Category Archives: Y học thường thức

Y đức, trách nhiệm, an toàn cho bệnh nhân trong sản phụ khoa (Tài liệu dịch)

Y đức, trách nhiệm, an toàn cho bệnh nhân trong sản phụ khoa

Vấn đề y đức và luật pháp trong sản phụ khoa

Sinh viên nên có cách đánh giá về tầm quan trọng có tính luật pháp của giấy cam đoan và sự đồng ý của bệnh nhân.

Sinh viên nên định nghĩa được những nguyên tắc y đức cơ bản và áp dụng chúng cho những khó khăn trong lâm sàng khi thực hành sản phụ khoa.

Họ nên hiểu vai trò của bác sĩ sản phụ khoa như là những người giúp cải thiện sức khỏe người bệnh.

Trường hợp lâm sàng

Một cô luật sư 27 tuổi được chuyển đến bạn từ bác sĩ gia đình của cô ta. Người này đã cung cấp kế hoạch chăm sóc của khoa tổng quát bao gồm biện pháp ngừa thai từ lúc dậy thì. Cho đến thời gian gần đây, chăm sóc sức khỏe cho cô ta không có gì bàn cãi, nhưng trong 18 tháng qua, cô ta đi khám 5 lần, than phiền về huyết trắng có mùi hôi. Lần khám đầu tiên, Tricomonas vaginalis được chuẩn đoán và điều trị; kết quả âm tính cho những xét nghiệm khác về bệnh lan truyền qua đường tình dục. Bác sĩ gia đình tham vấn của bạn ghi nhận rằng: nói chuyện với cô ta về tiền sử hoạt động tình dục và tình dục an toàn được cô ta trả lời bằng thái độ rất kín đáo, anh ta nhận thấy hơi mất tính hợp tác khi khám bệnh. Cũng ghi nhận rằng cô ta mong ước không bàn luận thêm về chủ đề này. 4 lần khám kế tiếp đến cô ta đến bác sĩ gia đình với lời than phiền là dịch âm đạo ngày càng hôi nhiều hơn, bác sĩ cũng không có chẩn đoán lâm sàng nào. Người bệnh này ngày càng trở nên chán nản và yêu cầu 1 buổi tư vấn với 1 chuyên gia để có thể tìm thấy nhiễm trùng gây ra huyết trắng. Khi đi khám bệnh, có mặt bạn cùng với người chuyên gia, người bệnh nhân khăng khăng rằng có 1 vấn đề quan trọng mà cô ta mong muốn bạn giải quyết. Khác với những cuộc nói chuyện chi tiết và khá cụ thể về huyết trắng, cô ta thể hiện một cách mơ hồ và lẫn lộn, không hợp tác về tiền sử xã hội ngoại trừ cô ta đã xin phép nghĩ làm việc ở tòa án vì lí do không cụ thể. Cô ta bảo rằng, bạn nên dành thời gian điều trị huyết trắng hơn là hỏi chuyện không liên quan, vô ích.

Bệnh nhân và thầy thuốc của họ thỉnh thoảng nhận thấy rằng họ cũng đối diện với những khó khăn để chọn lựa và thực thi 1 quyết định xử trí lâm sàng, thậm chí khi có đủ thông tin từ việc khám bệnh để cung cấp 1 hoặc hơn 1 kế hoạch xử trí hợp lý. Khó khăn này có thể bao gồm vấn đề về y đức, đạo đức, kinh tế, tôn giáo cho bệnh nhân, gia đình bệnh nhân, thầy thuốc. Vấn đề có thể xuất phát từ những xung đột giữa luật pháp và chọn lựa, quyết định xử trí. Không may, áp lực mà thầy thuốc cảm nhận và hệ thống y tế đương đầu vì mối quan tâm về trách nhiệm trong khám chữa bệnh thường gây ra nhiều khó khăn hơn nữa. Trong 1 số trường hợp, khó khăn này có thể bao gồm vấn đề bỏ sót hoặc thực thi khám chữa bệnh, về sự an toàn cho bệnh nhân. Trong chương này, chúng tôi khảo sát 3 lĩnh vực này (y đức, trách nhiệm trong khám chữa bệnh và an toàn cho bệnh nhân) với mục đích giúp bệnh nhân, thầy thuốc, những người khác có liên quan trong những khó khăn này để đi đến chọn lựa xử trí tốt nhất.

Y đức

Thầy thuốc thường đương đầu khó khăn có tính y đức trong quá trình đưa ra quyết định lâm sàng (xử trí lâm sàng). Xử dụng chuẩn y đức được tổ chức trong những tình huống này rất có giá trị, đảm bảo rằng việc đánh giá tình huống và tạo quyết định có thể được tiến hành theo 1 bước có hệ thống, hơn là dựa vào cảm xúc, thiên vị cá nhân, áp lực xã hội của thầy thuốc. Một số hệ thống y đức có thể được ứng dụng ví dụ như bảng 3.1. Một trong những hệ thống này được ứng dụng nhiều nhất là y đức dựa vào nguyên tắc bởi vì tính đơn giản của nó, áp dụng dễ dàng vì cách viết dễ hiểu. Bảng 3.2 cho thấy 4 qui tắc về y đức dựa vào nguyên tắc có thể được áp dụng như thế nào.

Bảng 3.1: Cách tiếp cận hiện thời đối với tạo quyết định y đức

Cách tiếp cận Mô tả

Y đức dựa vào nguyên tắc Cách tiếp cận hệ thống dựa vào 4 nguyên tắc: Độc lập, có lợi, vô hại, công bằng
Y đức về chăm sóc Quyết định tốt từ những đặc điểm về nhân cách thầy thuốc như là đồng cảm, lòng trắc ẩn, tính trung thực, tình yêu, tình bè bạn cố hữu trong mối quan hệ giữa những cá nhân.
Y đức về nữ quyền Chăm sóc dựa vào tính công bằng khi chăm sóc cho nam và nữ, phụ nữ phải được điều trị và chăm sóc tương đương nam giới.
Y đức về cái chung Chăm sóc dựa vào những giá trị chung, mục tiêu chung, các ý tưởng của cả cộng đồng hơn là từng cá nhân.
Y đức dựa vào trường hợp cụ thể Chăm sóc dựa vào những trường hợp người bệnh trước đó và kiến thức khoa học thu được từ thực tế, cần nhớ rằng kiến thức có thể thay đổi bằng những thông tin mới.
Y đức dựa vào nhân cách Chăm sóc dựa vào nhân cách thầy thuốc được thực hiện dễ dàng nhờ vào một số đặc điểm của nhân cách như: bảo đảm tính công bằng, tin cậy, tính khí, sự thống nhất, dũng cảm, khiêm tốn, lòng trắc ẩn.

Bảng 3.2: Cách tiếp cận y đức dựa vào nguyên tắc để tạo quyết định lâm sàng.

Nguyên tắc y đức Mối quan tâm về y đức
Lợi ích
Trách nhiệm để tạo lợi ích cho bệnh nhân
Tính độc lập
Tôn trọng khả năng tự quyết định của bệnh nhân
Tránh gây hại cho bệnh nhân
Trách nhiệm: không tạo ra nguy hại hoặc tổn thương cho bệnh nhân
Công bằng
Đảm bảo cho bệnh nhân có những gì cần phải có
Chẩn đoán và điều trị dựa theo chứng cớ

Biết những gì bệnh nhân muốn

Tác động của điều trị lên cuộc sống của người bệnh

Sở thích của bệnh nhân, nhu cầu của xã hội, rào cản đối với điều tri do luật pháp chỉ định

Y đức dựa vào nguyên tắc

Xử trí lâm sàng dựa vào nguyên tắc, xem xét có hệ thống trường hợp lâm sàng dùng 4 nguyên tắc y đức. Tuy nhiên, Đoàn sản phụ khoa tin rằng, y đức dựa vào nguyên tắc không nên chi phối những phương pháp khác được mô tả trong bảng 3.2 và sử dụng nó đơn độc thì không đủ.

1/ Kính trọng tính tự chủ của bệnh nhân cho biết rằng: quyền cơ bản của 1 cá nhân để giữ quan điểm, chọn lựa, hành động dựa trên niềm tin của người ta, hoặc dựa trên giá trị độc lập với các giá trị, niềm tin từ thầy thuốc, hệ thống y tế, xã hội cũng nhưng không bị ảnh hưởng từ những chi phối kiểm soát bên ngoài và từ những hiểu biết hạn chế. Tôn trọng tính tự chủ tạo ra cơ sở đạo đức vững chắc trong quá trình viết cam đoan trong đó bệnh nhân, được cung cấp đầy đủ thông tin về bệnh tật của cô ta và phương pháp điều trị hiện có, tự do chọn lựa điều trị cụ thể hoặc không cần điều trị. Cố gắng áp đảo quyền tự do của bệnh nhân để thúc đẩy những gì mà thầy thuốc đã cảm nhận được xem là vấn đề mà người bệnh quan tâm nhất, người bệnh gọi là thầy thuốc gia trưởng, do đó vi phạm nguyên tắc độc lập của bệnh nhân. Độc lập không loại thầy thuốc ra khỏi việc khuyến cáo phương pháp điều trị dựa vào y học chứng cớ, dựa vào kinh nghiệm và đánh giá của thầy thuốc, song song với việc hiểu biết 1 cách rõ ràng rằng, thầy thuốc không mong chờ hoặc đòi hỏi bệnh nhân nghe theo khuyến cáo. Thay vào đó, điều này có thể được xem như là một yếu tố, là một phần của quá trình tạo quyết định của bệnh nhân.

2/ Lợi ích cho người bệnh là trách nhiệm để tăng cường sức khỏe bằng cách giúp người bệnh thực hiện quyết định chọn lựa xử trí bằng phẫu thuật hoặc nội khoa tốt nhất, theo nghĩa đen nghĩa là làm tốt. Đó là trách nhiệm của thầy thuốc luôn luôn hành động theo lợi ích của bệnh nhân. Trong việc cân bằng lợi ích với tính tự chủ của bệnh nhân, thầy thuốc nên xác định mối bận tâm nhất của người bệnh một cách khách quan.

3/ Không gây hại cho người bệnh xuất hiện từ quan điểm có lợi cho người bệnh, áp đặt trách nhiệm thầy thuốc không gây hại, gây ra hoặc cho phép tổn thương xảy ra cho bệnh nhân. Tôn chỉ được biết nhiều nhất (đầu tiên không làm hại) xuất phát từ nguyên tắc y đức này. Điều này cũng bao hàm trách nhiệm của thầy thuốc để duy trì khả năng khám chữa bệnh thông qua học tập, áp dụng, tăng cường kiến thức y học, kỹ năng cũng như nhấn mạnh và cải tạo bất cứ hành vi nào làm suy giảm khả năng của thầy thuốc trong thực hành, chẳng hạn như lạm dụng một thuốc nào đó. Hơn nữa, thầy thuốc nên tránh bất cứ phân biệt trên cơ sở về chủng tộc, màu da, tôn giáo, nguồn gốc của quốc gia, quan điểm chính trị, tình trạng tài chính hoặc bất cứ yếu tố nào khác, cũng như tránh bất cứ xung đột quyền lợi. Áp dụng nguyên tắc này bao gồm cân bằng giữa lợi ích và tác hại, cả hai tác hại do cố ý và tác hại có thể được tiên đoán có thể xảy ra mặc dù có ý tốt (ví dụ tác dụng phụ không mong muốn của thuốc hoặc là biến chứng của phẫu thuật).

4/ Công bằng là trách nhiệm của thầy thuốc để đáp lại bệnh nhân về cái gì mà họ phải có. Đây là phần phức tạp nhất của nguyên tắc y đức, một phần bởi vì vai trò của thầy thuốc trong việc phân bố nguồn nhân lực y tế hạn chế. Công bằng là trách nhiệm thầy thuốc phải đối xử mọi người 1 cách công bằng dù họ có khác hoặc giống theo tiêu chuẩn được chọn lựa nào đó. Mọi bệnh nhân nên được điều trị công bằng, trừ khi bằng chứng khoa học và lâm sàng chỉ ra bệnh nhân nào phù hợp với phương pháp điều trị cần quan tâm.
Các bước quản lý y đức trong lâm sàng

Dùng cách tiếp cận hệ thống theo trình tự đối với trường hợp lâm sàng khó khăn, dựa theo cơ sở y đức đã được chứng minh vững chắc có lợi cho bệnh nhân, cho gia đình họ, cho thầy thuốc, hệ thống y tế (bao gồm bệnh viện), xã hội. Một ví dụ về áp dụng này được tìm thấy trong Box 3.1

Nghiên cứu 1 trường hợp lâm sàng: 5 cách tiếp cận

Mặc dù một số cách tiếp cận về quyết định y đức, tất cả đều có 1 câu trả lời giống nhau, trong tình huống cần đưa ra quyết định, chúng tập trung vào những khía cạch khác nhau mặc dù có liên quan của một tình huống và một quyết định. Chẳng hạn như khi xem xét xem chúng nhấn mạnh đến khía cạnh can thiệp để bào thai có sức khỏe tốt như thế nào nếu bà mẹ không đồng ý với khuyến cáo trong khám chữa bệnh hoặc tham gia vào hoạt động có thể gây nguy hiểm cho bào thai.

Cách tiếp cận dựa theo nguyên tắc giúp tìm kiếm, xác định nguyên tắc và quy luật phù hợp cho từng trường hợp lâm sàng. Có thể bao gồm lợi ích- nguy hại cho cả hai, sản phụ và bào thai, công bằng cho 2 phía, tôn trọng quyết định tự chủ của sản phụ. Nguyên tắc này không nên áp dụng 1 cách máy móc. Nói chung, có thể mọi người không rõ sản phụ có quyết định độc lập hay không, và có thể có tranh cãi về sự cân bằng giữa lợi ích và nguy cơ từ can thiệp cho tất cả những người đánh cược cũng như nguyên tắc nào nên được ưu tiên trong trường hợp khó khăn này. Luật hành nghề và những lời dẫn giải có thể giúp hướng dẫn cách để giải quyết khó khăn này.
Cách tiếp cận y đức dựa vào phẩm giá tập trung vào quá trình hành động đối với phẩm giá nào sẽ quyết định bác sĩ sản phụ khoa. Chương trình hành động nào có thể đưa ra từ sự cảm thông? từ phương diện tôn trọng? và hơn nữa. Ngoài ra bác sĩ sản phụ khoa có thể nhận thấy nó rất hữu ích khi họ hỏi nhiều hơn nữa: Chương trình hành động nào có thể biểu đạt tốt nhất nhân cách của 1 thầy thuốc có y đức?

Y đức về khám chữa bệnh nên tập trung vào việc thực thi giá trị khám chữa bệnh trong mối quan hệ đặc biệt giữa sản phụ, bác sĩ sản phụ khoa và với thai nhi. Khi suy nghĩ cân nhắc, ai sử dụng cách tiếp cận này sẽ đối kháng lại quan điểm “nhìn nhận mối quan hệ với sản phụ và thai nhi có tính thù địch”, chấp nhận rằng hầu hết thời gian người phụ nữ dành cho bào thai có tính kiểu mẫu, mối quan tâm của bà mẹ và thai nhi là đồng điệu. Tuy nhiên nếu xung đột thật sự tồn tại, bác sĩ sản phụ khoa nên chống lại cảm nghĩ thiên vị bên này hoặc bên kia. Thay vào đó anh ta hoặc cô ta nên tìm giải pháp xác định và cân bằng trách nhiệm trong mối quan hệ đặc biệt này, xác định mục tiêu này trong bối cảnh của giá trị của sản phụ và mối quan tâm của họ, thay vì cụ thể hóa và cân bằng những nguyên tắc và những quyền có tính mơ hồ.

Lấy 1 ví dụ khi xem xét 1 trường hợp 1 sản phụ bị sinh non và từ chối nhập viện để nghỉ ngơi tuyệt đối hoặc dùng thuốc giảm co thắt tử cung, Harris kết hợp quan điểm chăm sóc người bệnh với quan điểm về nữ quyền để đưa ra một cái nhìn bao quát hơn là cách tiếp cận dựa trên nguyên tắc có thể sau đây:

Thầy thuốc nên tập trung chú ý của họ về mối quan hệ gia đình và xã hội chủ yếu, bối cảnh và ràng buộc có thể gây áp lực lên quyết định chọn lựa của sản phụ, chẳng hạn như nhu cầu chăm sóc những con tại nhà hoặc tiếp tục đi làm để hỗ trợ những thành viên khác trong gia đình; bất cứ kế hoạch trong đời chiếm hết thời gian, và nỗ lực để tìm giải pháp cho những ràng buộc, sức khỏe bào thai tốt khi sản phụ có sức khỏe tốt.

Như ví dụ đề cập, cách tiếp cận y đức cho nữ giới nên để tâm đến những vấn đề xã hội và những rào cản kiểm soát chọn lựa của sản phụ, quyết định cho những tình huống này, và tìm giải pháp để thay đổi bất cứ những gì có thể thay đổi được. Cũng nên xem xét về sự dính líu của bất cứ can thiệp nào khác có thể có kiểm soát hơn nữa lên chọn lựa và quyết định của sản phụ, chẳng hạn, bằng cách hạ thấp giá trị của sản phụ, với cái nhìn tiêu cực, xem sản phụ là 1 cái máy đẻ hoặc là lồng ấp con.

Cuối cùng cách tiếp cận dựa theo trường hợp lâm sàng, nên xem xét có bất cứ những trường hợp giống nhau tương đối góp phần tiên đoán cho trường hợp hiện tại. Chẳng hạn, bác sĩ sản phụ khoa có thể phân vân để tìm kiếm về y lệnh có tính luật pháp để chỉ định mổ lấy thai mà ông ta/ cô ta tin rằng sẽ tăng cơ hội sống sót cho đứa trẻ tương lai nhưng sản phụ tiếp tục từ chối. Trong việc xem xét cái gì cần làm, thầy thuốc có thể hỏi, như là 1 số tòa án đã hỏi, có 1 tiền lệ có lợi hay không trong việc thiết lập sự đồng thuận mà không màn đến người không chấp nhận phẫu thuật để đem lại lợi ích cho bên thứ 3, chẳng hạn như là lấy tạng để ghép.

Có 6 bước trong quá trình đưa ra quyết định

1/ Xác định người đưa ra quyết định.

Bước đầu tiên trong việc xử trí lâm sàng để trả lời câu hỏi: quyết định này là của ai? bệnh nhân được ám chỉ là người có khả năng để chọn trong số những giải pháp xử trí được chấp nhận trong y học dựa theo chứng cứ hoặc từ chối điều trị. Khả năng của bệnh nhân tùy thuộc vào hiểu biết của họ với thông tin hoặc chấp nhận hàm ý những thông tin này được trình bày và/ hoặc có thể thay đổi theo từng người.

Khả năng không nên nhầm với quyền thực thi khả năng. Quyền thực thi khả năng là một quyết định pháp lý hạn hẹp được tiến hành bởi nhân viên y tế với kiến thức uyên thâm trong quyết định của họ (bác sĩ tâm lý, bác sĩ tâm thần, những người khác), bởi luật sư, chánh án. Hiểu biết sự khác biệt giữa khả năng và khả năng tạo quyết định của bệnh nhân là quan trong trong những tình huống đưa ra quyết định lâm sàng khó khăn, nhiều cảm xúc. Nếu bệnh nhân được quyết định là không có khả năng về mặt pháp lý, hoặc nếu thầy thuốc tin rằng bệnh nhân không có khả năng đưa ra quyết định, người quyết định đại diện phải được chỉ định. Trong trường hợp không có mặt về giá trị pháp lý lâu dài, các thành viên trong gia đình phải được gọi đến để được chỉ định như là người đại diện. Trong 1 số tình huống, nhờ tòa án được để chỉ định người giám hộ. Người đưa ra quyết định đại diện nên cố gắng đưa ra quyết định mà bệnh nhân mong muốn, hoặc ngay cả khi không biết mong muốn của bệnh nhân; sẽ thúc đẩy mối quan tâm nhất của bệnh nhân. Trong trường hợp cấp cứu, thầy thuốc phải đảm nhận vai trò này trong 1 thời gian ngắn trước khi người đưa ra quyết định thích hợp được xác định. Trong bối cảnh sản khoa, sản phụ được xem như là người đưa ra quyết định phù hợp cho bào thai của chính họ.

2/ Thu thập dữ liệu càng khách quan càng tốt. Hội ý lẫn nhau thường có lợi để xúc tiến trong việc này.

3/ Xác định và đánh giá tất cả chọn lựa xử trí y tế thích hợp.

4/ Đánh giá có hệ thống các chọn lựa này. Sau khi loại bỏ những chọn lựa vi phạm y đức, chọn lựa còn lại phải được xem xét và xác định chọn lựa tốt nhất. Chân giá trị của bệnh nhân nói chung là xem xét quan trọng nhất khi xúc tiến chọn quyết định.

5/ Xác định những xung đột về y đức và lập ra thứ tự ưu tiên, sau đó chọn lựa cái gì có thể được cho là phù hợp nhất

6/ Đánh giá lại quyết định sau khi đã chọn lựa nó và theo dõi nó trong thực tế dựa trên những kết quả lâm sàng. Nếu xử trí điều trị không giải quyết được vấn đề 1 cách đầy đủ, phải tiến hành đánh giá lại tất cả những thông tin và tiến hành những kế hoạch điều trị khác. Những câu hỏi phù hợp ở thời điểm này bao gồm: quyết định có khả năng nhất đã được đưa ra chưa?, bài học nào được học từ buổi thảo luận và giải pháp của vấn đề là gì?

Sẽ có ý nghĩa cho từng bác sĩ khi họ tìm ra và nghĩ ra bảng hướng dẫn về chọn lựa quyết định để có thể được ứng dụng xuyên suốt khi đối mặt với những khó khăn về y đức. Đoàn bác sĩ sản phụ khoa và những tổ chức nghề nghiệp tương tự khác đã cho những bảng hướng dẫn mà chúng thường giúp thầy thuốc dễ dàng thực hiện công việc quan trọng này.

Tuy nhiên thỉnh thoảng điều trị bằng phẫu thuật hoặc nội khoa cho kết quả có hại và/hoặc không mong muốn. Cho thầy thuốc kết quả tốt nhất, hiểu biết thành thật việc gì đang diễn ra cho bệnh nhân và tại sao (cho gia đình của sản phụ và những người có trách nhiệm khác) là trách nhiệm y đức hiện hữu của thầy thuốc, chẳng hạn như ghi bệnh án rõ ràng về buổi trao đổi này. Khi bệnh nhân hoặc gia đình bệnh nhân hỏi về lời giải thích ghi trong bệnh án, nỗi ám ảnh về trách nhiệm trong khám chữa bệnh (thỉnh thoảng được cảm nhận sai như là biến cố do chăm sóc người bệnh không tốt) từ từ hiển hiện.

Trách nhiệm thầy thuốc trong khám chữa bệnh

Khi kết quả khám chữa bệnh được cảm nhận không tốt, hoạt động quy trách nhiệm (thưa kiện) có thể xảy ra. Những tình huống như vậy có thể phòng ngừa bằng phương cách tốt nhất là thực hành y học dựa theo chứng cớ, giao tiếp thành thật và thẳng thắn giữa bệnh nhân và thầy thuốc. Ghi hồ sơ bệnh án thích hợp rất quan trọng trong khám chữa bệnh.

Tờ cam kết

Đưa ra tờ cam kết thật sự là 1 sự đột phá, đó là một phần của quá trình chăm sóc người bệnh, mỗi ngày nên có cam kết giữa thầy thuốc với bệnh nhân. Nói 1 cách đơn giản, tờ cam kết bao gồm thầy thuốc báo cáo cho sản phụ về chọn lựa có sẵn để chăm sóc phòng ngừa và các vấn đề cụ thể khác. Quá trình cam kết thuộc trách nhiệm của thầy thuốc, không thể ủy nhiệm cho người khác. Thảo luận nên bao quát những phát hiện và thông tin mà hiện tại người ta biết cũng như những khảo sát khác được khuyến cáo, bao gồm chỉ định, nguy cơ, ưu điểm, những giải pháp thay thế. Bệnh nhân cũng nên ý thức rằng: cô ta quyền không chấp nhận điều trị. Nếu thầy thuốc muốn trợ giúp, 1 buổi tham vấn hoặc chuyển bệnh nhân đi có thể có hiệu quả. Qua tham vấn này, bệnh nhân có cơ hội để hỏi những điều mà thầy thuốc có thể trả lời đầy đủ. Quá trình này dàn trải hoạt động của thầy thuốc từ kê thuốc Aspirin chữa nhức đầu đến cuộc đại phẫu nào đó. Thực tế chứng minh, tờ cam kết có tầm quan trọng đặc biệt như 1 phần quyết định can thiệp phẫu thuật chính yếu, chẳng hạn như sinh đẻ và phẫu thuật. Ghi chép phù hợp bao gồm ký tờ cam kết theo đúng qui trình và bệnh nhân đồng ý với kế hoạch xử trí được đưa ra (hoặc không chấp nhận điều trị tại thời điểm đó). Bệnh nhân này, 1 nhân chứng, thường thường thầy thuốc kí vào tờ cam kết, mảnh giấy này được dán vào hồ sơ bệnh án. Một bản sao được đưa cho bệnh nhân.

Tuy nhiên thỉnh thoảng, bệnh nhân hoặc gia đình vẫn hỏi về quyết định phẫu thuật và kết quả điều trị. Trong trường hợp này, hoạt động thưa kiện trong khám chữa bệnh có thể diễn ra.

Hoạt động thưa kiện trong khám chữa bệnh

Hoạt động thưa kiện trong khám chữa bệnh có thể là nỗi sợ hãi ám ảnh và gây lo lắng cho thầy thuốc. Hiểu biết về các bước của hoạt động này là có lợi, ví dụ nhận biết rõ hệ thống phám luật hiện thời, 1 vụ kiện có thể xuất phát từ bệnh nhân hoặc gia đình họ bất chấp chất lượng khám chữa bệnh mà họ có được như thế nào. Người quản lý nguy cơ khám chữa bệnh hoặc quản lý hành nghề y dược, người tư vấn pháp luật là những ngườu quan trong để giúp thầy thuốc trong các vụ kiện. một số điều luật thay đổi không ngừng nhưng trong, 1 số trường hợp có 1 số điểm chung sau đây:

– Đơn thưa kiện, đó là 1 bản viết ngắn gọn, thông thường thầy thuốc đủ kiến thức về vấn đề của hoạt động này, nói rằng có đủ thông tin để hỗ trợ hoạt động thưa kiện trong khám chữa bệnh, phải được tòa án chấp nhận bởi nhằm mục đích cho vụ kiện diễn ra.

– Xác định nguyên cáo, (bệnh nhân hoặc thỉnh thoảng gia đình của bệnh nhân) và bị cáo (thầy thuốc, bệnh viện, hệ thống y tế có liên quan trong trường hợp này).
– Hồ sơ của nguyên cáo đưa ra lời tố cáo cụ thể cho những gì mà nguyên cáo nghĩ là sai và tại sao.
– Người hòa giải cho 2 phía yêu cầu đưa hồ sơ bệnh án và bất cứ những thông tin liên quan khác (xét nghiệm, hóa đơn, những ghi nhận về chi phí, 1 số giao dịch). Thông tin là đặc quyền (nghĩa là không thể sử dụng, được miễn trừ) chẳng hạn như nội dung trao đổi với người hòa giải.
– Nhân chứng có kiến thức trong ngành được 2 bên thuê. Họ được mong chờ để nói lên kiến thức y học liên quan đến trường hợp này. Quan điểm của những người này, về mặt lý thuyết đơn thuần, dựa vào thông tin y học và kiến thức về vụ kiện. Họ không bị chi phối bởi bất cứ ai tiếp xúc với họ hoặc được số tiền họ nhận cho dịch vụ của họ. Trong thực tế, những chuyên gia y học thường là người ủng hộ cho thân chủ của họ, mà thân chủ họ có luật sư đại diện, chính luật sư là người thuê chuyên gia này. Ngày nay, nhiều tổ chức chuyên nghiệp đưa ra nhiều bảng hướng dẫn cho các thành viên. Đoàn bác sĩ sản phụ khoa cũng xuất bản những bảng hướng dẫn.
– Phân biệt giữa kết quả không mong muốn và sai lầm trong khám chữa bệnh.

Kết quả không mong muốn trong khám chữa bệnh được định nghĩa như là kết quả xảy ra không như ý bất chấp chất lượng chăm sóc áp dụng cho người bệnh. Đối với kết quả được xem như là sai lầm trong khám chữa bệnh, kết quả này phải được chứng minh là do sự thờ ơ với bệnh nhân (chăm sóc bệnh nhân với kết quả thấp hơn tiêu chuẩn chăm sóc được mong chờ). Sai lầm trong khám chữa bệnh khác với kết quả khám chữa bệnh không mong muốn khác nhau bằng việc chứng minh có sự thiếu trách nhiệm với bệnh nhân.

Sau khi xem những thông tin có sẵn và quan điểm của những nhân chứng có kiến thức y học, người hòa giải cho nguyên cáo và bị cáo có 3 chọn lựa chính: 1 là đồng ý về những gì đã được thảo luận, bồi hoàn tiền cụ thể cho nguyên cáo, thường không thông báo cho bên ngoài biết; 2 là đồng ý rằng trường hợp này cho rằng sai lầm khám chữa bệnh là không chính xác, kết quả là rút lại lời tố cáo, thường không thông báo cho bên ngoài biết; 3 là bất đồng về việc có hay không sai lầm trong điều trị, kết quả là vấn đề được đưa ra tòa và vụ kiện sẽ diễn ra.

Có nhiều bảng hướng dẫn dựa trên chứng cớ trong chăm sóc bệnh nhân không được xem như tiêu chuẩn trong khám chữa bệnh.

An toàn cho người bệnh

Trong bảng báo cáo của viện y học: “sai lầm mới là con người, xây dựng 1 hệ thống y tế an toàn vào năm 2000”, an toàn cho người bệnh và sai lầm trong khám chữa bệnh được ghi nhận đóng vai trò quan trọng gây tổn thương và chết chóc cho bệnh nhân. Hậu quả, an toàn người bệnh và giảm thiểu sai lầm trở thành ý nghĩa tột bực trong hệ thống y tế và trong hành nghề khám chữa bệnh.

Định nghĩa về an toàn cho bệnh nhân

Có nhiều định nghĩa được lưu hành rộng rãi về an toàn cho bệnh nhân. Các tổ chức về an toàn khám chữa bệnh hàng đầu và định nghĩa của họ được nêu ra dưới đây.

– Viện y học: không gây chấn thương vô ý, đảm bảo an toàn người bệnh, bao gồm lập ra 1 hệ thống vận hành và những quá trình giảm thiểu khả năng xảy ra sai lầm, tăng cao khả năng can thiệp xử trí khi chúng xảy ra.

– Quỹ an toàn bệnh nhân quốc gia: để tránh, phòng ngừa, giảm thiểu những kết quả có hại, những chấn thương xuất phát từ quá trình khám chữa bệnh, bao gồm sai lầm, lệch lạc, tai nạn. An toàn cho bệnh nhân xuất phát từ sự tương tác của những thành phần này.
– Cơ quan khảo sát khám chữa bệnh và chất lượng khám chữa bệnh, diễn đàn về chất lượng khám chữa bệnh chquốc gia: đây 1 quá trình nhiều bậc mà khi áp dụng vào thực tế sẽ giảm được xác xuất xảy ra những biến cố nguy hại khi được khám và điều trị 1 số bệnh và 1 số phẫu thuật trong hệ thống y tế. Mặc dù dường như có nhiều định nghĩa về an toàn cho người bệnh, 1 số chủ đề đã xuất hiện. đây là hệ thống vận hành, xử lý, phân tầng nhằm giảm thiểu khả năng xảy ra sai lầm. các yếu tố này hòa hợp với nhau tạo ra thói quen làm việc an toàn.” Có theo quen làm việc an toàn cần hiểu biết về giá trị, niềm tin, phong tục về khía cạnh quan trọng trong một tổ chức và thái độ và hành vi có liên quan với an toàn cho người bệnh là phù hợp và được mong mỏi.

GIẢM THIỂU SAI LẦM BẰNG CÁCH XEM TRỌNG VẤN ĐỀ AN TOÀN NGƯỜI BỆNH
– Vấn đề và những khía cạnh chủ yếu về an toàn cho người bệnh và giảm thiểu rủi ro cho họ như sau đây:
– sai lầm về kê đơn
-Sai lầm về phẫu thuật
-Cải thiện trong giao tiếp với các thành viện trong ekip làm việc, đặc biệc khi giao ban
– cải thiện trong giao tiếp với người bệnh
-Sai làm về dùng thuốc
– Hầu hết sai lầm trong khám chữa bệnh có liên quan đến vấn đề sử dụng thuốc. Chữ viết xấu, khó đọc, viết tắt không chuẩn, không kiểm tra dị ứng hoặc tương tác thuốc, y lệnh miệng, dùng số 0 đi sau chấm thập phân khi cho thuốc là tất cả các yếu tố góp phần cho sai lầm về dùng thuốc. Mặc dù, hệ thống nhập y lệnh của thầy thuốc đã được vi tính hóa có thể giảm một số sai lầm, khi bắt buộc cẩn trọng đối với những vấn đề trên đây khi thầy thuốc kê toa giúp giảm sai lâm về sử dụng thuốc.
– Sai lầm về phẫu thuật
– Hiếm xảy ra so với sai lầm về sử dụng thuốc, sai lầm do phẫu thuật thường nguy hiểm hơn. Sai lầm bao gồm mổ sai hoặc thủ thuật sai, mổ sai vị trí trên cơ thể người bệnh, mổ lầm bệnh nhân. Quá trình kiểm tra trước mổ theo chuẩn và nghiêm túc với sự tham gia của người bệnh được nghĩ ra để làm giảm sai lầm phẫu thuật. Ngay khi đưa bệnh nhân đến phòng mổ, tất cả nhân viên phòng mổ tham gia tuần tự để khẳng định các khía cạnh quan trọng của trường hợp mổ này. An toàn cho người bệnh cũng được đề cập về việc đếm chính xác dụng cụ mổ, kim, bong gạc khi mổ xong.

Cải thiện giao tiếp giữa các thành viên nhóm làm việc lúc giao ban.

Giao ban, hoặc chuyển nhiệm vụ sang cho nhóm khác là chuyển thông tin bệnh nhân từ 1 người, 1 nhóm có trách nhiệm cho 1 người, 1 nhóm khác. Giao ban nên năng động với cơ hội cho nhóm hoặc người nhận trách nhiệm đặt câu hỏi và làm sáng tỏ những điểm để chăm sóc bệnh nhân. Dùng thuật ngữ chuyên ngành theo chuẩn tránh được sai lầm trong giao tiếp.

Bối cảnh để giao ban phải không bị quấy rầy để tăng cường trò chuyện và giảm gián đoạn. Bí mật của bệnh nhân nên được giữ kín và chỉ những gì liên quan đến chăm sóc bệnh nhân nên được riêng tư để bảo vệ thông tin về bệnh tật.

Thứ bậc của nhóm chăm sóc bệnh nhân, đặc biệt trong môi trường giảng dạy cũng có thể can thiệp vào quá trình chuyển giao thông tin quan trọng. Mỗi thành viên của nhóm điều trị có mặt nên được khuyến khích tham gia. Phương pháp giao tiếp có thể là rào cản quan trọng đối với chuyển giao hiệu quả những thông tin quan trọng. Những dạng giao tiếp theo cấu trúc như là kỹ thuật giới thiệu đánh giá nền tảng tình huống nên được xem xét.

Chú ý nhiều đến nhiều mặt của buổi chuyển giao bệnh nhân là quan trọng đối với sự phát triển văn hóa an toàn cho người bệnh.
Cải thiện giao tiếp với bệnh nhân

Thiếp lập mối quan hệ gần gũi và tạo ra 1 buổi nói chuyện ý nghĩa là quan trọng đối với mối quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân, cải thiện giao tiếp với bệnh nhân, lắng nghe mối quan tâm của họ, xúc tiến mối quan hệ chủ động nên là trọng tâm của bất cứ chiến lược an toàn cho người bệnh. Nhân viên y tế nên nói chậm; dùng ngôn ngữ bình dân; và không chỉ cho phép mà còn khuyến khích bệnh nhân hỏi.

Tờ cam đoan là 1 quá trình giao tiếp, không đơn thuần là mảnh giấy hoặc tờ giấy có chữ ký. Với tờ cam đoan bệnh nhân nên hiểu biết chuẩn đoán của cô ta, điều trị được khuyến cáo, biến chứng có thể xảy ra, chọn lựa điều trị. Trong thực tế, tạo ra quyết định lâm sàng là 1 sự liên tục với thầy thuốc đi đầu buổi thảo luận cho đến sau cùng và người bệnh chọn quyết định lúc kết thúc.

Thầy thuốc cần thông báo bệnh nhân kết quả xét nghiệm sẽ được trao đổi như thế nào, trong bối cảnh ngoại trú và nội trú. Kết quả xét nghiệm cho ra những chiến lược được nghĩ ra cho từng khoa và có thể bao gồm các sổ nhật ký hoặc những lời nhắc nhở trong máy vi tính. Mục đích nên để trao đổi mỗi kết quả xét nghiệm cho từng bệnh nhân trên cơ sở chọn trước khi bệnh nhân nhập viện, thầy thuốc bắt buộc dùng hệ thống thông tin bệnh viện và thông báo bệnh nhân về kết quả và ý nghĩa của chúng khi chúng có sẵn.

Cải thiện giao tiếp với bệnh nhân giúp tăng cường mối quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân, để tăng mức độ thỏa mãn của người bệnh, tăng độ chính xác của chuẩn đoán, tăng sự tuân thủ với các khuyến cáo điều trị, cải thiện chất lượng chăm sóc người bệnh.

Theo dõi lâm sàng ngoại trú

Lúc khám bệnh nhân lần đầu, bạn quyết định rằng cô ta không dùng các sản phẩm vệ sinh âm đạo phụ nữ, không thay đổi hóa mỹ phẩm khi tắm bao gồm xà bông, không có dị ứng. Tiền sử về bệnh tật là không có, bao gồm là đái tháo đường. Khám vùng chậu không thấy huyết trắng, sang thương…. Bạn tiến hành 1 số xét nghiệm tầm soát và chuẩn đoán. Lúc cô ta tái khám, bạn chú ý rằng tất cả xét nghiệm đều bình thường. Một lần nữa cô ta than phiền rằng tiếp tục có huyết trắng. Bạn khám vùng chậu lại với các dung dịch thì cũng không có phát hiện gì. Bởi vì phải có sự phối hợp của các triệu chứng tái phát liên quan đến huyết trắng có mùi hôi chưa được chuẩn đoán nguyên với khả năng bị lạm dụng tình dục, hoặc thậm chí có thể bị bạo hành tình dục, bạn sử dụng kỹ năng giao tiếp thấu cảm tốt nhất để gợi ra vấn đề này hơn nữa. Lúc đầu, cô ta từ chối, nhắc nhở bạn về quyền hợp pháp của cô ta và sự vi phạm của bạn trong việc xúc tiến đưa ra những câu hỏi phi lý nữa. Mặc dù bạn ý thức rằng đây là một lời đề nghị đanh thép là hoàn toàn tương thích với quyền độc lập về y đức của cô ta. Bạn đồng thời ý thức được trách nhiệm về quyền lợi có tính y đức, hiểu về mối nguy hại ngày càng nhiều nếu không nhận ra 1 lần hoặc nhiều lần bị bạo hành tình dục. Cô ta miễn cưỡng cho phép người tư vấn ngay phòng làm việc của bạn tham gia vào cuộc nói chuyện với bạn và cuối cùng, cô ta tiết lộ bạo hành tình dục từ người làm cùng phòng trước đó 3 ngày tại 1 cuộc vui trước khi cô ta đi khám lần đầu tại bác sĩ gia đình. Trichomonas vaginalis được phân lập. Cô ta khóc và nói rằng không có ai bạo hành bởi vì cô ta xấu hổ là không sử dụng những lời khuyến cáo trước đó để ngăn ngừa cuộc bạo hành. Cô ta tiếp tục cam đoan rằng bạn không tìm được nguyên nhân nhiễm trùng mà cô ta biết nó đang hiện diện. Bạn và nhóm nhân viên ngay lập tức bắt đầu điều trị cô ta và nhận ra đây là hội chứng chấn thương do hiếp dâm, an ủi cô ta và nói rằng đó không phải là lỗi và giúp cô ta điều trị vấn đề này. Bạn nói rằng sẽ luôn bên cạnh với cô ta và sắp xếp lần theo dõi kế tiếp; với sự hỗ trợ này, cô ta đồng ý khám ngay để điều trị về bị hiếp dâm, nhân viên sắp xếp lần khám bệnh vào cuối ngày. Bạn cũng được phép tiết lộ thông tin này cho nhóm điều trị chấn thương do hiếp dâm và cũng thông báo với bác sĩ gia đình của cô ta. Hơn nữa, cô ta đồng ý là cần báo cảnh sát, điều này bạn cũng biết và nó sẽ là 1 phần của lần khám đầu tiên cho cô ta ở trung tâm điều trị chấn thương. Trong khi vẫn còn tâm trạng bấn loạn, bệnh nhân này cũng nói ra 1 số hi vọng cho tương lai, ghi nhận là có quá nhiều người sẵn sàng giúp đỡ mà không có ai đánh giá về phẩm giá của bệnh nhân này.

BS Nguyễn Văn Học

Sau khi khởi động phần mềm thống kê R, việc cần làm gì đầu tiên là gì? [Thống kê căn bản]

Các thao tác sử dụng phần mềm thống kê R đơn giản [Thống kê căn bản]

R là phần mềm thống kê có nhiều tính năng mạnh mẽ, vượt trội hơn nhiều so với các phần mềm khác. Việc tiếp cận R ở giai đoạn đầu có thể sẽ khó khăn với những ai không quen với cách làm việc dựa vào cấu trúc lập trình. Tuy nhiên, nếu duy trì học hỏi, chỉ sau khoảng 4 tháng các bạn hoàn toàn có thể sử dụng R cho các mục đích phân tích thống kê mình cần.

R statistics – Công cụ đắc lực cho các nhà khoa học trong thế kỉ XXI!

[Kỹ năng mềm cho NCKH] Thủ thuật đưa tài liệu tham khảo từ Word vào Endnote

Kỹ năng IT là một bộ phận rất quan trọng trong nhóm các kỹ năng cần có để trở thành một nhà nghiên cứu khoa học. Biomedera Education sẽ cùng đồng hành với các bạn trong quá trình tìm tòi, làm quen và thành thục các kỹ năng này. Qua đó, giúp các bạn giải quyết được các khó khăn bước đầu trên chặn đường nghiên cứu khoa học của mình!

Hãy tải phần mềm học tiếng Pháp miễn phí tại đây:

https://play.google.com/store/apps/details?id=com.tiengphap.biomedera&hl=en

Đây là tuyển tập các chuyên đề văn phạm tiếng Pháp cho mọi đối tượng. Mục đích của chúng tôi là nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản nhất cho những người có đam mê tiếng Pháp và văn hóa Pháp.

Cô Trang Khanh hiện là giáo viên dạy tiếng Pháp cho sinh viên thuộc các trường Đại học tại TP.HCM.

Mọi liên hệ nhu cầu học tập, hợp tác sản xuất video giáo dục cũng như góp ý xin gửi về: biomedera.edu@gmail.com

Ban giảng huấn: Trang Khanh — Phước Long — Thanh Trang

p/s: Best view at 1080p

Biomedera – Aspiration of Knowledge

Channel: https://www.youtube.com/BiomederaEducation

Kỉ nguyên Y Sinh học – Biomedera’s channel

Chúng tôi không thể trình bày chính xác hoàn toàn sự thật trong các video này. Do vậy mong rằng các bạn có thể sử dụng sự tinh tế của mình khi xem cơ hồ nắm bắt được tri thức!

Follow us:

Fb: http://www.facebook.com/Biomedera

Website: http://www.biomedera.com http://www.docsachysinh.com

Hãy ấn Like và Subcribe để theo dõi những video mới nhất của chúng tôi nhé!

Hướng dẫn học online cùng Coursera.org (MOOC) – Biomedera Education

Hướng dẫn học online cùng Coursera.org – Biomedera Education

Coursera cũng là một nền tảng MOOC rất hay với số lượng khóa học lớn thuộc nhiều lĩnh vực từ Khoa học đến Xã hội và cả Y Sinh học. Các bạn hãy xem video sau để biết cách học với Coursera cùng Biomedera Education nhé!

Hãy tải phần mềm học tiếng Pháp miễn phí tại đây.

Mọi liên hệ nhu cầu học tập, hợp tác sản xuất video giáo dục cũng như góp ý xin gửi về:
biomedera.edu@gmail.com

p/s: Best view at 1080p

Biomedera – Aspiration of Knowledge

Channel:
https://www.youtube.com/BiomederaEducation

Kỉ nguyên Y Sinh học – Biomedera’s channel

Chúng tôi không thể trình bày chính xác hoàn toàn sự thật trong các video này. Do vậy mong rằng các bạn có thể sử dụng sự tinh tế của mình khi xem cơ hồ nắm bắt được tri thức!

Follow us:

Fb: http://www.facebook.com/Biomedera

Website: http://www.biomedera.com
http://www.docsachysinh.com

Hãy ấn Like và Subcribe để theo dõi những video mới nhất của chúng tôi nhé!

Cách viết kết luận cho phần thi viết – Vui học tiếng Anh (TOEFL iBT and IELTS tips)

Cách viết kết luận cho phần thi viết – Vui học tiếng Anh (TOEFL iBT and IELTS tips)

Sau khi trình bày xong mở bài và thân bài với các luận điểm và luận cứ hoàn chỉnh. Việc viết một kết luận thật hay cho bài viết sẽ giúp bạn đạt được điểm tối đa. Có những kĩ thuật kết luận bài viết nào và cách gợi nhớ để sử dụng ra sao? Câu trả lời nằm trong đã có sẵn trong video.

Đây là video thử nghiệm cho các chương trình tiếng Anh sắp tới của Biomedera Education với sự cộng tác của các bạn trẻ có tâm huyết với sự nghiệp giáo dục. Mong nhận được sự góp ý của mọi người để các video sau có thể hoàn thiện hơn.

Chúng tôi gặp khó khăn về mặt kinh phí trong việc chuẩn bị thiết bị thu âm cũng như địa điểm thu âm, do vậy chất lượng âm thanh thu vào không được như ý muốn cũng như lẫn tạp âm, mong mọi người lượng thứ.

Mọi liên hệ nhu cầu học tập, hợp tác sản xuất video giáo dục cũng như góp ý xin gửi về:
biomedera.edu@gmail.com

Ban giảng huấn: Trang Khanh — Phước Long — Thanh Trang

p/s: Best view at 1080p

Biomedera – Aspiration of Knowledge

Channel:
https://www.youtube.com/BiomederaEduc…

Kỉ nguyên Y Sinh học – Biomedera’s channel

Chúng tôi không thể trình bày chính xác hoàn toàn sự thật trong các video này. Do vậy mong rằng các bạn có thể sử dụng sự tinh tế của mình khi xem cơ hồ nắm bắt được tri thức!

Follow us:

Fb: http://www.facebook.com/Biomedera

Website: http://www.biomedera.com
http://www.docsachysinh.com

Hãy ấn Like và Subcribe để theo dõi những video mới nhất của chúng tôi nhé!

TMAO và xơ vữa động mạch

Để tìm hiểu về TMAO tác dụng của chúng trong việc tạo ra lớp xơ vữa động mạch và dẫn đến bệnh tim mạch. Chúng ta hay bắt đầu với carnitine và lecithin

I. Carnitine là gì ?

Carnitine là một hợp chất (compound) amino bậc bốn được tổng hợp sinh học từ 2 amino acid là lysine và methinonine. Carnitine là thuật ngữ chung cho một số hợp chất bao gồm: L-carnitine, acetyl-L-carnitine, và propionyl-L-carnitine.

Carnitine có vai tròng rất quan trọng trong quá trình tạo năng lượng của cơ thể. Trong tế bào sống, chúng vận chuyển các acid béo chuỗi dài (long-chain fatty acid) vào trong ti thể (mitochondria) để oxi hóa (oxidate) tạo ra năng lượng, ngoài ra chúng cũng loại bỏ các chất độc ra khỏi các tế bào này tránh sự tích tụ của các chất độc này.

Carnitine được tổng hợp sinh học (biosynthesis) chủ yếu ở gan (liver) và thận (kidney). Bình thường thì cơ thể không cần ăn thức ăn chứa carnitine hay cung cấp thêm carnitine từ bên ngoài vì gan và thận đã tổng hợp đủ cartinine cho cơ thể từ lượng lysine và methionine có trong thức ăn mỗi ngày.

anh 11 300x300 TMAO và xơ vữa động mạch

Hình 1. Carnitine

II. Sự hấp thụ và trao đổi chất của cartinine

Carnitine có vai trò vận chuyển chuỗi dài acid béo vào trong chất nền ty thể (mitochondial matrix) thông qua phản ứng beta oxi hóa (β-oxidation) để thành acetyl CoA và sử dụng nó để tạo năng lượng thông qua chu trình Kreps hay còn gọi là chu trình acid citric (citric acid cycle).

Sự rối loạn oxi hóa acid béo hay các quá trình trao đổi (metabolism) chất đặc trưng thường có các nguyên nhân nguyên phát hay thứ phát do sự thiếu carnitine. Một số rối loạn như tăng phân giả lipid (lipolysis), tăng quá trình peoroxy hóa lipid (lipid peroxidation), tích tụ acylcarnitine hay các bệnh về cơ tim (myocardial disease), bệnh động mạch ngoại biên (peripheral artery disease).

anh 23 233x300 TMAO và xơ vữa động mạch

Hình 2.  Chuyển hóa carnitine

III. Chúng ta hãy tiếp tục tìm hiểu về lecithin

Lecithin là một thuật ngữ chung dùng để chỉ bất kỳ một nhóm chất béo có màu vàng nâu có ở mô (tissue) động vật và thực vật gồm có: phosphoric acid, choline, fatty acids, glycerol, glycolipids, triglycerides, and phospholipids (ví dụ như  phosphatidylcholine, phosphatidylethanolamine và phosphatidylinositol).

Lưu ý trong hầu hết các tài liệu Hóa sinh học, người ta thường dùng Lecithin để ám chỉ phosphatidylcholine.

Ở vấn đề này chúng ta sẽ quan tâm và nói đến phosphatidylcholine. Vậy phosphatidylcholine là gì?

Phosphatidylcholine (PC) là một phân loại của phospholipids gồm có một nhóm phosphase, 2 acid béo và một nhóm choline. Phosphatidylcholine là phospholipid có nhiều nhất trong động vật và thực vật, thông thường có thể chiếm đến 50% tổng số lượng, nó là một thành phần quan trọng trong màng tế bào (cell membrane). Phosphatidylcholine cũng là thành phần chính tuần hoàn trong huyết tương (plasma) và là thành phần không thể thiếu của lipoprotein nhất là high density lipoprotein (HDL). Phosphatidylcholine có trong thành phần thức ăn hàng ngày chúng ta ăn vào.

anh 43 222x300 TMAO và xơ vữa động mạch

Hình 3. Phosphatidylcholine

IV. Chức năng của phosphatidylcholine

Phosphatidylcholine là thành phần chính của màng tế bào (cell membrane) và chất hoạt dịch của phổi (pulmonary surfactant).

Acid béo cần thiết tăng cường hệ miễn dịch (immune system) và cũng giúp sữa chữa những tỗn thương của tế bào

Nhóm choline trong phosphatidylcholine có vai trò trong sự trao đổi chất thích hợp của chất béo. Chúng làm cho chất béo di chuyển ra và vào tế bào dễ dàng. Choline có vai trò chính trong chuyển hóa mỡ ở gan.

 Phosphatidylcholine làm tăng tính tan của cholesterol vì vậy giúp làm giảm khả năng gây xơ vữa động mạch (atherosclerosis) của cholesterol. Phosphatidylcholine giúp làm giảm cholesterol, giảm cholesterol lắng đọng ở các mô và ức chế sự kết tụ tiểu cầu (platelet aggregation).

Phosphatidylcholine là chất được sử dụng để tạo một chất dẫn truyền thần kinh là Acetylcholine. Vì vậy phosphatidylcholine có thể sử dụng để kiểm soát hay điều trị các bệnh não như : mất trí nhớ (memory loss), lo lắng (anxiety), bệnh Alzheimer (Alzheimer’s disease). Ngoài ra phosphatidylcholine cũng được sử dụng để chữa các bệnh như viêm gan (hepatitis), bệnh chàm (eczema), các bệnh về túi mật (gallbladder).

V. TMAO là chất gì ?

Trimethylamine N-oxide (TMAO) là một hợp chất hữu cơ (organic compound) có công thức (CH3)3NO. Là một chất rắn không màu thường bắt gặp dưới dạng dihydrate. Là sản phẩm của quá trình oxy hóa trimethylamine.

anh 6 TMAO và xơ vữa động mạch

Hình 4. Trimethylamine-N-oxide (TMAO)

VI. Sự liên quan giữa TMAO, carnitine, phosphatidylcholine  và xơ vữa động mạch.

Hệ tiêu hóa (digestive system) của chúng ta là nhà của hàng tỷ tỷ vi khuẩn, chúng tập hợp lại thành một hệ vi khuẩn vùng (microbiota) chúng có vai trò tiêu hóa thức ăn, tạo ra các hợp chất. Một trong các hợp chất đó có trimethylamine  có thể được chuyển hóa (metabolize) thành trimethylamine N-oxide (TMAO).

TMAO có liên quan đến bệnh lý xơ vữa động mạch (atherosclerosis) một bệnh lý mà trong đó các mảng (plaque) xơ vữa được tạo nên trong lòng động mạch (artery). Những người ăn nhiều thịt đỏ (red meat) như thịt bò, thịt cừu có nguy cơ bị các bệnh về tim mạch (cardiovascular disease). Trong thịt đỏ chứa rất nhiều carnitine, các vi khuẩn ở ruột (gut bacteria) có thể phát triển nhanh nhờ carnitine để sản xuất ra  một lượng lớn TMAO sau bữa ăn với nhiều thịt đỏ, làm tăng lượng TMAO trong máu và trong lòng mạch làm ngăn chặn nhiệm vụ dọn dẹp cholesterol của HDL.

anh 52 300x212 TMAO và xơ vữa động mạch

Hình 5. Một số loại thịt đỏ

Điều thú vị ở đây là không phải carnitine trong thịt đỏ gây ra nguy cơ về bệnh tim mạch mà chính là các vi khuẩn trong ruột của chúng ta gây nên điều đó. Nghe có vẻ vô lý nhưng nếu bạn ăn thịt đỏ mỗi ngày thì các vi khuẩn ruột sẽ phát triển một loại vi khuẩn có khả năng tạo ra lượng lớn TMAO làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch.  Nếu chúng ta ăn ít thịt đỏ hay hiếm khi ăn thì bạn không có các vi khuẩn tương tự và không tạo ra quá nhiều TMAO. Vì vậy với một chế độ ăn quá nhiều thịt đỏ thì có thể dễ tạo ra nhiều TMAO hơn và tăng nguy cơ gây ra xơ vữa động mạch.

Cũng như carnitine, có sự liện hệ giữa chế độ ăn nhiều chất có chứa phosphatidylcholine và các bệnh tim mạch mà đặc biệt là bệnh xơ vữa động mạch. Các nghiên cứu được thực hiện bằng cách sử dụng kháng sinh để hạn chế sự hoạt động của các vi khuẩn trong ruột kết quả là có rất ít TMAO được tạo ra từ cùng một lượng thức ăn chứa phosphatidylcholine so với khi không sử dụng kháng sinh thì một lượng TMAO lớn được tạo ra.  Khi chế độ ăn quá nhiều phosphatidylcholine, thì cơ thể sẽ tổng hợp ra một lượng lớn TMAO bằng cách sử dụng nhóm choline của phosphatidylcholine để tạo thành trimethylamine (TMA) và TMA nhanh chóng bị oxi hóa thành TMAO bởi các vi khuẩn trong ruột.

Ở phần trên chúng ta có nói đến chức năng của phosphatidylcholine là giảm xơ vữa động mạch nhưng ở đây ta lại nói là phosphatidylcholine là một nguyên nhân gẫn đến xơ vữa động mạch. sở dĩ có sự trái ngược ở đây là do phosphatidylcholine được chuyển theo những lộ trình khác nhau, trong lộ trình này có thể có lợi cho cơ thể (giảm lượng cholesterol trên thành mạch) nhưng ngược lại cũng có những lộ trình có hại cho cơ thể (tạo ra TMAO).

TMAO làm tích lũy cholesterol trong đại thực bào (macrophage) và các tế bào bọt (foam cell) trong thành động mạch và gây xơ vữa động mạch từ đó dẫn đến nguy cơ các bệnh về tim mạch như nhồi máu cơ tim (heart attack), đột quỵ (stroke) và tử vong (death). Ngoài ra choline còn có thể được oxy hóa thành betaine ở gan (liver) và thận (kidney) có vai trò như một chất nền (subtrate) để tạo thành TMA và có lẽ là TMAO.

anh 7 300x190 TMAO và xơ vữa động mạch

Hình 6. Con đường liên quan giữa phosphatidylcholine, các vi khuẩn ruột và xơ vữa động mạch

Vì vậy chúng ta cần có chế độ ăn thích hợp, không phải là lại bỏ hoàn toàn những chất chứa hàm lượng carnitine hay phosphatidylcholine cao, nhưng mà là ăn đủ chứ không ăn quá nhiều để tránh nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch.

Anhvanykhoa.com

Tác giả: Anh Nguyễn – AVYK

Nhiễm khuẩn tiết niệu: Bệnh hay gặp khi mang thai

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu là khi vi khuẩn xâm nhập bàng quang hay thận và sinh sôi nẩy nở rồi gây nhiễm khuẩn cho nước tiểu, cuối cùng ảnh hưởng nghiêm trọng đến từng cơ quan của hệ tiết niệu. Nhiễm khuẩn đường tiết niệu là chứng bệnh thường gặp ở phụ nữ mang thai, nó thường xuất hiện vào đầu tháng thứ tư của thời kỳ mang thai.

Thủ phạm gây bệnh

Nước tiểu bình thường vô khuẩn, chứa nước, muối, các chất bã nhưng không có vi khuẩn, nấm… Nhiễm khuẩn xảy ra khi các vi sinh vật bình thường ở ống tiêu hóa bám vào lỗ niệu đạo và bắt đầu sinh sản. Hầu hết các nhiễm khuẩn tiết niệu do vi khuẩn E.coli (Escherichia Coli) từ vùng hậu môn, âm đạo xâm nhập bàng quang qua niệu đạo vốn rất ngắn của phụ nữ (chỉ 3 – 4cm), cũng có thể E.Coli lúc thường sống ở ruột già, khởi đầu sinh sản ở niệu đạo, nhiễm khuẩn khu trú ở đấy gọi là nhiễm khuẩn niệu đạo. Từ đấy, vi khuẩn di chuyển đến bàng quang gây viêm bàng quang. Nếu nhiễm khuẩn này không được điều trị ngay, vi khuẩn có thể lan đến thận qua đường niệu quản gây viêm thận bể thận.

Bệnh hay gặp khi mang thai 1
 Sỏi bàng quang – nguyên nhân gây nhiễm khuẩn tiết niệu.

Để vi khuẩn phát triển thì một trong những yếu tố thuận lợi hay gặp của phụ nữ khi mang thai là sự ứ đọng nước tiểu, sự ứ đọng này xảy ra do khối lượng tử cung lớn lên chèn ép vào niệu quản làm giãn đài bể thận, hoặc do sự trào ngược nước tiểu từ bàng quang lên niệu quản…

Các thể nhiễm khuẩn tiết niệu thường gặp ở phụ nữ mang thai

Căn cứ vào triệu chứng lâm sàng và kết quả xét nghiệm, người ta phân ra một số thể nhiễm khuẩn tiết niệu ở phụ nữ có thai như sau:

Thể nhiễm khuẩn: Thường không có triệu chứng lâm sàng. Qua hai lần xét ngiệm nước tiểu riêng biệt thấy có tối thiểu 100.000 vi khuẩn trong 1ml nước tiểu. Thể bệnh này có thể gây biến chứng viêm thận – bể thận cấp với tỷ lệ khá cao nếu không được điều trị kịp thời.

Thể viêm bàng quang: Người bệnh có tiểu buốt, tiểu dắt, có khi ra máu cuối bãi, có cảm giác nóng bỏng, rát khi đái, không sốt người mệt mỏi khó chịu. Xét nghiệm nước tiểu: Tối thiểu thấy có 10.000 bạch cầu và 100.000 vi khuẩn trong 1ml nước tiểu trở lên thì có thể chẩn đoán xác định. Nếu không được điều trị kịp thời thì viêm bàng quang có thể dẫn đến viêm thận – bể thận cấp.

Thể viêm thận – bể thận cấp: Đây là thể nặng nhất. Khởi phát thường đột ngột với hội chứng nhiễm khuẩn rõ rệt: sốt cao 39 – 400C, mạch nhanh, rét run, thể trạng suy sụp nhanh, hốc hác, mệt mỏi li bì, đau vùng thắt lưng bên phải là triệu chứng hay gặp, có khi đau âm ỉ, cũng có lúc đau dữ dội từng cơn xuyên xuống hố chậu phải và bộ phận sinh dục. Nếu không điều trị kịp thời thì viêm thận – bể thận cấp sẽ gây ra những biến chứng nguy hiểm cho cả mẹ và thai nhi. Người mẹ dễ bị choáng, sốc nhiễm khuẩn gây suy tuần hoàn, suy hô hấp cấp, suy thận cấp… thai nhi dễ bị suy thai, đẻ non… Bệnh cảnh này thường gặp trên người có tiền sử viêm thận – bể thận do sỏi, có viêm bàng quang do sỏi, hoặc dị dạng đường tiết niệu từ trước khi mang thai mà không biết nay mới có điều kiện bộc lộ ra ngoài.

Làm gì khi bị nhiễm khuẩn tiết niệu?

Đối với thể nhiễm khuẩn tiết niệu không có triệu chứng và thể viêm bàng quang, sản phụ có thể điều trị ngoại trú dưới sự theo dõi hướng dẫn của thầy thuốc sản khoa. Dùng kháng sinh loại diệt khuẩn tốt mà không có hại cho thai. Sau một đợt điều trị, sản phụ cần xét nghiệm lại nước tiểu.

Đối với thể viêm thận – bể thận cấp, sản phụ cần được điều trị tích cực tại bệnh viện. Tại đây, sản phụ sẽ được thăm khám đầy đủ cả về tiết niệu và sản khoa, tiến hành làm các xét nghiệm đánh giá tình trạng nhiễm khuẩn và chức năng thận, làm siêu âm kiểm tra hệ tiết niệu, siêu âm kiểm tra xem thai nhi có bị ảnh hưởng gì không…

Muốn điều trị có kết quả tốt bệnh nhiễm khuẩn tiết niệu nên sử dụng kháng sinh theo kết quả kháng sinh. Nếu phát hiện nguyên nhân do sỏi hoặc dị dạng tiết niệu thì phải tạm thời dẫn lưu nước tiểu bằng đặt ống sonde qua niệu quản. Phụ nữ khi mang thai, cần kiểm tra nước tiểu định kỳ, xét nghiệm tế bào vi khuẩn trong nước tiểu 3 tháng một lần. Ngoài ra, về chế độ ăn uống, vệ sinh sản phụ hàng ngày nên uống nước đầy đủ, không nên cố nhịn khi muốn đi tiểu, nên đi tiểu ngay sau khi giao hợp vì lúc này lỗ niệu đạo mở dễ tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập bàng quang và nhiễm khuẩn ngược dòng, khi đi đại tiện hoặc khi vệ sinh vùng âm hộ – hậu môn thì nên vệ sinh từ trước ra sau.

   BS. Thanh Quy – SKDS

Đồng minh hay kẻ thù trong đơn thuốc?

Có lẽ không ít người biết rằng, khi khám, kê đơn thuốc cho người bệnh, bác sĩ phải đắn đo, cân nhắc rất nhiều nếu phải kê từ hai loại thuốc trở lên. Bởi vì bác sĩ phải chắc chắn rằng hai, ba hoặc bốn thuốc ấy phải hỗ trợ cho nhau chứ không phải triệt tiêu làm mất tác dụng của nhau… đồng thời phải điều chỉnh liều lượng thuốc so với liều dùng đơn độc sao cho phù hợp.

Phối hợp thuốc là do bác sĩ chỉ định

Mới đây, có bạn đọc đã gửi thư hỏi băn khoăn về việc dùng đồng thời hai thuốc trở lên có bị ảnh hưởng giữa các thuốc với nhau hay không? Thư thứ nhất: “Em có xem một toa thuốc của một bác sĩ khoa nhi ở tuyến tỉnh điều trị viêm phổi cho trẻ 12 tuổi. Bác sĩ kê đơn dùng terpin codein, solmux broncho. Bác sĩ nói sử dụng phối hợp như vậy có hiệu quả hơn sử dụng riêng lẻ một thuốc. Điều này có đúng không?”. Và thư thứ hai: “Một đơn thuốc bác sĩ ghi nhiều thuốc phải chăng luôn có vấn đề tương tác thuốc? Cụ thể, đơn thuốc bác sĩ ghi 3 loại thuốc dùng cùng lúc “haloperidol + amitryptilin + myolastan” có nhằm đưa đến tác dụng tương tác thuốc hiệp đồng hay không?”.

Đồng minh hay kẻ thù trong đơn thuốc? 1
 Người bệnh không tự ý dùng nhiều thuốc cùng lúc.

Trường hợp đơn thuốc thứ nhất hỏi dùng điều trị viêm phổi cho trẻ 12 tuổi (nếu đúng là viêm phổi, chắc chắn bác sĩ phải chỉ định kháng sinh mà có lẽ bạn đọc không nêu ra đây), bác sĩ kê toa terpin codein và solmux broncho. Hai thuốc này thuộc loại không có tương tác thuốc nhưng các thuốc vẫn có sự liên hệ, bổ sung cho nhau trong điều trị. Terpin codein chứa terpin là thuốc long đờm tức làm loãng đàm và codein là thuốc trị ho thuộc loại opioid (terpin codein là thuốc trị ho do chứa codein nên dùng ở người lớn nhưng trẻ 12 tuổi dùng được). Solmux broncho ở đây là hỗn dịch dùng cho trẻ chứa salbutamol (thuốc giãn phế quản) và carbocystein (thuốc làm loãng đờm). Sự phối hợp hai thuốc này dùng trị ho do co thắt phế quản, do hen hoặc viêm phế quản.  Như vậy, hai thuốc chứa 4 dược chất vừa kể không làm thay đổi tác dụng lẫn nhau để gây ra tương tác thuốc nhưng sự phối hợp giúp trị được nhiều triệu chứng của rối loạn thuộc hệ hô hấp gây ho. Vì vậy, trên lâm sàng bác sĩ sử dụng phối hợp như vậy nhằm có hiệu quả hơn khi sử dụng một thuốc.

Trường hợp đơn thuốc thứ hai ghi 3 loại thuốc dùng cùng lúc “haloperidol + amitryptilin + myolastan” mà bạn đọc hỏi cũng thuộc loại không có tương tác thuốc. Haloperidol là thuốc trị rối loạn tâm thần bao gồm cả tâm thần phân liệt. Amitryptylin là thuốc trị rối loạn trầm cảm còn myolastan (tetrazepam) là thuốc an thần thuộc nhóm benzodiazepin thường được dùng giãn cơ nhưng trong trường hợp này có thể trị mất ngủ. Như vậy, đơn thuốc vừa kể dùng điều trị rối loạn đặc biệt mà biểu hiện của rối loạn này là trầm cảm, bị mất ngủ, kể cả các triệu chứng của bệnh loạn thần nói chung. Như vậy, ba thuốc không làm thay đổi tác dụng lẫn nhau để gây ra tương tác thuốc nhưng sự phối hợp giúp trị được nhiều triệu chứng của rối loạn thuộc hệ thần kinh.

Một trường hợp khác chỉ định cho bệnh nhân bị bệnh tăng huyết áp bác sĩ kê đơn uống cùng lúc 3 loại thuốc: “bisoprolol + diltiazem + hydroclorothiazid”. Trong đơn thuốc này, bác sĩ đã tận dụng tương tác thuốc có lợi, phối hợp 3 loại thuốc chẹn bêta, đối kháng calci và lợi tiểu để giảm liều dùng của từng thuốc nhưng lại có tác dụng hạ huyết áp tốt hơn.

Người bệnh cần thông báo cho bác sĩ thuốc đang dùng

Trong một đơn thuốc, bác sĩ thường kê từ hai, ba thuốc trở lên để chữa cho người bệnh vì lý do bệnh nặng hoặc là bị nhiều loại bệnh, bắt buộc bác sĩ cho phối hợp nhiều thuốc để đủ sức hạ gục cơn bệnh. Nhưng khi chỉ định hai thuốc trở lên cho người bệnh, thầy thuốc bắt đầu phải suy tư, có sự cân nhắc thật kỹ, bởi vì phải đối phó với vấn đề có khi làm đau đầu giới chuyên môn là “tương tác thuốc”.

Mục đích của thầy thuốc khi chỉ định phối hợp nhiều loại thuốc là nhằm khai thác đặc điểm tương tác thuốc có lợi, tức là các thuốc phối hợp là đồng minh, làm tăng hiệu quả điều trị và giảm tác dụng phụ của thuốc với nhau. Nhưng nhiều khi do không hướng dẫn kỹ cách dùng thuốc hoặc có nhầm lẫn mà khi phối hợp thuốc vô tình tạo cảnh “hổ và cừu được nhốt chung trong một chuồng” là kẻ thù với nhau gây ra những bất lợi. Đó là hai thuốc dùng chung bằng đường uống, thuốc này cản trở sự hấp thu của thuốc kia làm lượng thuốc hấp thu bị giảm trầm trọng, không cho tác dụng điều trị hiệu quả. Ví dụ, thuốc kháng acid chữa loét dạ dày chứa Al (nhôm),  Mg (magiê) như maalox, kremil-S… hoặc thuốc chứa than hoạt, kaolin trị tiêu chảy nếu dùng cùng thuốc trị tăng huyết áp, đái tháo đường sẽ cản trở hấp thu vào máu của thuốc, làm thuốc sau mất tác dụng. Vì vậy, khi phải dùng các thuốc này chung với nhau phải hướng dẫn kỹ bệnh nhân uống hai thuốc cách xa nhau ít nhất hai giờ.

Tuy nhiên, không phải tất cả các đơn thuốc ghi từ hai, ba thuốc trở lên đều nhằm phát huy tương tác thuốc. Trường hợp thường gặp là do người bệnh mắc nhiều bệnh cùng lúc và bác sĩ ghi đơn nhiều thuốc nhằm trị nhiều bệnh đó. Như người bệnh bị cùng lúc bệnh viêm xương khớp, nhức đầu, ho, mất ngủ, bác sĩ sẽ ghi ít nhất là 4 loại thuốc và các loại thuốc này có thể chẳng có gì tương tác thuốc với nhau.

Riêng với người dùng thuốc không nên tự ý dùng nhiều thuốc một lúc mà chưa rõ có tương tác thuốc bất lợi hay không. Khi đi khám hoặc tái khám người bệnh cần phải báo cho bác sĩ biết đã và đang dùng thuốc nào, thậm chí có dùng thuốc Đông y hay thực phẩm chức năng hay không. Được thông báo, bác sĩ sẽ cân nhắc trong chỉ định thuốc sẽ cho dùng thuốc phù hợp, an toàn, tránh những tương tác bất lợi do thuốc gây ra. Vì thuốc Tây y, Đông y, thực phẩm chức năng đều có thể gây tương tác bất lợi với thuốc mà bác sĩ sẽ cho dùng trong điều trị.

  PGS.TS. Nguyễn Hữu Đức – SKDS

Đừng tự làm thầy thuốc cho con

Khi dùng thuốc cho con, các bậc cha mẹ thường có tâm lý làm mọi cách để cho con em mình nhanh khỏi bệnh. Nhưng đôi lúc bố mẹ vẫn mắc phải một số sai lầm khiến cho trẻ không khỏi bệnh mà thậm chí bệnh còn nặng hơn, có khi dẫn đến tai biến nguy hiểm đến tính mạng của trẻ…

Tự chẩn đoán bệnh: Khi con mình bị bệnh, thay vì đưa con đi khám để bác sĩ chẩn đoán và chỉ định thuốc, một số bố mẹ đã tự ý chẩn đoán bệnh và mua thuốc cho trẻ dùng. Trong một số ít trường hợp, việc tự ý dùng thuốc cho trẻ không dẫn đến sự nguy hại nào hoặc có khi trẻ chỉ bị rối loạn nhẹ, không có những tổn thương thực thể đáng kể. Tuy nhiên, việc tự ý dùng thuốc cho trẻ có thể dẫn đến các tác hại không thể lường hết. Đã có trường hợp trẻ bị cảm sốt nhẹ nhưng bố mẹ lại cho dùng kháng sinh cloramphenicol thường xuyên sau một thời gian trẻ bị “thiếu máu bất sản” dẫn đến tử vong.

Đừng tự làm thầy thuốc cho con 1
 Không để thuốc trong tầm với của trẻ.

Sử dụng toa thuốc cũ: Một số bà mẹ đã tự ý sử dụng đơn của bác sĩ đã kê cho con trong lần khám bệnh trước để mua thuốc dùng cho trẻ trong lần bệnh sau (khi trẻ có những triệu chứng giống hoặc na ná lần bệnh trước).  Cần lưu ý, một đơn thuốc bác sĩ ghi sau khi khám chẩn đoán bệnh chỉ dành riêng cho một cá nhân vào một thời điểm và trong điều kiện nhất định nào đó thôi. Bệnh cũ có thể bị tái phát nhưng lần này tiến triển đến mức nặng hơn hoặc triệu chứng bệnh có vẻ giống như bệnh cũ nhưng lần này lại là bệnh khác. Vì vậy, dùng toa thuốc cũ là không đúng, thậm chí còn nguy hiểm…

Dùng không đúng hoặc không đủ liều: Nhiều bậc cha mẹ có tâm lý sợ thuốc gây hại cho con nên đã tự ý điều chỉnh liều của bác sĩ (thay vì cho trẻ dùng 3 – 4 lần trong ngày, lại chỉ dùng 1 – 2 lần/ngày), hay do cho uống thuốc không đúng cách (như pha thuốc vào bình sữa cho trẻ bú và trẻ không bú hết bình sữa) hoặc bố mẹ cho trẻ dùng thuốc quá liều do tâm lý nôn nóng muốn trẻ mau hết bệnh đã dồn liều thuốc uống trong ngày thành uống một lần duy nhất và uống như thế liều tăng lên gây hại hoặc dùng dụng cụ đo lường thuốc không chính xác (như dùng muỗng ăn ở nhà đong đo thể tích thuốc sirô cho trẻ thay vì dùng dụng cụ được cung cấp).

Dùng dạng thuốc không thích hợp cho trẻ: Dạng thuốc thích hợp cho trẻ là dạng thuốc lỏng (sirô, thuốc uống giọt, hỗn dịch, nhũ dịch) nhưng có trường hợp bố mẹ dùng thuốc dành cho người lớn là thuốc viên nén, nghiền viên thuốc ra thành bột mịn và phân liều cho trẻ uống (như nghiền viên paracetamol 500mg và lấy 1/4 hay 1/5 lượng viên này hòa với nước cho trẻ uống). Làm như thế có thể lấy liều không đúng hoặc phá hỏng dạng thuốc gây hại cho trẻ (như phá hỏng dạng thuốc bao tan ở ruột gây hại dạ dày của trẻ). Một số thuốc viên được thông báo “chống chỉ định đối với trẻ dưới 12 tuổi” (tức không được dùng cho trẻ dưới 12 tuổi) nhưng bố mẹ thấy con mình phát triển tốt, hình thể cao to như người lớn bèn cho trẻ dùng thuốc đó mà không nghĩ đã có lý do xác đáng nhà sản xuất thuốc phải hạn chế đối tượng sử dụng thuốc như thế.

Để thuốc trong tầm với của trẻ: Bố mẹ đã cất giữ thuốc không tốt để trẻ có thể tự tiện dùng thuốc. Trên thực tế nhiều trẻ phải đi cấp cứu do ngộ độc thuốc vì sự bất cẩn này.

  TS. Nguyễn Hữu Đức – SKDS

Sốc phản vệ: trẻ không tha, già không thương!

Lý do đưa đến cái chết của ba trẻ sơ sinh ngay sau khi được chích ngừa vắcxin viêm gan B tại bệnh viện đa khoa huyện Hướng Hoá của tỉnh Quảng Trị được công bố là “sốc phản vệ”. Vậy sốc phản vệ là gì?

Phản ứng mạnh mẽ quá mức của cơ thể

Cơ thể con người được coi là tiến hoá nhất, hoàn hảo nhất và luôn sẵn sàng phản ứng bảo vệ chính mình trước các mối nguy hại từ bên ngoài. Khi vật lạ xâm nhập cơ thể, phản ứng để bảo vệ nhẹ nhất được gọi là dị ứng, nặng nhất là sốc phản vệ. Phản ứng bảo vệ nhìn chung là có lợi. Ví dụ: khi bạn ăn phải thức ăn bị nhiễm khuẩn, phản ứng của cơ thể là nôn ói, đi cầu nhiều lần, tiêu chảy… nhằm loại bỏ tác nhân độc hại là lũ vi khuẩn. Khi tay bạn chạm phải vật nóng, phản xạ tự nhiên là co tay lại để tránh xa. Khi bị đau do tổn thương, cơ thể tiết ra một chất gọi là morphin nội sinh có tác dụng giảm đau ngay tức thì. Nếu bị mất máu, cơ thể sẽ phản ứng bằng cách co mạch máu nhỏ lại để hạn chế chảy máu… Nhưng đôi khi, phản ứng mạnh mẽ, rầm rộ, ngay lập tức lại trở thành phản ứng có hại, điển hình là hiện tượng sốc phản vệ bởi diễn tiến rầm rộ, ngay tức thì ở nhiều cơ quan gây tổn hại nghiêm trọng và nguy cơ tử vong rất cao do thiếu oxy não không hồi phục.

Nguyên nhân không chỉ do dùng thuốc

Nói đến sốc phản vệ, chúng ta thường hay nghĩ đến sốc do thuốc. Điều này không hoàn toàn đúng, vì ngoài thuốc, có rất nhiều chất có thể gây phản ứng dị ứng mà biểu hiện nặng nề nhất là sốc phản vệ. Ví dụ: găng tay y tế, nhựa latex, trái cây, thịt bò, sữa đậu nành, nọc ong… Không chỉ có thuốc kháng sinh mới gây sốc, nhiều loại thuốc khác, thậm chí rất “lành” như các loại vitamin cũng có nguy cơ tương tự. Cũng cần kể đến các thuốc hay dùng trong bệnh viện như: vắcxin, thuốc giảm đau, thuốc hạ sốt, thuốc cản quang, thuốc giãn cơ, dịch truyền (hay gọi là nước biển), dịch nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch… Thậm chí, ngay cả thuốc dùng chống sốc cũng có thể gây sốc phản vệ. Vì vậy, phải thận trọng nếu bạn có thói quen tự mua thuốc về dùng hay sử dụng thuốc mà không có sự tư vấn của bác sĩ. Ngoài ra, dùng thuốc theo quảng cáo cũng là một nguy cơ phải phòng tránh.

Nguy cơ tiềm ẩn, hậu quả khó lường

Phản ứng dị ứng không trừ một ai, ở bất kỳ độ tuổi nào, ngay trong bệnh viện hay bất kỳ nơi nào khác. Cũng giống như người tham gia giao thông vậy, cho dù bạn di chuyển bằng máy bay hay đi bộ, thời tiết tốt hay xấu, ban ngày hay ban đêm thì yếu tố nguy cơ luôn luôn thường trực.

Biểu hiện của phản ứng dị ứng rất đa dạng: đỏ da, nổi mề đay, ho, sưng phù mắt, phù miệng, khó thở, mệt mỏi… đến suy hô hấp thậm chí ngưng tim. Đôi khi, tử vong là khó tránh khỏi. Phản ứng dị ứng có khi xảy ra ngay tức thì hoặc có thể xảy ra muộn hơn sau một vài giờ tiếp xúc với chất lạ, đôi khi nó chỉ có thể xảy ra ở các lần tiếp xúc sau. Biểu hiện của phản ứng dị ứng có thể ở một cơ quan, nhưng đôi khi biểu hiện ở nhiều cơ quan cùng lúc, có thể quy thành hội chứng được ghi nhận trong y văn thế giới như hội chứng Steven – Johnson hoặc hội chứng Lyell…

Cấp cứu sốc phản vệ phải được thực hiện ở nơi có đầy đủ con người và dụng cụ hỗ trợ, trong đó không thể thiếu bác sĩ và hộp thuốc chống sốc. Vì vậy, nếu bạn có tiền sử dị ứng thì hãy nói với bác sĩ. Ngoài ra, bạn cần biết cách nhận diện các dấu hiệu sớm về dị ứng như đã nêu và nói với bác sĩ ngay khi chúng mới xuất hiện. Sốc phản vệ có thể xảy ra sớm, đôi khi muộn hơn sau một vài giờ, nhưng khi đã xảy ra sốc phản vệ, diễn tiến sẽ rất nhanh trong vòng 1 – 2 phút và chuyển sang trạng thái nguy kịch, lúc này rất khó để đảo ngược tình huống.

BS.CK1 BÙI HẠNH TÂM, SGTT

bác sĩ gây mê – hồi sức khoa phẫu thuật tim mạch, bệnh viện Đại học Y dược TP.HCM.

Chúng ta nên chủ động tự bảo vệ bằng cách tham vấn bác sĩ trước khi dùng thuốc hoặc khi thấy bất kỳ dấu hiệu nghi ngờ nào sau khi cơ thể tiếp xúc với vật lạ, thức ăn lạ, thuốc hay côn trùng, vật nuôi… kể cả khi bạn đang được chăm sóc trong các cơ sở y tế như phòng mạch, phòng khám, bệnh viện…