế của T3 (khi phân tử này gắn vào thụ thể của nó ở nhân tế bào, nó sẽ ức chế quá trình phiên mã của gene mã hóa TSH).

 

Chức năng cụ thể được tóm lại trong bảng sau đây, cần đọc thêm các tài liệu về sinh học phân tử tế bào để nắm rõ cơ chế:

Bảng 3: Chức năng hormone tuyến giáp

Sinh lý bệnh

–          Chẩn đoán nguyên nhân nhược giáp là do viêm giáp Hashimoto’s dựa trên cơ sở là sự hiện diện của kháng thể kháng tuyến giáp.

Viêm giáp hay bệnh Hashimoto’s là một đáp ứng tự miễn trực tiếp chống lại mô tuyến giáp. Sự phá hủy cấu trúc nang làm giải phóng T3 và T4 từ chất keo có thể gây ra tình trạng cường giáp thoáng qua (hashitoxicosis). Tuy nhiên, sự phá hủy này sẽ khiến các vùng đó không còn khả năng tổng hợp hormone tuyến giáp nữa. Do vậy, nồng độ hormone tuyến giáp giảm xuống gây ra các biểu hiện nhược giáp như ta đã thấy.

–          Cần biết rằng tình trạng nhược giáp này sẽ làm tăng sản xuất TRH và TSH (do không còn đủ thành phần ức chế là T3 và T4 nữa). Nồng độ TSH tăng chính là nguyên nhân gây phì đại tuyến giáp trong trường hợp bướu cổ ở giai đoạn trễ.

–          Tăng cân trong nhược giáp là do giảm các quá trình chuyển hóa của cơ thể.

–          Như đã trình bày, T3 tạo UCP1 làm giải phóng năng lượng dưới dạng nhiệt, khi không còn đủ T3 nữa, quá trình sinh nhiệt của cơ thể bị gián đoạn và làm hạ thân nhiệt.

–          Nhịp tim chậm. Sự điều hòa nhịp tim của hormone tuyến giáp không phải là một vấn đề đơn giản, ở đây ta đề cập đến khía cạnh bản thân tế bào cơ tim, ngoài ra các bạn cần tìm hiểu thêm ảnh hưởng của hormone tuyến giáp đối với sự kiểm soát của hệ thần kinh nữa (sẽ được nói đến ở một phần khác). Hormone tuyến giáp, với khả năng kiểm soát sự tổng hợp protein, nó đóng vai trò duy trì trạng thái năng lượng cho các tế bào cơ nói chung và cơ tim nói riêng. Hormone này điều hòa biểu hiện của myosin, Ca-ATPase, kênh Na-K và hoạt động của một số enzyme khác trong sự phân giải đường cũng như chuyển hóa của ti thể để đảm bảo cả về mặt năng lượng lẫn điện thế và cơ chế gây co cơ. Khi tình trạng nhược giáp diễn ra, nó khiến cho chuyển hóa của cơ tim bị đình trệ, thiếu hụt các thành phần cần thiết cho quá trình co cơ, dẫn đến giảm hoạt động của cơ tim, biểu hiện trên lâm sàng là nhịp tim chậm. Tham khảo thêm  tại đây

Hình 3: Quan hệ giữa hệ thần kinh và các cơ quan tác động của hệ tiêu hóa.

–          Tình trạng táo bón xảy ra do rối loạn nhu động ruột. Nhu động ruột giảm vừa do giảm hoạt chức năng của cơ trơn ruột và không kém phần quan trọng là sự chi phối của hệ thống thần kinh.

Để tóm lại, chúng ta cùng xem hình ảnh minh họa sự khác nhau giữa nhược giáp và cường giáp:

APOPTOSIS – SỰ CHẾT CỦA TẾ BÀO

APOPTOSIS – SỰ CHẾT CỦA TẾ BÀO

Phùng Trung Hùng – Phạm Thiên Tánh – Nguyễn Phước Long

 

Tóm tắt

Sự tăng sinh và chết tế bào là hai mặt của một vấn đề giúp đảm bảo cân bằng nội môi tế bào. Những mạng lưới điều hoà điều khiển đời sống và quyết định cái chết trên cấp độ tế bào thì phức tạp hơn nhiều so với chúng ta từng nghĩ. Quá trình này diễn ra bình thường là nhờ vào sự diều hòa một các nghiêm ngặt của cơ thể nhưng khi gặp một số tác nhân tạo nên sự mất cân bằng (như bệnh, thoái hóa neuron,biến đổi tạo hình), quá trình này sẽ thay đổi. Apoptosis có ở tất cả các động vật đa bào. Điều quan trọng ở đây là các tế bào nào sẽ tham gia vào quá trình chết tế bào apoptosis và cách các tế bào này vào apoptosis.

Hai con đường chính dẫn đến quá trình apoptosis: các thụ thể chết (lộ trình bên ngoài) vàlộ trình ty thể (lộ trình bên trong). Lộ trình ty thể là một quá trình nhanh chóng và mạnh mẽ. Sự phá huỷ ty thể làm phóng thích các yếu tố tiền apoptosis như cytochrome c. Còn nhiều lý do làm cho quá trình nghiên cứu gặp khó khăn, một trong số đó là cho đến nay người ta vẫn chưa chắc chắn về mối quan hệ của hai lớp màng của ti thể và mối quan hệ của các lỗ lớn tham gia. Gần đây, nghiên cứu trênsự tái cấu trúc mào ty thể đã cho ta biết về một “trạm kiểm soát” các tế bào đi vào apoptosis, qua đó xác định độ nhạy của con vật trưởng thành với apoptosis.

 

Giới thiệu: Sự sống và cái chết

 

Sự sống và cái chết đi chung với nhau như 2 mặt của cùng một đồng xu. Sinh học tế bào và sinh hoá đã củng cố cho luận điểm này, cho chúng ta thấy rằng đã có sự sống ăt hẳng sẽ phải có cái chết và ngược lại. Các tế bào có thể chết vì già, vì khiếm khuyết, vì thừa so vơi nhu cầu của mô hay vì chúng gây ra vài hư hại. Điều chắc chắn là tất cả tế bào thật sự được lập trình để chết. Nhưng các tế bào sống được là nhờ một loạt những tín hiệu ngăn cản chúng thực hiện các chương trình chết của mình. Kết quả là, các tế bào sống sót, tăng sinh, biệt hoá, và thực hiện những chức năng của chúng. Các tín hiệu ngăn cản chương trình chết này có thể là các tín hiệu nội bào hay ngoại bào. Khi các tín hiệu này không được phát ra hay có một tín hiệu khác mạnh hơn nó được hoạt hóa, tế bào sẽ đi vào chu trình chết của chúng. Trong trường hợp này, sự sống là bất cứ điều gì mà không có cái chết.

Điều này dẫn đến việc tế bào sinh ra rồi lại chết đi và có chết đi mới có tế bào tiếp tục được sinh trưởng và phát triển, cứ tiếp tục như thế cho đến hết cuộc đời hay nói khác hơn chết có chu trình đóng một vai trò chủ chốt trong việc phát triển và tăng trưởng của những sinh vật phức tạp. Một lượng lớn các tế bào chết trong quá trình phát triển của phôi, ví dụ trong giai đoạn tạo tác hình thành các cơ quan. Trong cuộc đời của các sinh vật trưởng thành, các tế bào chết đi với một số lượng lớn đối trọng với sự phân chia tế bào để (1) cung cấp cho cơ thể những tế bào cần cho những giai đoạn khác nhau, (2) để diệt những tế bào già, hư hại hoặc gây hại trong tổng số tế bào hằng định nội môi. Sự mất cân bằng giữa sự phân chia tế bào và sự chết tế bào dẫn đến những bất thường về phát triển, những bệnh thoái hoá hay những biến đổi tân sinh.

Những cách thức tế bào chết đi

Sự hoại tử

Tác nhân gây bệnh là chấn thương nghiêm trọng như: bỏng, đứt hay đènén, có thể gây chết tế bào hoại tử.Trong cái chết hoại tử này, tình trạng stress quá mức gây nên tình trạng sinh hóa không tương thích với sự tồn tại bình thường của tế bào. Trong trường hợp này, những khối các tế bào trong mô bị sưng phù và sau khi nghiên cứu người ta nhận thấy rằng các khối tế bào bào này không còn tồn tại hoạt động chuyển hóa. DNA nhân ngưng tụ, tập trung nhiều nhất ở rìa nhân và các thành phần tế bào bắt đầu phân hủynhanh chóng và không kiểm soát được. Những chất quan trọng nội bào nhanh chóngrò rỉ ra khỏi tế bào, kích hoạt tình trạng viêm nhờ tế bào của hệ miễn dịchbẩm sinh.Những bằng chứng gần đây cho thấy rằng đáp ứng viêm được khởi phát bằng cách phóng thích một phổ đầy đủ của các phân tử được gọi chunglà alarmins, mà cụ thể danh tínhvẫn còn chưa được xác định chính xác. Đặc điểm chung của chúng là khả năng hoạt hóa các thụ thể nhận dạng đại thực bào, tế bào đuôi gai và các tế bào diệt tự nhiên. Qua đo các alarmins này sẽ giúp các tế bào của hệ miễn dịch kích hoạt được tế bào T và bắt đầu đáp ứng miễn dịch, để ngăn chặn nhiễm trùng và loại bỏ tế bào ở các mô đang bị viêm.Tại thời điểm này, các mảnh vỡ tế bào bị nhấn chìm và được loại bỏ bởi các đại thực bào.

Hình 46.1: Sự khác biệt giữa hoại tử và apoptosis. Nét cơ bản là sự phá hủy màng bào tương phóng thích tất cả thành phần của tế bào ở hoại tử, điều này có thể khởi phát tiến trình viêm lan rộng. Trong apoptosis, màng bào tương nguyên vẹn của các thể apoptotic hầu như sẽ bị thực bào êm đềm không khởi phát tiến trình viêm.

Apoptosis

 

Quá trình thứ hai của cái chết được đặt ra là apoptosis (trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là sự rụng lácây cối). Năm 1972, một kiểuchết tế bào mới được định nghĩa đã được xác định bởi Kerr, Wyllie, và Currie.Ban đầu kiểu chết này được xem như không thoái hóa trong tự nhiên nhưng sau đó một bài nghiên cứu ấn tượngsau đó đã chứng minh điều ngược lại. Apoptosis là khôngchỉ là một quá trình hoạt động theo thứ tự, mà nó còn là một quá trình yên lặng bằng cách tháo dỡ các tế bào nhưng không lan truyền bừa bãiđến các tế bào xung quanh. Ở cấp độ tế bào, quá trình này đặc trưng bởi một sự khởi phát làm thủng các tế bào và sau đóphá vỡ những mối liên hệ tế bào-tế bào. Các tế bào co tròn lại và màng nội bào và các bào quan cô đặc lại nhiều hơn trong tế bào chất, sau đó chúng sẽ tối hơn.

Hình 46.2: tiến trình Apoptosis.

Đáng chú ý là ở thời kì muộn của quá trình, các bào quan vẫn còn nguyên vẹn và bình thường,cho thấy hoạt động chuyển hóa vẫn còn quan trọng đối với tế bào trong thời gian đầu. Các thành phần tế bào chất không bị rò rỉ khỏi tế bào, vì vậy, đáp ứngviêmkhông được tạo ra. Trong nhân, chất nhiễm sắc cô đặc tối đa và thườngtạo ra các phần hình lưỡi liềm bao quanh màng nhân hoặc pycnosis. Sự kiện rất đặc biệt nàykhông nhìn thấy trong bất kỳ trường hợp nào khác.Endonucleasestách một cách chính xác DNA giữa các nucleosome, cho ra những mảnh vỡ của 180 (hay nhiều hơn) đôi base. Mặc dù ít được chú ý hơn, những mạng lưới nội bào khác như Golgi, lưới nội chất và ty thể cũng bịphân mảnh đáng kể. Trong khi quá trìnhphân cắt DNA tiếp tục, nhân bắt đầu vỡ thành từng mảnh vàtế bào tương tự cũng chia tách thành một số mảnh nhỏ còn nguyên vẹn hoặc các thể apoptosis không bắt màu thuốc nhuộm. Sau đó xảy rasự thực bào, một quá trình trong đó các đại thực bào di cư hay các tế bào biểu mô khoẻ mạnh xung quanh nuốt các mảnh vỡ của tế bào. Sự kiện này đặc biệt đáng chú ý là ở trạng thái bình thường các thực bào nàytham gia trong việc nhận và loại bỏ vật lạ hoặc các thực thể “không phải của bản thân”. Kết quả là, các thể apoptosis gắn vào một túi được bao bọcbởi màng trong một tế bào gọi là thể thực bào. Cuối cùng, tế bào chủhay thể thực bào và chất chứa của nó dần dần bị suy thoái, và trong nhiều trường hợp, một tế bào mới thay thế tế bào cũ trong một vài giờ. Trong một số hệ thống tế bào,đặc biệt là trong nuôi cấy tế bào (in vitro), apoptosis không xảy ra với đầy đủ các bước và theo đúng trình tự thời gian như ở trên.Lưu ý, sự cô đặc nhiễm sắc chất thành quả bóng đặc hình cầu tại một đầu của nhân không phải là bất thường. Trái lại, khi nuôi cấy trong ống nghiệm (in vitro), các tế bào trải qua quá trình apoptosis bị mất một phần màng plasma. Trong trường hợp không có đại thực bào, các tín hiệu apoptosis có vai trò thúc đẩysự tự loại bỏ nhanh chóng bởi sự vắng mặt các đại thực bào nhận diện sự bất thường (ví dụ như sự ngoại bào hoá phosphatidylserine từ lớp trong ra lớp ngoài trên màng bào tương của chúng) không thể xảy ra. In vivo, sự nhận diện này loại bỏ hiện tương viêm và khở động phản ứng đông máu.

Hình 46.3: Scramblase hoán vị phosphatidyl serine từ lớp lipid trong ra lớp lipid ngoài, macrophage có thể nhận diện sự bất thường này, ngoài ra PS còn có thể tương tác với Annexin V (AV) và là vị trí gắn kết với phức hợp prothrombinase factor Xa,Va &II(ngăn chận tiến trình đông máu in vivo).

Đọc toàn bộ bài viết tại đây.

Khái luận về Genetics

KHÁI LUẬN VỀ GENETICS

Phùng Trung Hùng – Lê Minh Châu – Nguyễn Phước Long

Y học đang dần phát triển từ một nghệ thuật chữa bệnh trong đó các tiêu chuẩn thực hành được thành lập trên cơ sở kinh nghiệm cá nhân sang phương pháp khoa học được kiểm chứng nghiêm ngặt.Việc áp dụng các phương pháp khoa học tạo nên những tiến bộ lớn trongcác lĩnh vực sinh lý học, vi sinh, hóa sinh và dược học. Những tiến bộ này có vai trò như làcơ sở cho các phương pháp tiếp cận chẩn đoán và điều trị những bệnh tật thông thường của các bác sĩ trong thế kỉ 20.

Bắt đầu từ những năm 1980, người ta ngày càng hiểu biết thêm về cơ sở phân tử của di truyền học và những tiến bộ trong lĩnh vực này đã giúp tìm ra một chân trời mới trong xác địnhcơ sở “thông thường” bệnh gene di truyền (ví dụ: bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm) cũng như cơ sở những đặc điểm di truyền phức tạp (ví dụ, tăng huyết áp). Các cơ sở phân tửtrong sự tương tác giữa gene và môi trường cũng đã bắt đầu được xác định. Ngày nay, nhờ vào sự hỗ trợ của các kĩ thuật nhạy và chuyên biệt, các bác sĩ đã hiểu được cơ sở phân tửcủa các quá trình bệnh sinh phức tạp và xác định nguy cơ các bệnh thông thường ở từng cá nhân. Muốn hiểu biết về y học hiện đại cần phải hiểu biết về di truyền học phân tử và cơ sởphân tử của bệnh.

Chương này cung cấp một cái nhìn tổng quan về di truyền học, trong đó PCR chỉ là một phương pháp ứng dụng các thành tựu khoa học để nhân bản các đoạn DNA (có thể là gene hoặc không) mà thôi, không phải là tất cả như một số người vẫn quan niệm. Nội dung về các nguyên tắc của y học phân tử đã và sẽ được nhấn mạnh ở từng phần cụ thể trong sách, không chỉ về genetics mà còn về epigenetics, proteomics, lipidomics,…

Acid deoxyribonucleic và mã di truyền

Tất cả các thông tin cần thiết để tạo thành một sinh vật đều được mã hoá từ deoxyribonucleic acid (DNA)  chứa trong hạt nhân của mỗi tế bào sinh vật. Các DNA này tạo nên bộ gene của sinh vật. Khung đường deoxyribose của DNA được tạo thành từ liên kết phosphodiester (5′-3′) giữa cacbon thứ năm của vòng pentose này và carbon thứ ba của vòng pentose kế tiếp. Mỗi monomer deoxyribose phosphate liên kết cộng hóa trị với một trong bốn nucleic acid base: adenine purin (A), guanine (G), cytosine pyrimidines (C) và thymine (T). Và các nucleic acid base của 2 chuỗi này nối với nhau bằng các liên kết hydro theo nguyên tắc bổ sung.

Theo nguyên lí nhiệt động lực học thì adenine liên kết với thymidine và cytosine liên kết với guanine.

Trong bộ gene của con người, có khoảng 6 ×109 nucleotide hay 3 ×109cặp nucleotide, liên kết với nhau trong một chuỗi xoắn kép. Tính đặc trưng của DNA được qui định bởi trình tựcác nucleotide, và trình tự này được lưu trữ trong cấu trúc xoắn kép, tạo điều kiện sửa chữa lỗi và cung cấp một cơ chế để nhân rộng các thông tin trong quá trình phân chia tế bào.Trình tự các nucleotide của một mạch đơn trong DNA đóng vai trò như một khuôn mẫu để cho quá trình nhân đôi (quá trình có DNA polymerases tham gia tháo xoắn chuỗi DNA để tạo nên những DNA con giống hệt DNA mẹ).

DNA được nén chặt và liên kết với chromatin protein để tạo thành nhiễm sắc thể trong nhân. Tế bào con người có 23 cặp nhiễm sắc thể, mỗi cặp đều chứa những trình tự nucleotide hay thông tin di truyền riêng biệt.Hầu hết các loại tế bào đều chứa nhiễm sắc thểở trạng thái lưỡng bội, dạng đơn bội chỉ gặp ở những tế bào giao tử. Thông tin di truyền của nhiễm sắc thểđược chứa trong gene. Gene được định nghĩa là một đơn vị trình tự nucleotide, có vai trò mã hóa những chuỗi polypeptide chuyên biệt trong bộ gene lưỡng bội của con người. Có gần 30000 đến 40000 gene không có chức năng mã hóa protein và chức năng của chúng cũng chưa được biết rõ. Trung bình mỗi nhiễm sắc thể có từ 3000 đến 5000, có kích thước từ 1kilobase(kb) đến 2 megabase (Mb).

Hình 47.1: Cấu trúc DNA. Ở bên trái hình là cấu trúc của từng nucleotide với 4 loạinucleic acid base. Ở bên phải hình là cấu trúc xoắn kép của DNA được tạo nên bởi những liên kết hydro, guanine (G) nối với cytosin (C) bằng 3 liên kết hydro còn adenine (A) nối với thymine (T) bằng 2 liên kết hydro.

Vị trí của cácgene trên nhiễm sắc thể rất quan trọng đối với quá trình tiếp hợp và trao đổi đoạn trong giảm phân. Trong quá trình tái tổ hợp thông tin di truyền, các nhiễm sắc thể trong cặp tương đồng (1 có nguồn gốc từ bố và 1 có nguồn gốc từ mẹ) sẽ tiếp hợp và trao đổi đoạnđể tạo nên 1 tổ hợp mới. Khả năng tái tổ hợp thường phụ thuộc vào khoảng cách giữa 2 allele và khoảng cách này được tính bằng centimorgan: 1 centimorgan được qui định là khoảng cách giữa 2 allele mà ở khoảng cách này 2 allele có 1% cơ hội xảy ra hoán vị (hay bắt chéo trao đổi đoạn). Hiện tượng trao đổi đoạn này giúp tạo nên nhiều tổ hợp mới ở các thế hệ sau và qua đó giúp tạo nên sựđa dạng cho bộ gene của loài. Thông qua phân tích xu hướng di truyền cùng nhau của các cặp allele chuyên biệt ta biết được rằng khoảng cách tái tổ hợp trong bộ gene con người xấp xỉ khoảng 3000 centimorgan.

Quá trình tổng hợp protein diễn ra trong bào tương, quá trình này giúp chuyển thông tin di truyền từ DNA trong nhân thông qua mRNA ra bên ngoài bào tương. RNA khác DNA ở 2 điểm trong cấu trúc: (1) khung polymer của RNA được tạo bởi các phân tử đường ribose liên kết với nhau bởi liên kết phosphodieste, (2) RNA cónucleic acid base là U(uracil) thay cho T(thymine) trong DNA. mRNA được tạo ra thông qua hoạt động của enzyme DNA-dependent RNA polymerase trong quá trình phiên mã, men này sao chép chuỗi”antisense” của chuỗi xoắn kép DNA để tạo nên mRNA mạch đơn, mRNA này giống với chuỗi “antisense”của chuỗi xoắn kép DNA. mRNA mới tạo thành bao gồm những đoạn exon (có khả năng mã hóa) nằm xen kẽ với các đoạn intron (không có khả năng mã hóa) nên chúng còn trải qua quá trình cắt để tạo nên mRNA trưởng thành chỉ bao gồm các exon. Những mRNA trưởng thành này sẽ ra khỏi nhân đi vào bào tương và bắt đầu quá trình dịch mãđể tạo thành các chuỗi polypeptide.

Hình 47.2: Bắt chéo và tái tổ hợp. A, 2 nhiễm sắc thể lưỡng bội 1 cặp từ bố và 1 cặp từ mẹ (đỏ và xanh), 2 locus gene được đánh dấu bằng hình tròn và hình vuông. B, bắt chéo của một nhiễm sắc thể lưỡng bội từ một từ bố và một từ mẹ. C, Kết quả của quá trình bắt chéo và trao đổi đoạn.

Tổng hợp protein (dịch mã) xảy ra tại ribosome (phức hợp có phân tử lượng lớn của protein và rRNA ở trong bào tương). Dịch mã là sự chuyển các mã bộ ba di truyền kế tiếp nhau thành các amino acid. Có 64 bộ ba mã hóa được tạo bởi 4 loại nucleotide nhưng chỉ có 20 amino acid khác nhau như vậy một amino acid có thể được mã hóa từ nhiều bộ ba mã hóa. Bắt đầu quá trình dịch mã, tRNA mang amino acid thích hợp sẽ nhận diện và liên kết với bộ ba mã hóa trên mRNA bằng bộ ba đối mã trên nó. Lưu ý: MộttRNA chỉ liên kết được với một amino acid. Tiếp theo các enzym trên ribosome tạo liên kết peptid để nối các amino acid lại với nhau, sau đó tRNA sẽ tách khỏi mRNA. Các amino acid được tiếp tục thêm vào cho đến khi gặp bộ ba kết thúc và kết thúc quá trình dịch mã tại đây. Đây cũng là sự kiện cuối cùng trong quá trình chuyển thông tin từ chuỗi DNA trong nhân sang protein trưởng thành (DNA → RNA → protein). Các protein này ảnh hưởng trực tiếp đến hình dạng và chức năng của sinh vật. Nói cách khác, biểu hiện proteomics quyết định tính trạng chứ không phải khung nền DNA. Vì vậy sự bất thường trong cấu trúc hay chức năng của protein do sự thay đổi của chuỗi amino acid có thể gây nên sự biến đổi ở kiểu hình, thậm chí có thể gây bệnh.

Đọc toàn bộ bài viết tại đây.

KHÁI LƯỢC VỀ EPIGENETICS

KHÁI LƯỢC VỀ EPIGENETICS

Phùng Trung Hùng – Nguyễn Phước Long

Epigenetics là một khái niệm đã được đề xuất từ thập kỉ 40 của thế kỉ XX bởi C.H. Waddington nhằm khảo sát hiện tượng biến đổi biểu hiện gene mà không do tác động của sự thay đổi hóa học của chuỗi DNA trong bộ gene. Thuật ngữ epigenetics bao gồm epi- (επί – ở trên hay ở ngoài) với genetics cho thấy toàn thể tiến trình diễn ra ở ngoài chuỗi DNA và dĩ nhiên không có sự biến đổi nào trong DNA của bộ gene. Từ thế kỉ XIX, người ta đã nhận thấy sự dồi dào thực phẩm trong một mùa bội thu có thể gây sự béo phì cho thế hệ sau mặc dù ở thế hệ sau không có những mùa bội thu tương tự. Hiện tượng này sau đó được biết là do thực phẩm, nhất là các nhóm methyl, SH-, acetyl trong thực phẩm đã gây ra sự biến đổi trong việc biểu hiện các gene có thể gây béo phì. Sự biến đổi trong thế hệ này do các yếu tố ngoại lai gây ra trên sự biểu hiện gene, có thể truyền sang những thế hệ sau. Vấn đề hiện nay thế giới phải đối mặt về vấn nạn béo phì không phải là do dinh dưỡng thừa ở thế hệ hiện tại mà do sự tích lũy các biến đổi biểu hiện gene về mặt epigenetic được di truyền từ những thế hệ trước

Những sự biến đổi biểu hiện gene này đã được biết hiện hữu từ tế bào mầm (germ cell) đến phôi và sinh vật trưởng thành. Như vậy, bản thân của hiện tượng epigenetic là một sự điều biến phenotype. Hậu quả của những sự điều biến này có thể đi từ sự phát triển bình thường của phôi đến sự phát triển ung thư ở sinh vật trưởng thành. Tuy sự điều biến phenotype vô cùng đa dạng những thay đổi phân tử của hiện tượng này lại tương đối khá đơn giản theo những gì người ta biết cho đến nay.

Một thí nghiệm đơn giản đã cho thấy hiện tượng này liên quan đến mội trường sống của sinh vật và là hậu quả của sự điều biến epigenetic: chuột con nếu được nuôi dưỡng từ chuột mẹ với dinh dưỡng và môi trường tốt sẽ trưởng thành như một sinh vật thoải mái và ngược lại.

Hình 48.1: Chuột con trong điều kiện thiếu dinh dưỡng khi trưởng thành dễ bị âu lo (anxiety)

Hình 48.2: Chỉ cần đưa thuốc có thể cung cấp nhóm methyl gắn vào cặp base C-G đã có thể biến đổi chuột từ trạng thái thoải mái thành trạng thái âu lo.

Hình 48.3: Toàn thể tiến trình stress là một chuỗi biểu hiện gene nhằm đáp ứng với tình trạng này do phản ứng của trục hypothalamus-pituitary-adrenal. Chuỗi biểu hiện gene này tạo ra corticotrophin releasing hormone (CRH) ở hypothalamus, adreno-corticotropic hormone (ACTH) ở tuyến yên và cortisol ở tuyến thượng thận, toàn thể hay một phần của các quá trình biểu hiện gene có thể bị biến đổi mãi mãi (remodeling) nếu tình trạng stress kéo dài nhưng có thể chỉ là một phản ứng tạm thời để tạo ra kiểu hình thích ứng (adaptive phenotype).

Từ các ví dụ trên, epigenetics được định nghĩa là nghành học nghiên cứu những biến đổi biểu hiện gene có thể di truyền xảy ra mà không có sự thay đổi nào trong chuỗi DNA của bộ gene. Tuy nhiên, những thay đổi gần đây trong việc sử dụng thuật ngữ đã gợi ý cần phải bỏ bớt tính chất di truyền và như vậy các biến cố epigenetic nên được định nghĩa lại là“ sự thích ứng cấu trúc của nhiều vùng trênNST để xác định, khởi động tín hiệu hay biến đổi hoạt động mãi mãi ”.

Hình 48.4: Minh họa sự gắn kết của nhóm methyl vào chuỗi DNA ở vị trí CpG.

Sự biến đổi biểu hiện gene về mặt epigenetic khởi nguồn từ sự thay đổi khả năng tiếp cận đến các genes đặc biệt của bộ máy chuyển mã (transcription machinery) ở loài eukaryote, hầu hết là thay đổi cấu trúc nhiễm sắc chất hay RNA interference (RNAi). Các thành phần chính trong quá trình điều tiết sự chuyển mã là DNA methylation, biến đổi histone và các biến tướng, proteins nhiễm sắc chất không phải là histone, small interfering RNA (siRNA) và micro RNA (miRNA). DNA methylation là một quá trình chuyển nhóm methyl  từ S-adenosylmethionine  đến đầu 5´ của vòng cytidine. Ở loài có vú, cytidines gắn kết với guanosine trên chuỗi tương thích và có những đoạn trên cùng một mạch có trình tự C-G.Do vậy, thuật ngữ CpGs để chỉ vị trí methyl hóa ở trình tự C-G trên 2 cùng mạch DNA, cần phân biệt với việc gắn kết C-G trên chuỗi DNA tương hợp và trường hợp trên chuỗi cùng mạch khác như CpG oligodeoxynucleotide ( p là phosphodiester). Cytosines gắn kết với base khác ngoài guanine (như CpA) cũng có thể bị methyl hóa. CpGs hiện diện rất nhiều trong một đoạn DNA ngắn được gọi là đảo CpG, được phát hiện gần 40% trong các promoters của động vật có vú.

Methyl hóa DNA được thiết lập và duy trì bởi các enzymes thuộc họ DNA methyltransferase (DNMT). Hệ quả của methyl hóa DNA trên sự biểu hiện gene là gây nên một sự hỗn độn làm giảm sự biểu hiện gene, vì vậy được gọi là làm câm nín gene (gene  silencing). Hiện tượng câm nín này có thể do phát động tiến trình giảm ái lực hay hủy bỏ hoàn toàn khả năng gắn kết của các yếu tố chuyển mã (transcription  factor) vào vùng DNA bị methyl hóa hoặc tương tác trực tiếp với DNMTs, histone deacetylases, methyltransferases hay các đồng ức chế chuyển mã khác.

Hình 48.5: Cơ chế kháng viêm của corticosteroids trong hen phế quản.(1) Các gene gây viêm được hoạt hóa bởi các yếu tố gây viêm (IL-1β, TNF-α,…), hoạt hóa IKKβ (inhibitor of I-kappaB kinase-β), sau đó phân tử này sẽ hoạt hóa yếu tố phiên mã nhân NF-kappaB. Bộ dimer p50 và p65 của protein di chuyển vào trong nhân và gắn vào vị trí nhận diện và cũng là vùng đồng hoạt hóa kappaB (Như CREB, có hoạt tính HAT nội sinh). Kết quả của quá trình này là sự acetyl hóa histone và do vậy tăng biểu hiện của gene mã hóa cho nhiều protein đáp ứng viêm. (2) Các thụ thể của glucocorticoid gắn vào corticosteroids, phức hợp này vào nhân và bất hoạt hoạt tính của HAT bằng hai cách: Trực tiếp – quan trọng hơn bởi histone deacetylase-2 (HDAC2) – đảo ngược quá trình acetyl hóa histone và ức chế các gene gây phản ứng viêm.

Đọc trọn vẹn bài viết tại đây.

Bệnh lý võng mạc do đái tháo đường

Bệnh lý võng mạc do đái tháo đường

(Diabetes retinopathy)

Nguyễn Thiện Luân – Nguyễn Phước Long

 

A. Các đốm xuất huyết nhỏ, vi phình mạch, các mảng xuất tiết nặng (mảng lipid), bệnh lý võng mạc hình vòng (circinate retinopathy), bất thường vi mạch trong võng mạc, và phù hoàng điểm. B. Chụp mạch huỳnh quang (fluorescein angiography) của mắt ở hình A. Vi phình mạch dưới dạng các đốm bắt huỳnh quang sáng hơn, tuy nhiên các đốm xuất huyết lại không bắt huỳnh quang. Vùng vô mạch rộng hơn.

Chỉnh sửa dưới sự cho phép từ Yanoff M, Duker JS, Ophthalmology, 3rd edn, London: Mosby, 2008: Fig 6-19-1.

 

Hình ảnh bệnh võng mạc không tăng sinh với các vết xuất huyết, mảng xuất huyết và xuất tiết dạng bông.

Chỉnh sửa với sự cho phép từ Yanoff M, Duker JS, Ophthalmology, 3rd edn, London: Mosby, 2008: Fig 6-19-2.

 

Bệnh võng mạc tăng sinh nặng do đái tháo đường với các hình ảnh xuất tiết dạng bông, bất thường vi mạch trong võng mạc và chảy máu tĩnh mạch.

Chỉnh sửa với sự cho phép từ Goldman L, Ausiello D, Cecil Medicine, 23rd edn, Philadelphia: Saunders, 2007: Fig 449-16.

Mô tả triệu chứng

“Bệnh lý võng mạc do đái tháo đường” là một thuật ngữ mang tính khái quát (umbrella term) mô tả những biến đổi đặc trưng ở mắt trong bệnh cảnh đái tháo đường. Một số thuật ngữ và nguyên nhân có sự trùng lắp với bệnh lý võng mạc do tăng huyết áp (hypertensive retinopathy) và có chung một số con đường đích (final pathways). Xem thêm mục “Bệnh lý võng mạc do tăng huyết áp” ở Chương 3, “Các triệu chứng tim mạch” (“Cardiovascular signs”).

Bệnh võng mạc do đái tháo đường có thể được phân thành một số nhóm như ở bảng 7-1.

Đọc bài đầy đủ  tại đây.

Dấu Chvostek trong hạ calci máu

Dấu Chvostek

(Chvostek’s sign)

Nguyễn Phước Long – Nguyễn Thiện Luân

Mô tả triệu chứng

Người khám dùng búa gõ vào má bệnh nhân ở vị trí trước tai và vừa dưới xương gò má. Mục đích của động tác này là để kích thích thần kinh mặt, gây co các cơ mặt cùng bên. Dấu dương tính khi cơ co như hình minh họa. Về mặt ý nghĩa, dấu Chvostek gợi ý tình trạng tetany tiềm ẩn và tăng kích thích thần kinh cơ (neuromuscular excitability).

 

Hình: Dấu Chvotek dương tính. Ảnh được người dịch cung cấp.

Xem thêm dấu Trousseau.

Tình trạng đi kèm

Phổ biến

Hạ calci máu (hypocalcaemia) bởi một trong các nguyên nhân sau:

–          Nhược tuyến cận giáp (hypoparathyroidism) – Đặc trưng bởi tình trạng thiếu hormone tuyến giáp trong cơ thể.

–         Giảm vitamin D.

–          Giả nhược tuyến cận giáp (pseudohypoparathyroidism) – Một rối loạn di truyền với biểu hiện lâm sàng của bệnh lý nhược tuyến cận giáp nhưng khác ở chỗ nó là hậu quả của việc cơ thể không có khả năng đáp ứng lại khi được kích thích bởi hormone tuyến cận giáp.

–         Viêm tụy (pancreatitis).

–         Tăng thông khí/kiềm hô hấp.

Ít phổ biến

–         Hạ magne (Mg2+) máu.

Cơ chế

Tất cả các bệnh nhân có dấu Chvostek dương tính đều ở tình trạng tăng kích thích thần kinh (cơ). Khi thần kinh mặt bị kích hoạt, nó sẽ làm co cơ mạnh một cách bất thường. Có 3 con đường chính như sau.

–         Hạ calci máu: Ion calci rất cần thiết để duy trì tính thấm màng tế bào thần kinh do có khả năng khóa kênh Natri màng. Khi nồng độ calci ngoại bào thấp và/hoặc không hiện diện để làm chức năng của nó, tính thấm của kênh Natri tăng lên, Natri sẽ đi vào tế bào nhiều hơn, tế bào trở nên kém phân cực và dễ bị kích thích đạt ngưỡng điện thế hoạt động.

–         Tăng thông khí và kiềm hô hấp sẽ làm giảm nồng độ ion calci hoạt động (active ionised calcium) do đã bị gắn kết vào protein huyết tương, chủ yếu là AlbuminAlbumin ở pH kiềm sẽ tạo thành một “ổ” điện tích âm do các amino acid thành phần đã bị mất H+, vì vậy có khả năng tạo liên kết có bản chất ion với các ion, đặc biệt là các ion nguyên tố hóa trị II.

Cơ chế được mô tả ở hình dưới đây:

 

Sơ đồ mô tả quá trình tăng không khí – kiềm hô hấp và tăng kích thích thần kinh.

Kiềm hô hấp rất thường xảy ra khi bệnh nhân tăng thông khí vì lượng CO2 bị đào thải liên tục. Cơ chế hóa học với nguyên lý chuyển dời cân bằng và phương trình Henderson – Hasselbach sẽ làm chiều phản ứng ưu tiên về hướng sản xuất lại CO2 thay thế cho lượng mất đi. Cơ chế bù trừ này làm giảm nồng độ H+, gây kiềm hóa máu. Cần lưu ý rằng, nồng độ ion calci tự do lại rất lệ thuộc vào thay đổi pH. Sự kiềm hóa làm giảm ion calci ngoại bào, kênh Natri không bị khóa và sự ổn định điện thế màng không còn được tôn trọng.

–         Hạ Magne máu: Bản thân vai trò của ion Magne trong cơ thể sinh học vẫn còn đang được nghiên cứu, do vậy vai trò của tình trạng hạ Magne máu gây tetany vẫn chưa được hiểu rõ. Tuy nhiên chúng ta đều biết rằng, Magne rất thiết yếu cho việc duy trì, điều hòa kênh và tải ion ở các mô có hoạt động điện mạnh (thần kinh, cơ,…), ảnh hưởng đến hoạt động điện thế màng tế bào.

Một số quá trình tế bào chịu tác dụng bởi Magne cần chú ý bao gồm:

o   Hoạt động Na+/ATPase – Nồng độ Magne thấp làm giảm hoạt tính của nó.

o   Khóa kênh K+ màng tế bào – Nồng độ Magne thấp gây mất nhiều K+ nội bào.

o   Nồng độ Magne thấp ức chế hormone cận giáp và gây hạ Calci máu, góp phần gây tetany.

o   Hoạt động của kênh Ca2+.

Giá trị triệu chứng

Có rất ít bằng chứng về giá trị của một dấu Chvostek dương tính. Tuy nhiên, nó vẫn được chấp nhận là một bằng chứng sơ khởi của hạ calci máu và tăng kích thích thần kinh. Cần lưu ý rằng, độ chuyên của dấu Chovostek chỉ vào khoảng 25% – nghĩa là những người có nồng độ calci máu bình thường vẫn có thể có dấu Chvostek dương tính.

Các câu hỏi, ý kiến thảo luận cũng như đóng góp cho bài viết vui lòng gửi về diễn đàn docsachysinh.com:

http://www.docsachysinh.com/forum/ hoặc

http://www.docsachysinh.com/forum/index.php?forums/noi-tiet-hoc-endocrinology.96/

Vết bầm máu (do va chạm nhẹ) – Bruising

Vết bầm máu (do va chạm nhẹ)

(Bruising)

Nguyễn Thiện Luân – Nguyễn Phước Long 

 

(Hình do người dịch bổ sung)

 

Mô tả triệu chứng

Ở đây đề cập đến vết bầm máu gây ra do chấn thương rất nhẹ (minimal trauma) (chấn thương mà bình thường không thể gây ra vết bầm máu).

Tình trạng đi kèm

– Hội chứng Cushing

– Tăng urea huyết

Xem thêm phần “Mảng xuất huyết, ban xuất huyết và chấm xuất huyết” (“Ecchymoses, purpura and petechiae”) ở chương 4, “Các triệu chứng Huyết học/Ung bướu” (“Haematological/oncological signs”) để xem các nguyên nhân khác.

Cơ chế

  • Hội chứng Cushing

Sự mất lớp mô liên kết dưới da do tác động chuyển hóa của glucocorticoid làm bộc lộ các mạch máu dưới da, do đó dễ dàng xảy ra vỡ mạch máu. Cơ chế này giống như cơ chế hình thành các vết rạn da.

  • Tăng urea huyết

Cơ chế phức tạp và chưa rõ.

Có lẽ nồng độ urea trong máu tăng sẽ ảnh hưởng đến chức năng của tiểu cầu (platelet function) hơn là số lượng tiểu cầu (thrombocytopenia), khiến quá trình hoạt hóa (activation), kết tập (aggregation) và bám dính (attachment) tiểu cầu vào lớp nội mạc mạch máu (blood vessel endothelium) không được hiệu quả.

Hình ảnh mô tả cơ chế hình thành vết bầm máu trong suy thận

Các yếu tố chủ chốt liên quan đến rối loạn hình thành cục máu đông (clotting dysfunction) ở bệnh nhân có tăng urea huyết được thể hiện trong hình trên.

– Chức năng tiểu cầu: Rối loạn trong việc tiết các yếu tố tiền kết tập tiểu cầu (pro-aggregation factor), sự mất cân bằng giữa các chất hoạt hóa (agonist) và ức chế (inhibitor) tiểu cầu, sự tăng quá mức hormone tuyến cận giáp (parathyroid hormone) gây ức chế kết tập tiểu cầu và sự giảm thromboxane A2 đều góp phần dẫn đến sự hoạt hóa hoặc kết tập tiểu cầu không hiệu quả.

– Bám dính thành mạch (vessel wall attachment): Một vài yếu tố gây nên sự bám dính thành mạch không hiệu quả. Bình thường, tiểu cầu có một số protein chịu trách nhiệm bám dính vào cả tiểu cầu khác và thành mạch, do đó giúp hình thành cục máu đông và từ đó giúp cầm máu. Các độc tố có nguồn gốc từ urea (“uraemic” toxin) làm giảm glycoprotein GP1b và gây rối loạn chức năng một số thụ thể (αIIb, β3), các yếu tố mà bình thường cần cho việc bám dính thành mạch và cần cho sự tương tác giữa vWF (von Willebrand Factor) và fibrinogen, do đó ức chế sự hình thành cục máu đông. Ngoài ra, sự tăng một số yếu tố khác có tác dụng ức chế hình thành cục máu đông, như NO và PGI2, cũng gặp trên những bệnh nhân có tăng urea huyết. Việc tăng nồng độ các chất ức chế này cũng góp phần hình thành những cục máu đông không hoàn chỉnh, dẫn đến việc dễ dàng xuất hiện vết bầm máu.

– Thiếu máu: Hồng cầu là một thành phần không thể thiếu trong quá trình hoạt hóa tiểu cầu bình thường cũng như trong quá trình hình thành cục máu đông. Khi số lượng hồng cầu bình thường, chúng “đẩy” các tiểu cầu về phía nội mạc mạch máu và do đó thúc đẩy quá trình hoạt hóa tiểu cầu phụ thuộc ADP. Những bệnh nhân có tăng urea huyết thường có kèm thiếu máu, và khi đó những quá trình bình thường này sẽ bị giảm hoặc mất, dẫn đến kéo dài thời gian chảy máu. Một số nghiên cứu cũng cho thấy đây là nguyên nhân chính gây chảy máu kéo dài ở những bệnh nhân có tăng urea huyết.

– Các yếu tố khác: Một số loại thuốc, bao gồm cephalosporins và aspirin, cũng có ảnh hưởng đến chức năng tiểu cầu.

Các câu hỏi, ý kiến thảo luận cũng như đóng góp cho bài viết vui lòng gửi về diễn đàn docsachysinh.com:

http://www.docsachysinh.com/forum/ hoặc

http://www.docsachysinh.com/forum/index.php?forums/noi-tiet-hoc-endocrinology.96/

Dấu hiệu bập bềnh thận

Dấu hiệu bập bềnh thận

(Ballotable kidney)

Nguyễn Phước Long – Nguyễn Thiện Luân

 

Hình ảnh mô tả thủ thuật bập bềnh thận.

 

Mô tả triệu chứng

Người khám cho bệnh nhân nằm ngửa, bắt đầu cho một tay để qua hông bệnh nhân, tay còn lại đặt phía trước tại vị trí của góc sườn hoành (costophrenic angle) như hình vẽ. Bàn tay ở bên dưới sau đó “hất thận” lên trên, nếu bàn tay còn lại có thể cảm nhận thấy thận chạm vào thì nghiệm pháp dương tính.

Tình trạng đi kèm

Phổ biến

–         Bệnh lý thận đa nang (polycystic kidney disease) – Bệnh lý di truyền trội trên NST thường của thận. Bệnh lý diễn tiến âm thầm, xuất hiện chủ yếu ở người trưởng thành và thường chỉ có triệu chứng ở tuổi trung niên. Ở Mỹ, cứ 1000 người thì có 1 người mắc bệnh (tuy nhiên con số thực tế có thể lớn hơn do người ta chỉ ghi nhận được các trường hợp có triệu chứng). Người ta cũng ghi nhận được thể bệnh lý thận đa nang di truyền lặn. Nó ít phổ biến hơn, xuất hiện chủ yếu ở thời niên thiếu và trở nên trầm trọng một cách nhanh chóng, diễn tiến đến bệnh lý phổi, gan nặng, bệnh thận giai đoạn cuối và thường gây tử vong sớm.

Ít phổ biến

–         Carcinoma tế bào thận.

–          Khối u Wilm (Wilm’s tumour) – Một dạng ung thư thận hiếm gặp ở trẻ em. Khối u có thể xuất hiện 1 hoặc cả 2 bên thận. Nguy cơ mắc phải bệnh lý này tăng lên ở một số điều kiện di truyền nhất định, do vậy những trẻ có nhiều nguy cơ cần được tầm soát mỗi 3 tháng một lần cho đến khi 8 tuổi. Bệnh có thể chữa khỏi hoàn toàn (cure) ở hầu hết các trường hợp.

–         Amyloidosis.

–         Lymphoma.

–         Tắc nghẽn niệu đạo – Thận ứ nước (hydronephrosis).

Cơ chế

Thận to vì bất kì lý do gì như khối u, thâm nhiễm dạng bột (amyloid infiltration) hay nang phát triển bất thường (aberrant cystic expansion),… đều có xu hướng tiến gần hơn về thành trước bụng. Do vậy có thể cảm nhận sự sờ chạm khi có lực đẩy lên từ thành bụng sau lúc bệnh nhân nằm ngửa.

Giá trị của triệu chứng

Hầu như không có bằng chứng về giá trị của nghiệm pháp bập bềnh thận. Nhìn chung thì cảm giác chạm được thường không rõ ràng, vậy nên cần làm thêm các phương pháp chẩn đoán khác. Tuy nhiên, nghiệm pháp này âm tính không có nghĩa loại trừ tình trạng bệnh lý của thận.

 

Các câu hỏi, ý kiến thảo luận cũng như đóng góp cho bài viết vui lòng gửi về diễn đàn docsachysinh.com:

http://www.docsachysinh.com/forum/ hoặc

http://www.docsachysinh.com/forum/index.php?forums/noi-tiet-hoc-endocrinology.96/

Tại sao bài báo khoa học bị từ chối

Tại sao bài báo khoa học bị từ chối?

Tình trạng nghiên cứu và công bố bài báo khoa học của Việt Nam qua các số liệu cụ thể của GS Nguyễn Văn Tuấn. Cùng xem để biết thực trạng, nguyên nhân, các giải pháp khắc phục và định hướng chính trong tương lai.
Tại sao bài báo bị từ chối 1
Tại sao bài báo bị từ chối 2
Tai sao bài báo bị từ chối 3
Tại sao bài báo bị từ chối 4
Tại sao bài báo bị từ chối 5
Tại sao bài báo bị từ chối 6
Xem thêm các tin khác tại diễn đàn

Tinh hoàn teo – Atrophic testicles

Tinh hoàn teo

(Atrophic testicles)

Nguyễn Thiên Luân – Nguyễn Phước Long

 

Hình ảnh mô tả kích thước tinh hoàn bình thường và teo, đo bằng thước đo tinh hoàn (orchidometer) Prader. A: người nam bình thường, kích thước tinh hoàn bên phải 20mL; B: bệnh nhân nam có hội chứng Kallmann, kích thước tinh hoàn bên phải 5ml. (Matsumoto AM. The testis. In: Felig P, Frohman LA, eds. Endocrinology and Metabolism, 4th ed. New York, NY: McGraw-Hill; 2001:635-705.). Nguồn:Williams Textbook of Endocrinology 12nd Edition.

(Hình do người dịch bổ sung)

 

Mô tả triệu chứng

Tinh hoàn có kích thước nhỏ hơn bình thường.

Thể tích trung bình của tinh hoàn một người trưởng thành vào khoảng 18.6 ± 4.8mL. Kích thước tinh hoàn được đo bằng thước đo tinh hoàn hình xoan (ellipsoid orchidometer) – với phương pháp đo này, đa số người nam trưởng thành có thể tích mỗi tinh hoàn > 15mL.

Tình trạng đi kèm

Phổ biến

Chấn thương

Xơ gan

Giãn tĩnh mạch thừng tinh (varicocoele)

Ít phổ biến

Hội chứng Klinefelter

Hội chứng Prader-Willi

Suy tuyến yên (hypopituitarism)

Nhiễm trùng

Dùng các thuốc steroid tăng đồng hóa (anabolic steroid)

 

Cơ chế

70-80% thể tích của tinh hoàn là do các ống sinh tinh (seminiferous tubule) tạo nên, do đó bất cứ tổn thương hoặc rối loạn chức năng nào liên quan đến các ống này đều có thể dẫn đến teo tinh toàn.

Quá trình phát triển bình thường của tinh hoàn đòi hỏi phải cung cấp đủ máu và các hormone hoàng thể hóa (LH – luteinizing hormone) và hormone kích thích nang trứng (FSH – follicular stimulating hormone). Teo tinh hoàn có thể gây ra bởi tình trạng thiếu máu, chấn thương, thiếu kích thích từ hormone (như suy tuyến sinh dục nguyên phát hoặc thứ phát – primary or secondary hypogonadism) hoặc do bất thường về di truyền.

  • Hội chứng Klinefelter (47XXY)

Trong hội chứng Klinefelter, rối loạn về di truyền dẫn đến việc cơ thể có dư 1 NST X. Trong hội chứng này, các hormone hướng sinh dục (LH và FSH) tăng trong thời kỳ dậy thì, các ống sinh tinh xơ hóa, teo nhỏ lại và có thể bị tắc nghẽn. Do đó, thể tích tinh hoàn bị giảm. Tuy nhiên cơ chế của toàn bộ hiện tượng này vẫn chưa rõ ràng.

  • Hội chứng Prader-Willi

Đột biến NST 15 dẫn đến giảm tổng hợp GnRH, từ đó làm giảm hoặc thay đổi nồng độ FSH/LH, do đó làm giảm kích thích tổng hợp testosterone và tinh trùng đối với tinh hoàn. Hậu quả của việc “giảm sử dụng” này là tinh hoàn bị teo.

  • Dùng các thuốc steroid tăng đồng hóa (anabolic steroid)

Các steroid ngoại sinh sẽ gây ức chế lên trục hạ đồi, cụ thể là ức chế tổng hợp LH, do đó ức chế tổng hợp testosterone, cuối cùng dẫn đến teo tinh hoàn.

  • Giãn tĩnh mạch thừng tinh (varicocoele)

Giãn tĩnh mạch thừng tinh làm rối loạn chức năng tinh hoàn, và trong một số trường hợp sẽ gây teo tinh hoàn thông qua nhiều yếu tố, trong đó bao gồm sự tăng nhiệt độ trong bìu, sự thay đổi lưu lượng máu đến, stress do các gốc oxi hóa (oxidative stress) và sự giảm tổng hợp testosterone.

  • Xơ gan

Tế bào gan bị tổn thương không thể đảm nhiệm chức năng thoái giáng androgen, do đó làm ứ đọng androgen trong cơ thể, làm tăng lượng oestrogen được chuyển hóa từ androgen. Bên cạnh đó, gan cũng giảm chức năng thoái giáng oestrogen. Nồng độ oestrogen cao dẫn đến giảm tổng hợp testosterone và tinh hoàn, giảm kích thước ống sinh tinh, từ đó dẫn đến teo tinh hoàn.

  • Alcohol

Alcohol gây teo tinh hoàn thông qua các cơ chế trực tiếp và gián tiếp.

– Trực tiếp: alcohol và một số sản phẩm thoái giáng được xem là chất độc đối với tế bào Leydig và sẽ làm giảm sự sinh tinh trùng.

– Gián tiếp: alcohol có thể ức chế chức năng vùng hạ đồi và tuyến yên. Một số nghiên cứu cho thấy có sự giảm nồng độ LH ở những người có sử dụng alcohol.

Giá trị của triệu chứng

Mặc dù là một triệu chứng không đặc hiệu, nhưng nếu có teo tinh hoàn thì việc thăm khám tìm các triệu chứng và nguyên nhân liên quan đến rối loạn hormone nên được tiến hành.

Một số câu hỏi thảo luận dành cho bạn đọc:

1. Nhiễm trùng ở cơ quan nào và những tác nhân nhiễm trùng nào có thể dẫn đến teo tinh hoàn?

2. Cơ chế tác động của alcohol và các sản phẩm thoái giáng lên tế bào Leydig, vùng hạ đồi và tuyến yên gây teo tinh hoàn.

 

Các câu hỏi, ý kiến thảo luận cũng như đóng góp cho bài viết vui lòng gửi về diễn đàn docsachysinh.com:

http://www.docsachysinh.com/forum/ hoặc

http://www.docsachysinh.com/forum/index.php?forums/noi-tiet-hoc-endocrinology.96/