Tag Archives: đọc sách

KHÁI LƯỢC VỀ EPIGENETICS

KHÁI LƯỢC VỀ EPIGENETICS

Phùng Trung Hùng – Nguyễn Phước Long

Epigenetics là một khái niệm đã được đề xuất từ thập kỉ 40 của thế kỉ XX bởi C.H. Waddington nhằm khảo sát hiện tượng biến đổi biểu hiện gene mà không do tác động của sự thay đổi hóa học của chuỗi DNA trong bộ gene. Thuật ngữ epigenetics bao gồm epi- (επί – ở trên hay ở ngoài) với genetics cho thấy toàn thể tiến trình diễn ra ở ngoài chuỗi DNA và dĩ nhiên không có sự biến đổi nào trong DNA của bộ gene. Từ thế kỉ XIX, người ta đã nhận thấy sự dồi dào thực phẩm trong một mùa bội thu có thể gây sự béo phì cho thế hệ sau mặc dù ở thế hệ sau không có những mùa bội thu tương tự. Hiện tượng này sau đó được biết là do thực phẩm, nhất là các nhóm methyl, SH-, acetyl trong thực phẩm đã gây ra sự biến đổi trong việc biểu hiện các gene có thể gây béo phì. Sự biến đổi trong thế hệ này do các yếu tố ngoại lai gây ra trên sự biểu hiện gene, có thể truyền sang những thế hệ sau. Vấn đề hiện nay thế giới phải đối mặt về vấn nạn béo phì không phải là do dinh dưỡng thừa ở thế hệ hiện tại mà do sự tích lũy các biến đổi biểu hiện gene về mặt epigenetic được di truyền từ những thế hệ trước

Những sự biến đổi biểu hiện gene này đã được biết hiện hữu từ tế bào mầm (germ cell) đến phôi và sinh vật trưởng thành. Như vậy, bản thân của hiện tượng epigenetic là một sự điều biến phenotype. Hậu quả của những sự điều biến này có thể đi từ sự phát triển bình thường của phôi đến sự phát triển ung thư ở sinh vật trưởng thành. Tuy sự điều biến phenotype vô cùng đa dạng những thay đổi phân tử của hiện tượng này lại tương đối khá đơn giản theo những gì người ta biết cho đến nay.

Một thí nghiệm đơn giản đã cho thấy hiện tượng này liên quan đến mội trường sống của sinh vật và là hậu quả của sự điều biến epigenetic: chuột con nếu được nuôi dưỡng từ chuột mẹ với dinh dưỡng và môi trường tốt sẽ trưởng thành như một sinh vật thoải mái và ngược lại.

Hình 48.1: Chuột con trong điều kiện thiếu dinh dưỡng khi trưởng thành dễ bị âu lo (anxiety)

Hình 48.2: Chỉ cần đưa thuốc có thể cung cấp nhóm methyl gắn vào cặp base C-G đã có thể biến đổi chuột từ trạng thái thoải mái thành trạng thái âu lo.

Hình 48.3: Toàn thể tiến trình stress là một chuỗi biểu hiện gene nhằm đáp ứng với tình trạng này do phản ứng của trục hypothalamus-pituitary-adrenal. Chuỗi biểu hiện gene này tạo ra corticotrophin releasing hormone (CRH) ở hypothalamus, adreno-corticotropic hormone (ACTH) ở tuyến yên và cortisol ở tuyến thượng thận, toàn thể hay một phần của các quá trình biểu hiện gene có thể bị biến đổi mãi mãi (remodeling) nếu tình trạng stress kéo dài nhưng có thể chỉ là một phản ứng tạm thời để tạo ra kiểu hình thích ứng (adaptive phenotype).

Từ các ví dụ trên, epigenetics được định nghĩa là nghành học nghiên cứu những biến đổi biểu hiện gene có thể di truyền xảy ra mà không có sự thay đổi nào trong chuỗi DNA của bộ gene. Tuy nhiên, những thay đổi gần đây trong việc sử dụng thuật ngữ đã gợi ý cần phải bỏ bớt tính chất di truyền và như vậy các biến cố epigenetic nên được định nghĩa lại là“ sự thích ứng cấu trúc của nhiều vùng trênNST để xác định, khởi động tín hiệu hay biến đổi hoạt động mãi mãi ”.

Hình 48.4: Minh họa sự gắn kết của nhóm methyl vào chuỗi DNA ở vị trí CpG.

Sự biến đổi biểu hiện gene về mặt epigenetic khởi nguồn từ sự thay đổi khả năng tiếp cận đến các genes đặc biệt của bộ máy chuyển mã (transcription machinery) ở loài eukaryote, hầu hết là thay đổi cấu trúc nhiễm sắc chất hay RNA interference (RNAi). Các thành phần chính trong quá trình điều tiết sự chuyển mã là DNA methylation, biến đổi histone và các biến tướng, proteins nhiễm sắc chất không phải là histone, small interfering RNA (siRNA) và micro RNA (miRNA). DNA methylation là một quá trình chuyển nhóm methyl  từ S-adenosylmethionine  đến đầu 5´ của vòng cytidine. Ở loài có vú, cytidines gắn kết với guanosine trên chuỗi tương thích và có những đoạn trên cùng một mạch có trình tự C-G.Do vậy, thuật ngữ CpGs để chỉ vị trí methyl hóa ở trình tự C-G trên 2 cùng mạch DNA, cần phân biệt với việc gắn kết C-G trên chuỗi DNA tương hợp và trường hợp trên chuỗi cùng mạch khác như CpG oligodeoxynucleotide ( p là phosphodiester). Cytosines gắn kết với base khác ngoài guanine (như CpA) cũng có thể bị methyl hóa. CpGs hiện diện rất nhiều trong một đoạn DNA ngắn được gọi là đảo CpG, được phát hiện gần 40% trong các promoters của động vật có vú.

Methyl hóa DNA được thiết lập và duy trì bởi các enzymes thuộc họ DNA methyltransferase (DNMT). Hệ quả của methyl hóa DNA trên sự biểu hiện gene là gây nên một sự hỗn độn làm giảm sự biểu hiện gene, vì vậy được gọi là làm câm nín gene (gene  silencing). Hiện tượng câm nín này có thể do phát động tiến trình giảm ái lực hay hủy bỏ hoàn toàn khả năng gắn kết của các yếu tố chuyển mã (transcription  factor) vào vùng DNA bị methyl hóa hoặc tương tác trực tiếp với DNMTs, histone deacetylases, methyltransferases hay các đồng ức chế chuyển mã khác.

Hình 48.5: Cơ chế kháng viêm của corticosteroids trong hen phế quản.(1) Các gene gây viêm được hoạt hóa bởi các yếu tố gây viêm (IL-1β, TNF-α,…), hoạt hóa IKKβ (inhibitor of I-kappaB kinase-β), sau đó phân tử này sẽ hoạt hóa yếu tố phiên mã nhân NF-kappaB. Bộ dimer p50 và p65 của protein di chuyển vào trong nhân và gắn vào vị trí nhận diện và cũng là vùng đồng hoạt hóa kappaB (Như CREB, có hoạt tính HAT nội sinh). Kết quả của quá trình này là sự acetyl hóa histone và do vậy tăng biểu hiện của gene mã hóa cho nhiều protein đáp ứng viêm. (2) Các thụ thể của glucocorticoid gắn vào corticosteroids, phức hợp này vào nhân và bất hoạt hoạt tính của HAT bằng hai cách: Trực tiếp – quan trọng hơn bởi histone deacetylase-2 (HDAC2) – đảo ngược quá trình acetyl hóa histone và ức chế các gene gây phản ứng viêm.

Đọc trọn vẹn bài viết tại đây.

Thể trạng người Cushing

Thể trạng người Cushing

(Cushing body habitus)

Nguyễn Thiện Luân – Nguyễn Phước Long

 

Hình ảnh thể hiện tích tụ mỡ trung tâm, khuôn mặt hình mặt trăng, vết rạn da.

Chỉnh sửa dưới sự cho phép từ Kumar V, Abbas AK, Fausto N, Aster JC, Robbins and Cotran Pathologic Basis of Disease, Professional Edition, 8th edn, Philadelphia: Saunders, 2009: Fig 24-43.

Mô tả triệu chứng

Gồm 3 triệu chứng chính (liên quan đến sự tái phân bố mỡ trong cơ thể):

  • Tích tụ mỡ vùng trung tâm (central adiposity)

Béo phì trung tâm tiến triển (progressive central obesity) thường bao gồm tích trữ mỡ ở mặt, cổ, ngực và bụng. Các cấu trúc và cơ quan bên trong cơ thể cũng bị ảnh hưởng.

  • Khuôn mặt hình mặt trăng (moon facies)

Khuôn mặt tròn, ửng đỏ là hậu quả của sự tích trữ mỡ ở vùng thái dương 2 bên (bitemporal regions).

  • Bướu lạc đà (buffalo hump)

Tích tụ mỡ ở sau gáy và vùng giữa 2 xương vai.

Các mảng mỡ ở vùng thượng đòn cũng gợi ý béo phì trung tâm.

 

Hình ảnh thể hiện một số triệu chứng lâm sàng của hội chứng Cushing. A. Béo phì trung tâm kèm béo phì toàn thân và gù lưng ở người phụ nữ 30 tuổi có bệnh Cushing (Cushing’s disease). B. Cùng bệnh nhân ở A, với khuôn mặt hình mặt trăng, nhiều lông, mảng mỡ ở vùng thượng đòn. C. Khuôn mặt tròn, nhiều lông và mụn trứng cá ở người nữ 14 tuổi có bệnh Cushing. D. Béo phì trung tâm và toàn thân, khuôn mặt hình mặt trăng ở người nam 14 tuổi có bệnh Cushing. E và F. Béo phì trung tâm điển hình với các vết rạn da ở bụng trên người phụ nữ 41 tuổi (E) và người nam 40 tuổi (F) có hội chứng Cushing. G. Các vết rạn da ở một bệnh nhân 24 tuổi có u tuyến thượng thận bẩm sinh (congenital adrenal hyperplasia) đã được điều trị với liều cao dexamenthasone trong liệu pháp thay thế. H. Các vết bầm máu và lớp da mỏng điển hình ở một bệnh nhân có hội chứng Cushing. Trong trường hợp này, vết bầm máu xuất hiện mà không có tổn thương nào trước đó. Nguồn: Williams Textbook of Endocrinology 12nd.

(Hình do người dịch bổ sung)

Tình trạng đi kèm

Hội chứng Cushing.

Cơ chế tích tụ mỡ trung tâm

Sự tích tụ mỡ trung tâm chủ yếu phản ánh tình trạng tích mỡ ở nội tạng bên trong ổ bụng, không phải tích tụ mỡ dưới da. (Nói cách khác, tăng tích tụ mỡ ở trung tâm, giảm phân bố mỡ dưới da, từ đó dẫn đến việc dễ xuất hiện các vết bầm máu (bruising) cũng như các mảng tăng sắc tố và các vết rạn da.)

 

Sơ đồ minh họa cơ chế tích tụ mỡ trung tâm

Các glucocorticoid có chức năng điều hòa sự biệt hóa, hoạt động và phân bố của mô mỡ. Chúng là những chất kích thích các tế bào đệm mô mỡ (adipose stromal cell) biệt hóa thành các tế bào mỡ trưởng thành (mature adipocyte).

Các nghiên cứu cho thấy một số loại mỡ, bao gồm mỡ mạc nối (omental fat) (nhưng không thuộc loại mỡ dưới da), có khả năng chuyển cortisone (không hoạt động) sang cortisol (hoạt động) thông qua enzyme 11B-HSD1. Insulin và cortisol sẽ làm tăng nồng độ của enzyme này, do đó lại càng tăng tạo cortisol là dạng hoạt động.

Từ đó, người ta cho rằng việc cơ thể tiếp xúc với các chất glucocorticoid lâu ngày sẽ dẫn đến tăng tạo cortisol từ các tế bào mỡ mạc nối, và do đó sẽ kích thích sự biệt hóa nhiều tế bào mỡ khác thành các tế bào mỡ trưởng thành, gây tích tụ mỡ trung tâm.

Cơ chế tích tụ mỡ ở mặt (khuôn mặt hình mặt trăng) và ở sau gáy (bướu lạc đà) không rõ.

Giá trị của triệu chứng

– Béo phì trung tâm được xem như triệu chứng ban đầu phổ biến nhất, chiếm hơn 90% số bệnh nhân, theo một số tài liệu.

– Khuôn mặt hình mặt trăng gặp trong 67 – 100% các bệnh nhân, với độ nhạy 98% và độ đặc hiệu 41% đối với hội chứng Cushing.

– Bướu lạc đà có thể gặp trong các tình trạng khác, chẳng hạn AIDS và béo phì toàn thân, và triệu chứng này không đặc hiệu cho hội chứng Cushing.

Một số câu hỏi thảo luận dành cho bạn đọc:

1. Nêu các triệu chứng lâm sàng khác của hội chứng Cushing.

2. Bài viết chưa khai thác sâu cơ chế tích tụ mỡ ở “trung tâm”. Tại sao trong hội chứng Cushing, mặt, cổ, ngực, bụng tích tụ nhiều mỡ, còn tay chân thì gầy, da mỏng? Các bạn hãy thảo luận thêm về cơ chế này.

 

Các câu hỏi, ý kiến thảo luận cũng như đóng góp cho bài viết vui lòng gửi về diễn đàn docsachysinh.com:

http://www.docsachysinh.com/forum/ hoặc

http://www.docsachysinh.com/forum/index.php?forums/noi-tiet-hoc-endocrinology.96/

Cách lựa chọn sách Nội khoa để đọc

Cách lựa chọn sách nội khoa để đọc!

Reading List Pic 2 Về việc lựa chọn sách Nội khoa để đọc
Hình trên vừa to vừa nặng, phần nào minh họa cho chúng ta thấy rằng việc đọc sách không phải đơn giản. Nhưng sách được viết ra là để cho chúng ta đọc, do vậy không có lý do gì để nghĩ rằng ta không thể đọc nó!

Hôm nay mình nhận được câu hỏi về việc lựa chọn sách Nội khoa thích hợp. Trong đó câu hỏi có 2 đặc điểm chính như sau:
1. Sách để bắt đầu và sách phù hợp với năng lực bản thân.
2. Làm sao chọn sách hiệu quả giữa một rừng sách.

Vì câu hỏi của bạn có lẽ cũng là câu hỏi chung của nhiều bạn khác. Do vậy mình xin mạn phép trả lời chung theo quan điểm cá nhân của mình. Các bạn thành viên khác nếu có ý tưởng gì hãy trao đổi cùng nhau ở chủ đề này luôn nhé!

Theo mình các khó khăn ở buổi đầu khi sử dụng sách ngoại văn thường gặp là:
1. Khả năng ngoại ngữ nền chưa đủ, kinh nghiệm đọc chưa phong phú.
2. Khả năng ngoại ngữ chuyên ngành chưa đạt được mức tối thiểu để có thể đọc một cách trôi chảy.
3. Không biết phải sử dụng từ điển gì và sử dụng như thế nào cho chính xác.
4. Dễ cảm thấy chán nản và bỏ cuộc.
5. Không biết được tài liệu nào đọc trước, tài liệu nào đọc sau để phù hợp với sự phát triển năng lực cá nhân.
6. Một vài cách nghĩ sai lầm thường gặp:
a. Đọc là dịch, dịch ra rồi đọc lại.
b. Khi nào có thời gian thì đọc, tùy hứng.
c. Quan tâm vấn đề gì thì chỉ đọc vấn đề đó.

Từ những cơ sở trên đây mình xin được nêu ra một số giải pháp:

(1): Chúng ta cần phải trau dồi mỗi ngày vào một khời điểm cụ thể, cố định và thời lượng vừa đủ với các nội dung gợi ý như sau:
a. Sử dụng các video của Engvid (bạn có thể tìm thấy trên youtube hoặc tại website riêng của họ).
b. Sử dụng các video của Mr.Duncan (bạn có thể tìm thấy trên youtube).
c. Sử dụng các audio của A. J. Hoge với phương pháp Effortless English (bạn có thể tìm thấy tại rất nhiều trang chia sẻ cộng đồng).
d. Đọc tin tức tại các trang thông tin đại chúng (Gợi ý BBC, CNN, các facebook hướng dẫn học tiếng Anh,…)
e. Sử dụng các phần mềm dạy tiếng Anh nếu bạn sử dụng smartphone (Android, iOS,…)
f. Không thể thiếu để đảm bảo rằng mình có thể đọc tốt, bạn nên có một quyển sách Ngữ pháp tiếng Anh bằng tiếng Anh để làm quen với những cấu trúc câu căn bản và nâng cao.

(2) và (3):

Thông thường ai cũng có xu hướng đọc sách chuyên ngành ngay khi mới bắt đầu đọc sách ngoại văn. Theo mình cách làm này không chính xác!

HÃY BẮT ĐẦU VỚI MỘT QUYỂN ANH VĂN CHUYÊN NGÀNH!

Bạn cần nó vì những lý do sau:
a. Bạn cần biết nguyên lý tạo từ chuyên ngành của ngành chúng ta!
b. Bạn cần biết nghĩa của các tiền tố, gốc từ và hậu tố hay sử dụng trong Y khoa!
c. Bạn cần hệ thống hóa lại một số kiến thức giải phẫu – sinh lý và thuật ngữ triệu chứng – hội chứng cơ bản!
d. Bạn cần thực hành ngôn ngữ để nhận diện và mở rộng năng lực ngoại ngữ chuyên ngành của mình!

 Về việc lựa chọn sách Nội khoa để đọc

ĐỪNG LỆ THUỘC VÀO MỘT QUYỂN TỪ ĐIỂN CHUYÊN NGÀNH CỐ ĐỊNH NÀO!

Nhân tiện, điều mình không đồng ý nhất là việc sử dụng một tài liệu Anh – Việt một cách thường xuyên trong việc đọc sách chuyên ngành! Đúng là bạn vẫn phải cần nó khi gặp các tình huống khó hoặc không tự tin về thuật ngữ Việt ngữ tương đương, nhưng hãy loại bỏ cách làm đó một cách từ từ cho đến khi hoàn toàn tách khỏi nó!

Điều nên làm là tra thuật ngữ Anh – Anh. Một số trang gợi ý:
1. Wikipedia (một nguồn thuật ngữ rất rất to lớn).
2. MeSH – pubMed (Một nguồn thông tin, định nghĩa Y khoa vô cùng lớn).
3. Merriam – Webster’s online Dictionary.
4. Emedicine của Medscape, uptodate,… – Đặc biệt với các thuật ngữ bệnh. Thuật ngữ và hơn thế nữa!

(4) Để giải quyết vấn đề này, thiết nghĩ chúng ta cần phải:

a. Đọc các vấn đề đơn giản trước và nâng cao dần. Ví dụ trước khi đọc các bài viết Y khoa trong textbook. Bạn có thể bắt đầu bằng việc đăng kí ngay một tài khoản Medscape để nhận email về các vấn đề Y tế nổi cộm mỗi ngày. Bạn hãy đọc các bài viết trên Uptodate hay Medscape. Do người ta có chia ra từng chuyên ngành, từng mặt bệnh cụ thể và đi theo đúng cấu trúc METS (Mechanisms, Epidemiology, Time course và Syndrome Statement) nên sẽ rất dễ cho chúng ta tiếp cận.

b. Hãy nêu kế hoạch cụ thể mỗi tuần mình cần làm. Ví dụ, trong một tuần đọc hết đại cương về Tăng huyết áp chẳng hạn. Hãy vừa đọc vừa ghi chép bằng chính ngôn ngữ bạn đang đọc sau đó hãy ‘review’ sau khi đọc theo thứ tự 15′, 40′ và một ngày sau đó. Luôn luôn đọc lướt toàn bài trước và lướt lại một lần phần mình đã đọc trước khi đọc tiếp.

c. Hãy rủ bạn bè cùng tham gia, lập nhóm! Điều này là vô cùng hữu ích. Chúng ta có thể vừa tạo áp lực cho nhau, vừa động viên nhau và cùng nhau giải quyết các thắc mắc một cách hiệu quả nhất!

d. Động viên bản thân và tìm cho mình một lý do để cố gắng. Theo ‘định luật hấp dẫn’, khi chúng ta gửi đi thông điệp tích cực, chúng ta sẽ nhận lại được thông điệp tích cực. Cảm giác sẽ thật hay biết bao khi mà 30 phút kể từ lúc bắt đầu đọc, bạn đã có cái gì đó ‘hơn hẳn’!!!

kids reading Về việc lựa chọn sách Nội khoa để đọc

(5): Vì câu hỏi của bạn đặc thù về sách Nội khoa. Do vậy mình sẽ đề cập nó ở đây.

Tuy các bạn trường Y hay nói rất nhiều về Harrison’s, Davison’s, Cecil’s,… Nhưng nếu bạn bắt đầu bằng những quyển đó, bạn sẽ nhanh chóng bị đánh bại và gục ngã. Chúng đòi hỏi ta có một chút nội lực để bắt đầu. Ở các nước sử dụng ngôn ngữ viết trong những quyển sách đó làm ngôn ngữ chính, bản thân sinh viên cảm thấy dễ thở hơn phần lớn bởi vì họ đã có một quãng thời gian đọc các khái niệm, quá trình,… bằng chính ngôn ngữ đó chứ không hẳn hoàn toàn bởi đó là ngôn ngữ chính của họ. Nên nhớ rằng:

Y KHOA VẪN LÀ MỘT NGOẠI NGỮ ĐỐI VỚI NGƯỜI BẢN XỨ CHO DÙ NÓ ĐƯỢC VIẾT BẰNG NGÔN NGỮ ĐÓ ĐI CHĂNG NỮA!

Mình gợi ý một số quyển dễ dàng hơn để bắt đầu:

1. CURRENT MEDICAL DIAGNOSIS AND TREATMENT
2. French’s index of differential diagnosis
3. The Washington manual of medical therapeutics

Quyển đầu tiên hiện tại đã có bản 2013 và nó còn có phiên bản dành cho các bạn sử dụng smartphone để có thể đọc bất kì đâu! Mình rất ưu tiên quyển đó bởi vì nó dễ đọc và dễ vận dụng trên lâm sàng, ngoài ra còn tiện cho chúng ta tra cứu bước đầu trong khi gặp một tình huống nào đó khi đi lâm sàng.

p/s: Về việc lựa chọn sách giữa một rừng sách thì chúng ta nên xác định được mục tiêu của mình và biết cách tìm hiểu ‘chất lượng’ của một quyển sách. Việc xác định mục tiêu có vẻ đơn giản, dù đôi khi thực sự khó mà xác định được (đọc để có kiến thức cơ bản – tổng quát, đọc để vận dụng trong thực hành lâm sàng, đọc để hiểu sâu về cơ chế, đọc để biết được những bước tiến mới trong ngành,…). Còn về thẩm định sách thì hãy áp dụng nhiều hơn một phương pháp trong các phương pháp để xuất sau:

1. Hỏi người có năng lực chuyên môn và người bạn chắc rằng hiểu rõ nhiều đầu sách. Ví dụ: Thầy cô, anh chị hoặc thậm chí là cả bạn bè. Khi bạn đọc nhiều hơn, bạn sẽ có sự so sánh và phân biệt rất rõ nét chất lượng sách!
2. Truy cập vào Amazon hoặc một số trang giới thiệu sách khác để xem các bài đánh giá về nội dung của sách.
3. Tham gia các điễn dàn Y khoa trong và ngoài nước, đặc biệt là các diễn đàn của các trường đại học để xem các khuyến cáo của họ.
4. Hãy đặt sự ưu tiên của mình cho những quyển sách có thâm niên, sách có trích dẫn tài liệu tham khảo nhiều và mới, sách do trường đại học uy tín viết (Ví dụ quyển Current medical diagnosis and treatment là do các Giáo sư Y khoa của đại học UCSF viết), sách tái bản và đổi mới liên tục, những sách có quan điểm tiếp cận theo hướng Y học bằng chứng,…

Tạm có vài lời trao đổi với bạn như vậy, chúc bạn vui!

Đọc thêm tại đây:

http://www.docsachysinh.com/forum/index.php?threads/ve-viec-lua-chon-sach-noi-khoa-de-doc.2013/