Tag Archives: nguyễn văn tuấn

Đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam Phần cuối – Những bài luận văn dưới tầm

Theo một thống kê công bố trước đây, trong số 97 đề tài nghiên cứu tiến sĩ ở một trường đại học kinh tế, có đến 57 đề tài về giải pháp, không xứng tầm luận án tiến sĩ.

Chạy theo bằng cấp, học vị đang thành hư danh. Ảnh: TL

Vấn đề học thuật

Về đề tài nghiên cứu. Suốt năm này sang năm khác, báo chí đều nêu ra những trường hợp luận án tiến sĩ… vô bổ. Quả là tựa đề của nhiều luận án không khỏi làm người ta nêu câu hỏi liệu đó có phải là một đề tài nghiên cứu khoa học hay đề tài hành chính. Xin trích một nhận xét khác của GS Trần Văn Thọ: “Cách suy nghĩ về việc chọn đề tài ở Việt Nam chỉ làm cho luận án thiếu tính học thuật và phần lớn thiếu tính độc sáng. Nội dung, trình độ của luận án do đó còn rất xa mới đạt tiêu chuẩn tối thiểu của thế giới, và người được cấp bằng trong trường hợp đó khó có thể thảo luận khoa học với chuyên gia nước ngoài trong cùng ngành”.

Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận xét trên. Tôi đã có dịp đọc qua nhiều luận án trong ngành y từ Nam chí Bắc thì đại đa số chỉ là tập hợp hai hoặc ba báo cáo của một nghiên cứu duy nhất. Nội dung thì rất đơn giản, phần lớn chỉ mang tính kiểm kê lâm sàng (giống như làm bài tập thống kê, và đếm bao nhiêu ca bệnh). Có thể nói không ngoa rằng tuyệt đại đa số những luận án tôi xem qua chỉ xứng đáng luận án cử nhân danh dự hay cao học (thạc sĩ) mà thôi.

Về chuẩn mực đào tạo tiến sĩ. Ở Việt Nam, các đại học chưa có những chuẩn mực đào tạo tiến sĩ. Người ta chỉ nói chung chung rằng một luận án phải có “cái mới”, nhưng không nói rõ cái mới là gì, và dẫn đến tình trạng mỗi nơi hiểu một cách về văn bằng tiến sĩ. Vì thế chất lượng đào tạo không đồng đều nhau.

Trước đây, tôi đã đề nghị sáu tiêu chuẩn cho một luận án tiến sĩ (xem bảng). Để có được văn bằng tiến sĩ, ứng viên phải đạt hai điều kiện. Thứ nhất, ứng viên phải có kiến thức uyên bác và làm chủ kiến thức về một đề tài khoa học. Thứ hai, ứng viên phải mở rộng hay phát triển thêm tri thức về đề tài đó. Để làm chủ đề tài nghiên cứu, nghiên cứu sinh phải tìm đọc và cố gắng hiểu tất cả những gì đã viết hay công bố về đề tài đó. Không phải như bậc cử nhân, kiến thức thường có thể tìm thấy trong sách giáo khoa, đối với bậc tiến sĩ kiến thức thường được tìm trong các tập san khoa học. Để mở rộng kiến thức về một đề tài, nghiên cứu sinh phải làm nghiên cứu khoa học theo sự hướng dẫn của thầy cô. Chính phần nghiên cứu khoa học này phân biệt giữa tiến sĩ và các chương trình cử nhân hay thạc sĩ. Học tiến sĩ thực chất là làm nghiên cứu khoa học. Không có nghiên cứu khoa học thì không thể là tiến sĩ được.

Cũng cần nhấn mạnh rằng đề án nghiên cứu cấp tiến sĩ không nhất thiết phải mang tính ứng dụng thực tiễn (như nhiều người ngộ nhận), mà phải thể hiện một đóng góp mới vào tri thức chuyên ngành. “Tri thức mới” ở đây bao gồm việc phát hiện mới, khám phá mới, hay cách diễn giải mới cho một vấn đề cũ, hay ứng dụng một phương pháp mới để giải quyết một vấn đề cũ… Những tri thức như thế có thể không có khả năng ứng dụng trong tương lai gần, nhưng có thể góp phần thúc đẩy chuyên ngành phát triển một mức cao hơn. Xin nhớ rằng khám phá insulin phải đợi gần 50 năm sau mới được ứng dụng lâm sàng.

Học tiến sĩ không phải chỉ “làm luận án”

Có rất nhiều người tưởng rằng học tiến sĩ chủ yếu là hoàn tất một luận án, nhưng thực tế thì không phải như thế vì luận án chỉ là một phần của chương trình đào tạo. Luận án là một báo cáo có hệ thống những phương pháp và kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh. Do đó, luận án chỉ là một tiêu chuẩn (có thể quan trọng) trong các tiêu chuẩn để được cấp bằng tiến sĩ.

Một luận án khi hoàn tất mà chỉ để trên giá sách của thư viện trường cũng chỉ là một mớ tài liệu ít người biết đến. Vì ít người biết và nằm trong thư viện, nên chẳng có bao nhiêu người biết được luận án đó có gì mới hay xứng đáng với cấp tiến sĩ hay không. Do đó, nghiên cứu sinh cần phải công bố vài bài báo khoa học trên các tập san khoa học quốc tế trước khi viết luận án. Công bố quốc tế là một hình thức “thử lửa” tốt nhất cho nghiên cứu sinh, bởi qua đó đồng nghiệp khắp thế giới có thể thẩm định chất lượng của công trình nghiên cứu và luận án của nghiên cứu sinh.

Thật ra, công bố quốc tế là điều gần như tất yếu trong quá trình học tiến sĩ ở các đại học Âu, Mỹ và Úc, những nơi mà họ khuyến khích (có nơi gần như bắt buộc) nghiên cứu sinh công bố vài bài báo khoa học trước khi viết luận án tiến sĩ. Ở một số nước Bắc Âu, luận án tiến sĩ thực chất là tập hợp một số bài báo khoa học đã công bố trên các tập san quốc tế. Ngày nay, các đại học lớn ở Thái Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Philippines… cũng quy định tương tự.

Ở Việt Nam, người ta nghĩ rằng xong chương trình tiến sĩ là đạt đỉnh cao học thuật, không cần học gì thêm nữa. Quan điểm này hết sức sai lầm. Xong tiến sĩ có thể ví von như là xong học nghề. Người học cần phải trau dồi tay nghề mới có thể trở thành độc lập. Nhưng rất tiếc là đại đa số tiến sĩ được Việt Nam gửi ra ngoài đào tạo chưa qua chương trình hậu tiến sĩ, vì theo quy định họ phải về nước. Vì thế, phần lớn chưa có cơ hội thực tập sau tiến sĩ, và trình độ có khi cũng còn hạn chế. Còn ở trong nước thì không có chương trình hậu tiến sĩ. Theo tôi, cần phải gửi nghiên cứu sinh xong tiến sĩ ra ngoài theo đuổi chương trình hậu tiến sĩ để đào tạo những người này thành nhà khoa học chuyên nghiệp. Điều này có thể không dễ, vì xin được một suất học hậu tiến sĩ rất khó và cạnh tranh ác liệt. Nhưng nếu nghiên cứu sinh có công bố quốc tế trên các tập san tốt thì việc xin nghiên cứu hậu tiến sĩ cũng dễ dàng hơn.

Nước ta có chiến lược đào tạo 20.000 tiến sĩ từ nay đến năm 2020. Hiện nay, theo nhiều nguồn thống kê, Việt Nam đã có 24.000 tiến sĩ. Nhưng trong số này, chỉ có khoảng 7.300 người hay 30% làm việc tại các đại học (niên học 2011 – 2012). Chính con số này giải thích một phần lớn tại sao mức độ hoạt động nghiên cứu khoa học ở Việt Nam chỉ bằng 1/5 của Thái Lan và 1/8 của Singapore, trong khi hai nước đó có số tiến sĩ thấp hơn nước ta. Đã đến lúc phải chấn chỉnh các chương trình đào tạo tiến sĩ trên toàn quốc (chứ không phải chỉ vài nơi) để nâng cao uy tín học thuật nước nhà.

NGUYỄN VĂN TUẤN

Tiêu chuẩn đề nghị cho học vị tiến sĩ

Trong cuốn Chất lượng giáo dục đại học (nhà xuất bản Tổng Hợp, 2011), dựa vào tiêu chuẩn quốc tế và kinh nghiệm cá nhân, tôi đề nghị nghiên cứu sinh phải đáp ứng sáu tiêu chuẩn sau:

– Có kiến thức cơ bản về khoa học, và kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực nghiên cứu mà nghiên cứu sinh theo đuổi;

– Am hiểu các tài liệu nghiên cứu cần thiết về lĩnh vực chuyên môn mình theo đuổi, có khả năng cập nhật hoá kiến thức cũng như tất cả những phát triển mới liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu;

– Phải chứng tỏ kỹ năng phát hiện vấn đề hay đặt câu hỏi có ý nghĩa cho nghiên cứu chuyên ngành của mình;

– Làm chủ được phương pháp nghiên cứu khoa học hay phương pháp thí nghiệm cơ bản;

– Đạt được những kỹ năng về truyền đạt thông tin, kể cả trình bày kết quả nghiên cứu trong các diễn đàn khoa học quốc gia và quốc tế, khả năng viết báo cáo khoa học;

– Nắm vững kỹ năng thiết kế một công trình nghiên cứu và độc lập trong nghiên cứu.

Đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam: nhận thức và chất lượng

Đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam: nhận thức và chất lượng

LTS: Những lùm xùm trong việc đào tạo tiến sĩ, mới đây nhất là quyết định đóng cửa một số trung tâm đào tạo tiến sĩ lại chính là cơ hội lý tưởng để nhìn lại vấn đề nổi cộm và bức xúc nhất trong đào tạo tiến sĩ: chất lượng.

Kỳ 1: Dân không trọng, quốc tế không công nhận

SGTT.VN – Học vị tiến sĩ là văn bằng cao nhất trong hệ thống đại học phương Tây. Ở ta, từ cả ngàn năm trước, người đỗ tiến sĩ được xem như những ông nghè, là giới tinh hoa học thuật của nước nhà, do đó hệ thống đào tạo tiến sĩ được thiết lập rất chặt chẽ và nghiêm chỉnh.

Ông nghè về làng: một cách vinh danh sự học của triều Nguyễn. Ảnh: tư liệu

Thế nhưng ở Việt Nam ngày nay, văn bằng tiến sĩ có khi trở thành một đề tài cho công chúng đàm tiếu. Tại sao người dân khinh thường tiến sĩ như thế?

Nhận thức sai

Cách đây khoảng hai năm, Hà Nội đề ra chiến lược đến năm 2012 thành phố sẽ có 50% công chức khối chính quyền có bằng tiến sĩ, và đến năm 2020, 100% công chức diện thành phố quản lý (cấp chi cục trưởng và chi cục phó) có bằng tiến sĩ. Đó là một suy nghĩ rất lạ lùng.
Hà Nội không phải là trường hợp cá biệt với tư duy tiến sĩ hoá công chức như trên; các nơi khác cũng có những chính sách bất thành văn về việc bổ nhiệm cán bộ công nhân viên dựa vào bằng tiến sĩ. Ngày nay, để được đề bạt vào các chức vụ trưởng, giám đốc sở, trưởng khoa ở đại học… thì ứng viên phải có bằng tiến sĩ. Có trường hợp người ta bổ nhiệm nhân sự rồi, và tìm cách “hợp thức hoá” (tức kiếm bằng tiến sĩ cho họ). Văn bằng tiến sĩ không còn mang tính học thuật, mà là một phương tiện đạt được cứu cánh làm quan.

Nhận thức về bằng tiến sĩ như trên là một sai lầm. Có thể nói ngắn gọn rằng chương trình đào tạo tiến sĩ là để cung cấp cho xã hội những nhà khoa học chuyên nghiệp và giáo sư đại học tương lai. Văn bằng tiến sĩ có thể ví von là một “giấy thông hành” của nhà khoa học. Mục tiêu số một của chương trình học tiến sĩ là đào tạo các nhà khoa học chuyên nghiệp, những người am hiểu chuyên sâu một lĩnh vực nào đó, có khả năng phát hiện, thiết kế thí nghiệm hay nghiên cứu giải quyết vấn đề, có khả năng phân tích và diễn giải kết quả nghiên cứu, có khả năng truyền đạt kết quả nghiên cứu đến đồng nghiệp trong chuyên ngành và công chúng. Không phải nhà khoa học chuyên nghiệp nào cũng cần bằng tiến sĩ (vì người không có bằng tiến sĩ vẫn có thể là những nhà khoa học rất tốt), nhưng người có bằng tiến sĩ thường chỉ theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu khoa học.

Văn bằng tiến sĩ thường thích hợp cho những người muốn theo đuổi sự nghiệp khoa bảng, ở đây được hiểu là giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học. Cố nhiên, ở nhiều đại học phương Tây, vẫn có người có thể trở thành giáo sư dù không có học vị tiến sĩ, nhưng những trường hợp như thế ngày càng hiếm. Phần lớn giáo sư đại học có học vị tiến sĩ, nhưng chỉ một số rất ít người có bằng tiến sĩ có thể trở thành giáo sư.

Nhận thức không đúng về ý nghĩa và mục tiêu đào tạo tiến sĩ dẫn đến một vấn đề lớn hơn: chất lượng đào tạo. Ngoại trừ một số ít chương trình đào tạo nghiêm túc, ấn tượng chung là cách thức đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam còn tồn tại khá nhiều vấn đề mang tính cơ cấu, quy trình, và học thuật.

Cơ cấu và mô hình đào tạo

Thứ nhất là vấn đề liên quan người hướng dẫn nghiên cứu. Ở Việt Nam, có quy định đơn giản như người có bằng tiến sĩ ba năm trở lên có thể hướng dẫn luận án tiến sĩ. Nhưng trong thực tế, mới có bằng tiến sĩ ba hay năm năm thì cũng mới ở giai đoạn hậu tiến sĩ, làm sao có thể hướng dẫn tiến sĩ (ngoại trừ người đó là một thiên tài, hay tiến sĩ ngoại hạng). Và cho dù đã tốt nghiệp tiến sĩ mười năm hay 20 năm mà không nghiên cứu khoa học thì không thể có tư cách hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ.

Lại có quy định với chức danh phó giáo sư hay giáo sư thì đủ tư cách hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ. Trong thực tế, những người có tư cách hướng dẫn nghiên cứu sinh không chỉ cần có chuyên môn cao, có tên tuổi trong chuyên ngành (qua công bố quốc tế), mà còn phải có chương trình nghiên cứu riêng. Không có chương trình nghiên cứu riêng, nghiên cứu sinh chẳng khác gì người lang thang trong rừng khoa học, mất định hướng nghiên cứu, loay hoay với những đề tài mang tính “me too” (bắt chước người khác một cách máy móc), không xứng với luận án tiến sĩ.

Thứ hai là mô hình và thời gian đào tạo. Đại đa số các chương trình đào tạo tiến sĩ ở nước ngoài là theo “mô hình tập trung”, nghiên cứu sinh phải dành toàn thời gian cho nghiên cứu tại một trung tâm khoa học. Nhưng ở Việt Nam, phần lớn nghiên cứu sinh chỉ theo học bán thời gian. Họ làm việc toàn thời gian, và tiêu rất ít thì giờ cho việc nghiên cứu tại trung tâm họ ghi danh theo học! Điều này dẫn đến tình trạng có nhiều nghiên cứu sinh phải “tự bơi”, rất ít khi nhận được hỗ trợ trực tiếp và có ý nghĩa từ người hướng dẫn. Có khi người hướng dẫn chỉ đứng tên, mà chẳng có đóng góp đáng kể vào việc hỗ trợ khoa học cho nghiên cứu sinh. Trong nhiều ngành, phần lớn nghiên cứu sinh chỉ hệ thống hoá những gì họ đang làm thường ngày thành một… luận án!

Thời gian đào tạo một tiến sĩ thường tốn khoảng bốn năm. Ở Úc, nếu học bán thời gian (số này rất ít) phải tốn từ 5 – 6 năm. Thế nhưng ở Việt Nam, có quy định nghiên cứu sinh đã có bằng thạc sĩ chỉ cần tiêu ra hai năm học tiến sĩ. Với một thời gian ngắn như thế, rất khó có thể đào tạo một tiến sĩ theo chuẩn mực mà quốc tế công nhận.

NGUYỄN VĂN TUẤN – SGTT

(còn một kỳ)

Lịch sử văn bằng tiến sĩ

Tuy có danh chính thức là triết học (“doctor of philosophy” hay PhD) nhưng tiến sĩ không hẳn là người học về triết. Theo bộ luật La Mã, vào thời trung cổ, mỗi ngành nghề có quyền thành lập một hiệp hội gọi là “collegium”, và hiệp hội này bầu ra những người có danh hiệu “magistrates” (tạm dịch là “thầy”). Sau khi xong văn bằng bachelor, thí sinh có thể theo học tiếp chương trình master hay doctor. Và sau khi đã xong chương trình học khoảng tám năm, một hội đồng giám khảo sẽ duyệt xét thí sinh để kết nạp vào tổ chức được gọi là Universitas of Doctors. Sự kết nạp này cũng là một “chứng chỉ” được hành nghề dạy đại học. Lúc bấy giờ, những danh xưng như master, doctor và professor có cùng nghĩa và tương đương về giai cấp: hành nghề dạy học. Vào thế kỷ 13, những người dạy tại đại học Bologna, lúc đó là trung tâm huấn luyện về luật pháp bên Âu châu, được gọi là doctor. Trong khi đó ở đại học Paris, là trung tâm về văn học nghệ thuật, những người dạy học được gọi là master.

Ở Anh và Mỹ, văn bằng doctor sau này được đánh giá cao hơn master. Ở Anh, hai đại học Oxford và Cambridge được mô phỏng theo hệ thống tổ chức của đại học Paris, do đó các nhà khoa bảng các môn văn hoá nghệ thuật thường được gọi là master, trong khi các đồng nghiệp của họ trong các môn học như triết, thần học, y học, và luật được gọi là doctor. Ngày nay, các tên bằng cấp như Master of Arts và Doctor of Philosophy có nguồn gốc từ sự phân chia này.

Phương Đông có văn bằng tiến sĩ từ lâu. Vào năm 1313 (triều đại nhà Tống – Trung Hoa), một cuộc thi tuyển đặt dưới sự chủ toạ của vua được tổ chức. Qua kỳ thi này, có 300 thí sinh được cấp danh hiệu tiến sĩ.

Tại sao bài báo khoa học bị từ chối

Tại sao bài báo khoa học bị từ chối?

Tình trạng nghiên cứu và công bố bài báo khoa học của Việt Nam qua các số liệu cụ thể của GS Nguyễn Văn Tuấn. Cùng xem để biết thực trạng, nguyên nhân, các giải pháp khắc phục và định hướng chính trong tương lai.
Tại sao bài báo bị từ chối 1
Tại sao bài báo bị từ chối 2
Tai sao bài báo bị từ chối 3
Tại sao bài báo bị từ chối 4
Tại sao bài báo bị từ chối 5
Tại sao bài báo bị từ chối 6
Xem thêm các tin khác tại diễn đàn