Category Archives: Vi trùng học

Sinh lý học tế bào


Nguyễn Phước Long – Lê Minh Châu

Sự chuyên biệt hóa của tế bào trong các hệ cơ quan khác nhau đều được khảo sát, và một điều quan trọng cần nhớ là không có tế bào nào được gọi là “dạng chuẩn”, đại diện cho tất cả các tế bào trong cơ thể của chúng ta. Tuy nhiên, có một vài bào quan có cấu trúc tương tự nhau ở phần lớn tế bào. Phần lớn các bào quan này có thể được cô lập nhờ sự ly tâm hóa với một số ứng dụng của công nghệ. Khi đó tế bào trở nên đồng nhất, ởtrạng thái huyền phù, nhân sẽ lắng đọng trước và sau đó là ti thể. Máy ly tâm tốc độ cao sinh ra áp lực gấp 100000 lần trọng lực hay tạo sự phân cắt sẽ làm cho các hạt nhỏ gọi là microsome đóng cặn, bao gồm ribosomes và peroxisomes.

Hình 21.1: Tế bào và các bào quan.

Màng tế bào

 

Màng tế bào là một cấu trúc rất phức tạp. Nó được tạo bởi lớp lipid, protein; có tính bán thấm, nghĩa là cho một số chất di chuyển xuyên qua và một số chất khác thì không. Tuy nhiên, tính thấm này có thể thay đổi bởi vì màng tế bào có chứa một lượng lớn các kênh ion và protein vận chuyển, do đó nó có thể cho một lượng lớn các chất có kích thước đa dạng đi qua. Màng nhân và màng của một số bào quan khác cũng có cấu trúc tương tự.

Mặc dù cấu trúc hóa học và các thuộc tính của màng tế bào có một khoảng thay đổi khá lớn giữa vùng này với vùng khác, nhưng chúng chia sẽ những đặc trưng chung. Màng tế bào dày khoảng 7.5 nm. Thành phần lipid được cấu tạo chủ yếu bởi phospholipids như là phosphatidylcholine và phosphatidylethanolamine (mà ta đã có dịp tìm hiểu sâu ở chương trước). Hình dạng của phân tử phospholipid này phản ánh thuộc tính của nó: Đầu phosphate có mối quan hệ với những chất tan trong nước (phân cực, thấm nước) và đuôi thì có mối quan hệ tới những chất không phân cực (kị nước). Do vậy chúng là phân tử lưỡng cực (amphipathic molecule). Ở màng tếbào, đầu thấm nước quay về phía môi trường (nơi có nhiều nước) và về phía dịch bào tương; còn đuôi kị nước quay mặt vào nhau (xem hình 21-2). Ở tế bào prokaryotes [bacteria (vi khuẩn) – tế bào không có màng nhân], màng tế bào tương đối đơn giản, nhưng ở tế bào eukaryotes (tế bào có màng nhân), màng tế bào có nhiều phân tử như glycoshingolipids (lipids có chứa đầu saccharide), sphingomyelin và hơn nữa còn có cholesterol, phospholipids và phosphatidylcholine.

Hình 21.2: Màng tế bào và các cấu trúc màng.

Nhiều loại protein cũng đính trên màng tế bào. Protein xuyên màng tồn tại ở dạng những đơn vị hình cầu và nằm xuyên qua toàn bộ màng tế bào; ngược lại protein bám màng thì nằm ở bên trong hoặc bên ngoài của màng. Lưu ý rằng protein chiếm tới 50% khối lượng màng tế bào, nghĩa là cứ một phân tử protein trên màng thì sẽ có 50 hoặc nhiều hơn phân tử phospholipid.

Protein trên màng tế bào có nhiều chức năng, như: Một vài trong số đó là phân tử kết dính có vai trò neo giữ tế bào với các tế bào lân cận hay vào các vị trí gắn kết đặc hiệu. Một số có vai trò như những chiếc “máy bơm”, có vai trò như kênh vận chuyển ion bởi cơ chế khuếch tán hỗ trợ (ngược chiều gradient nồng độ). Hay một vài protein có vai trò như kênh ion, khi được hoạt hóa chúng sẽ cho phép ion đi vào hay đi ra khỏi tế bào. Vai trò bơm, vận chuyển và kênh ion sẽ được thảo luận ở tiếp sau đây. Một số nhóm protein khác đóng vai trò là một thụ thể liên kết với ligands hoặc phần tử thông tin tác động gây ra sự thay đổi sinh lý của tế bào,… Cuối cùng, protein cũng có vai trò như là một enzymes, xúc tác phản ứng xảy ra trên bề mặt màng tế bào. Các ví dụ chức năng của nhóm protein này dần dần được đề cập trong các chương tiếp sau trong suốt quyển sách này.

Phần kị nước (không tích điện) của protein thường nằm ở vị trí ngay dưới màng tế bào còn phần ưa nước và tích điện của nó sẽ nằm trên bề mặt. Một con đường gắn thể glycosylated (gắn saccarid vào protein hay lipid) của phosphatidylinositol. Protein kiểm soát quá trình đó bởi glycosylphosphatidylinositol (bao gồm các enzyme như alkaline phosphatase, rất nhiều kháng nguyên, một lượng lớn phân tử kết dính tế bào và 3 protein bổ sung chống lại sự tiêu bào). Có hơn 45 tế bào liên kết với GPI ở bề mặt đã được biết đến ở người (2009). Một số protein gắn với lipid. Protein có thể biến đổi không thuận nghịch (myristolated), gắn với acid béo (palmitoylated) hay gắn các chất kị nước (ví dụ gắn với geranlgeranyl hoặc nhóm fRNAesyl).

Hình 21.3: Một số protein bám màng. Mô tả đầu C- và đầu N.

Cấu trúc của protein và những enzyme kèm theo của màng sinh học khác nhau không chỉ ở các tế bào với nhau mà còn ở nội tại của tế bào. Ví dụ như một vài enzyme gắn trên màng tế bào khác với trên màng ti thể. Trong tế bào biểu mô, enzyme của màng tế bào trên bề mặt màng nhày khác với những enzyme trong màng tế bào nền và ở mép bên, nghĩa là tế bào có sự phân cực. Màng tế bào là một cấu trúc chức năng và những thành phần cấu thành nó luôn được tái sinh ở các mức độ khác nhau. Một số loại protein gắn vào khung xương tế bào và một số lại di chuyển ra bề mặt màng.

Nằm trải dài ở bao quanh màng tế bào là một lớp vật chất mỏng dày khác nhau có chứa một số loại sợi protein có chức năng chung là tạo nên thành phần cơ bản (chất nền). Lớp cơ sở của tế bào thông thường tạo thành các protein liên kết các tế bào lại với nhau, điều hòa và quyết định sự phát triển của chúng tạo thành một mạng lưới ngoại bào. Nó bao gồm collagens, laminins, fibronectin, tenascin và một số loại proteoglycans.

Ti thể

 

Hàng tỉ năm về trước, tế bào nhân thực “tiêu hóa” vi khuẩn hiếm khí và biến nó thành ti thể – nguồn cung cấp năng lượng dồi dào cho tế bào dưới dạng ATP thông qua sự oxi hóa phosphryl hóa. Ti thể còn có những chức năng khác, như điều hòa sự chết có chương trình (apoptosis), nhưng vai trò quan trọng nhất vẫn là nguồn tạo ra năng lượng. Mỗi tế bào eukaryote có hàng trăm ngàn ti thể. Ở động vật có vú, ti thể thường là một bào quan (có hình dạng giống với xúc xích) nhưng thật ra hình dạng của chúng khá linh động. Mỗi ti thể bao gồm màng ngoài, khoảng gian màng, màng trong (có các hạt nhỏ bám vào, có chứa nhiều enzyme tham gia vào quá trình oxi hóa phosphoryl hóa) và chất nền ti thể.

Hình 21.4: Các thành phần tham gia vào quá trình oxi hóa phosphoryl hóa và nguồn gốc của nó. Quá trình này đã được đề cập chi tiết ở chương 4.

Do có nguồn gốc từ sinh vật đơn bào, ti thể cũng có bộ gene của riêng nó. Tuy nhiên có ít DNA hơn và 99% protein được tạo ra trong ti thể đều có nguồn gốc từ gene trong nhân của tế bào nhân thực. Nhưng DNA của ti thể đóng vai trò như là chìa khóa ca con đường oxi hóa phosphoryl hóa. Đặc biệt, DNA ti thể ở người là một chuỗi xoắn kép chứa khoảng 16500 cặp base (so với hàng tỉ cặp trong nhân DNA của tế bào nhân thực). Nó mã hóa cho ba đơn vị dưới protein và được giải mã bởi bộ gene trong nhân để tạo ra 4 enzyme cộng với 2 ribosome và 22 RNA vận chuyển cần thiết cho sự tổng hợp protein ti thể.

Nói chung enzyme của ti thể đáp ứng quá trình oxi hóa phosphoryl hóa, điều này cũng minh họa cho sự tác động qua lại giữa sản phẩm của ti thể với sản phẩm của tế bào nhân thực. Ví dụ như phức hợp I (complex I) làm giảm lượng nicotinamide adenin dinucleotide dehydrogenase (NADH) (được tạo ra bởi 7 đơn vị dưới protein được mã hóa tại ti thể và 39 đơn vị dưới có nguồn gốc từ DNA của nhân). Nguồn gốc của các đơn vị dưới khác của phức hợp được mô tả trong hình 21.4. Complex II – succinate dehydrogenase-ubiquinone oxidoreductase, complex III – ubiquinone-cytochrome c oxidoreductase và complex IV – cytochrome c oxidase hợp động cùng với complex I, coenzyme Q và cytochrome c để chuyển hóa thành CO2 và nước. Complex I, III và IV bơm H+ vào trong khoảng gian màng thông qua bơm điện tử của chuỗi truyền điện tử. H+ sau đó được bơm xuyên qua complex V, ATP synthase và trở thành nguyên liệu cho việc tổng hợp ATP.

Ti thể nhận thông tin duy truyền từ tế bào mẹ. Thông tin này có vai trò như là một bộ đánh dấu sự thoái triển. Ti thể không có hệ thống sữa chữa DNA và tỉ lệ đột biến xảy ra ở ti thể cao gấp 10 lần DNA của nhân tếbào. Mt lượng lớn các bệnh hiếm gặp được phát hiện là có liên quan đến đột biến DNA của ti thể (mitochondrial medicine). Nó bao gồm một lượng lớn bệnh liên quan tới mô – những nơi có tỉ lệ chuyển hóa đểsản xuất năng lượng có sự sai lệch lớn khi quá trình sản xuất ATP diễn ra một cách bất thường.

Lysosomes

Bảng 21.1: Các enzyme của lysosomes và cơ chất của nó.

 

Khoảng không gian được giới hạn bởi màng tế bào, có cấu trúc không đồng nhất và chứa các bào quan được gọi là bào tương. Trong môi trường đó có chứa lysosome – một bào quan có tính acid hơn so với pH thông thường của bào tương, có vai trò tiêu hóa các chất được đưa vào tế bào. Màng của lysosome hoạt động như một bơm proton (hay còn gọi là H+-ATPase) – sử dụng năng lượng ATP để vận chuyển H+ t bào tương vào trong lysosome nhằm giữ cho pH luôn bằng 5. Lysosome chứa hơn 40 loi enzyme thủy phân, một vài loại được đề cập đến ở bảng 21-1. Tất cả các loại enzyme này đều có tính acid và giúp duy trì pH trong lysosome ngoài ra còn giúp cho quá trình tiêu hóa diễn ra thuận lợi hơn. Mức acid này không có tác động xấu đến tế bào ở tình trạng bình thường vì dù cho lysosome có bị vỡ ra thì enzyme của nó cũng bị mất hoạt tính do pH của bào tương có pH là 7.2 (ngoài vùng hoạt động của enzyme). Vì vậy, chúng không có khả năng tiêu hủy, cũng như làm tổn hại đến các bào quan khác. Những bệnh lý liên quan đến hoạt động bất thường của lysosome được đề cập ở clinical box 1:

Clinical Box 1:

 

“Bệnh liên quan đến lysosome

Khi có một enzyme tiêu hóa của lysosome bị thiếu hụt, lysosome bị nhồi nhét bởi những enzyme bình thường khác. Điều này tất yếu dẫn đến bệnh rối loạn dự trữ của lysosome. Ví dụ như sự thiếu hụt galactosidase A gây ra bệnh Fabrythiếu galactocerebrosidase gây bệnh Gaucher. Những bệnh này hiếm xảy ra nhưng rất nghiêm trọng và có thể gây tử vong. Một ví dụ khác về chứng rối loạn này là bệnh Tay-sachs, gây chậm phát triển tí tuệ và mù lòa. Tay-sachs xuất hiện bởi sự thiếu enzyme hexosaminidase A, một enzyme tiêu hóa của lysosome xúc tác cho sự tiêu giảm sinh học chất ganglioside (một dẫn xuất của acid béo).”

 

Peroxisomes

 

Peroxisomes có đường kính 0,5 micromet, được bao bọc bởi màng và bên trong chứa nhiều enzyme có khả năng tạo ra H2O2 cũng như phân hủy nó (catalase). Protein được đưa vào piroxisome bởi những tín hiệu đặc biệt liên tục cùng với sự giúp đỡ của peroxins (protein đi kèm). Trên màng piroxisome có chứa nhiều protein đặc hiệu kèm với các kênh vận chuyển vận chất vào chất nền bên trong hay đi ra ngoài dịch bào. Chất nền peroxisome có tới hơn 40 enzyme có tác dụng phối hợp điều hòa cùng với các enzyme trong dịch bào xúc tác cho các phản ứng đồng hóa và dị hóa (như thủy phân lipids chẳng hạn). Peroxisome có thể được tạo ra bởi lưới nội sinh chất hay trong quá trình phân bào. Người ta đã tìm thấy một lượng lớn các chất quyết định sự phát triển của piroxisome được điều hòa bởi các thụ thểở trong nhân của tế bào. PPARs (peroxisome proliferation activated recepters) là thành phần của một tập hợp các thụ thể trong nhân có liên quan với nhau. Khi được kích hoạt, các thụ thể này gắn kết với DNA gây ra sự biến đổi trong quá trình sản xuất mRNA. (PPARs còn có những hiệu ứng khác được biết cho đến nay là nó còn có tác động đến nhiều mô và cơ quan khác).

Khung xương tế bào (cytoskeleton)

 

Bộ xương tế bào là một hợi thống sợi có vai trò giữ vững cấu trúc của tế bào, giúp nó thay đổi hình dạng và thực hiện di chuyển, có mặt ở mọi tế bào. Cấu trúc của nó thường có ba phần là vi ống, sợi trung gian, vi sợi xen giữa và bám dính vào protetin để giữ liên kết với nhau. Hơn nữa, protein và bào quan di chuyển dọc theo vi ống và vi sợi từ phần này đến phần khác của tế bào nhờ các phần tử đẩy.

Xem toàn bộ bài viết tại đây.

CƠ CHẾ TRUYỀN TÍN HIỆU TẾ BÀO

CƠ CHẾ TRUYỀN TIN

Cơ sở sinh học phân tử tế bào

Phùng Trung Hùng – Nguyễn Phước Long

Chức năng của lộ trình tín hiệu tế bào là để chuyển thông tin từ ngoại vi tế bào đến các chất tác hiệu bên trong. Có nhiều cơ chế truyền tin mà nhờ đó thông tin được chuyển vào các lộ trình tín hiệu. Sau đây ta sẽ lần lượt tìm hiểu các cơ chế đó. Chi tiết từng quá trình sẽ được trình bày trong các chương sau.

Hình 40.1:Các mô hình truyền tin khác nhau.

Cơ chế conformational-coupling (sự gắn kết có biến đổi cấu dạng)

Thông tin có thể được chuyển từ một nguyên tố tín hiệu đến một nguyên tố tín hiệu tiếp theo nhờ vào quá trình conformational-coupling. Nếu những thành phần thường là protein này đã liên kết với thành phần khác thì cơ chế truyền tin sẽ xảy ra rất nhanh. Một ví dụ kinh điển cho cơ chế conformational-coupling là sự co và giãn cơ bám xương – nơi mà kênh CaV1.1 týp L sẵn sàng nối kết với thụ thể ryanodine (RYR1). Một ví dụ khác là sự kết hợp giữa kênh Ca2+ phụ thuộc điện thế với protein để đáp ứng với hiện tượng xuất bào của các túi synaptic.

Sự conformational-coupling cũng được dùng khi thông tin được chuyển đi bởi sự khuếch tán của các nguyên tố tín hiệu. Những phân tử truyền tin thứ hai có khối lượng phân tử thấp (Ca2+, cAMP, cGMP và ROS) hoặc các protein như ERK1/2 hay nhiều yếu tố phiên mã được hoạt hóa khác di chuyển từ tế bào chất vào nhân mang theo thông tin trong suốt quá trình di chuyển trong tế bào chất của chúng. Trong quá trình chuyển giao thông tin này, những nguyên tố có khả năng khuếch tán này sử dụng cơ chế conformational-coupling để truyền thông tin khi nó gắn vào các yếu tố thuận dòng khác.

Post-translational modifications (Điều hòa hậu dịch mã)

Hệ thống thông tin sử dụng rất nhiều protein post-translational modification để chuyển thông tin trong suốt lộ trình tín hiệu. Cơ chế cơ bản là khi chất kích thích hoạt hóa thành phần A, thành phần A này sau đó sẽ hoạt động trên thành phần B để tạo ra sự biến đổi cấu trúc trong suốt sự điều chỉnh. Sự điều chỉnh này thực hiện chức năng truyền tin của nó và thông thường rất chuyên biệt do vậy nó trực tiếp thay đổi cấu trúc các tiểu phân amino acid trên protein bằng các cách sau đây:

–          Phosphoryl hóa protein.

–          Oxi hóa protein.

–          Acetyl hóa protein.

–          Methyl hóa protein.

–          Sumoyl hóa.

–          Ubiquitin hóa. (đã được trình bày ở một chương khác)

Sự phosphoryl hóa protein

Protein kinase và phosphatase biến đổi hoạt tính của protein bằng cách gắn hoặc loại bỏ góc phosphate. Tế bào biểu hiện một lượng khổng lồ các protein kinase đáp ứng cho các thành phần tín hiệu như là một cơ chế truyền tin chính. Trong một vài trường hợp, các kinase có thể phosphoryl hóa lẫn nhau để tạo ra một dòng thác tín hiệu. Ví dụ kinh điển cho trường hợp này là lộ trình tín hiệu MAPK. Các kinase được chia thành hai nhóm chính phụ thuộc vào tiểu phân amino acid nó phosphoryl hóa gồm có: Tyrosine kinase và serine/threonine kinase. Những kinase này có nhiều hình dạng khác nhau và đều là một thành phần chức năng không thể thiếu của các thụ thể trên màng tế bào. Ngoài ra, các kinase không phụ thuộc thụ thể cũng có tác dụng trong nhiều vùng khác nhau của tế bào.

Các kinase này có thể trở thành yếu tố khởi phát cho một lộ trình tín hiệu của các thụ thể tyrosine kinase và serine/threonine kinase.

Phần lớn các kinase không liên quan đến thụ thể nhưng hoạt động trong tế bào như một phần của dòng thác tín hiệu nội bào. Họ Src, Lck, Lyn, Fyn và Syk là những kinase không liên quan đến thụ thể là thành phần quan trọng trong các lộ trình tín hiệu của tế bào T và dưỡng bào. Họ Tec tyrosine kinase cũng đóng vai trò quan trọng trong sự truyền tin sớm của lymphocyte.

Hầu hết các lộ trình tín hiệu sử dụng non-receptor serine/threonine protein kinase như một vài chặn trong suốt quá trình truyền tin. Sau đây là vài ví dụ về những kinase quan trọng:

–          AMP-activated protein kinase (AMPK)

–          β-adrenergic receptor kinase 1 (βARK1)

–          Casein kinase I (CKI)

–          CDK-activating kinase (CAK)

–          Cyclin-dependent kinase (CDKs)

–          cGMP-dependent protein kinase (cGK)

–          DNA-dependent protein kinase (DNA-PK)

–          Glycogen synthase kinase-3 (GSK-3)

–          Integrin-linked kinase (ILK)

–          LKB1

–          Myosin light chain kinase (MLCK)

–          Myotonic dystrophy kinase-related Cdc42-binding kinase (MRCK)

–          p21-activated kinase (PAK)

–          PKA

–          PKB

–          PKC

–          Rho kinase (ROK)

–          Polo-like kinase (Plks)

–          Ribosomal S6 kinase 1 (S6K1)

–          WNK protein kinase

Non-receptor protein tyrosine kinase

Có nhiều loại kinase thuộc nhóm này với nhiều chức năng thông tin quan trọng. Chúng có vùng tyrosine kinase, có chứa vùng tương tác protein nên có thể tương tác với cả các yếu tố tín hiệu thuận dòng hoặc nghịch dòng. Kinase Src có vai trò quan trọng nhất trong hình thức truyền tin này nên sẽ được trình bày tại đây.

Hình 40.2: Sự hoạt hóa Src. (1) Loại bỏ nhóm phosphate ở đầu C để hoạt hóa phân tử. (2) Tyrosine kinase phosphoryl hóa vùng kinase để tăng hoạt tính enzyme. (3) vùng kinase hoạt hóa có thể phosphoryl hóa nhiều protein đích như Abl chẳng hạn. (4) Vùng SH2 và SH3 có thể gắn vào nhiều protein đích khác nhau. (5) CSK phosphoryl hóa trở lại tyrosine ở đầu C để bất hoạt phân tử.

Src

Src là một nguyên mẫu của họ Src protein tyrosine kinase (Src, Blk, Fyn, Fgn, Hck, Lck, Lyn, Yes). Những tyrosine kinase này vừa là một chất đáp ứng vừa là một phân tử thực hiện chức năng phosphoryl hóa các phức hợp tín hiệu. Cấu trúc này có những vùng vai trò là chất đáp ứng đối ngẫu (dual adaptor) và enzyme.Lưu ý, các kinase này gắn vào màng tế bào ở đầu tận N, liên tục với vùng Src homology 3 (SH3) và vùng SH2. Vùng kinase ở đầu tận C có hai amino acid tyrosine (Tyr-416 và Tyr-527) có chức năng điều hòa hoạt động của Src. Vùng SH2 không chỉ giúp cho Src tương tác với những phân tử tín hiệu khác mà còn tham gia vào các tương tác nội phân tử để điều hòa hoạt tính của Src. Các quá trình điều hòa của Src xảy ra như sau:

–          Ở trạng thái bất hoạt, Tyr-527 được phosphoryl hóa nằm ở đầu C tạo thành mối tương tác nội phân tử với vùng SH2. Trong suốt quá trình hoạt hóa, tyrosine phosphatase loại bỏ nhóm phosphate ức chế này và phân tử được hoạt hóa.

–          Nhiều loại tyrosine kinase sẽ phosphoryl hóa Tyr-416 ở vùng kinase dẫn đến tăng hoạt tính của enzyme.

–          Vùng tyrosine kinase đã hoạt hóa có khả năng hoạt hóa nhiều cơ chất khác nhau như Abl chẳng hạn.

–          Khi ở trạng thái hoạt hóa, vùng SH2 và SH3 có thể tương tác với nhiều protein đích để thu thập các phức hợp thông tin.

–          Src bị bất hoạt bởi C-terminal Src kinase (CSK) do enzyme này phosphoryl hóa Tyr-527 để đưa phân tử này trở về trạng thái bất hoạt.

Chức năng của Src:

–          Hoạt hóa non-receptor protein tyrosine kinase Abl.

–          Cùng hoạt động với proline-rich tyrosine kinase 2 (Pyk2) để đẩy mạnh hình thành của podosome hủy cốt bào.

–          Đóng vai trò chuyển tiếp thông tin từ thụ thể integrin đến PtdIns 3-kinase tại phức hợp focal adhesion.

–          Trong quá trình tạo hủy cốt bào, colony-stimulating factor-1 (CSF-1) hoạt động trên thụ thể CSF-1R và bổ sung Src để hình thành phức hợp với c-Cbl và PtdIns 3-kinase. Src cũng phosphoryl hóa các motif hoạt hóa thụ thể miễn dịch theo cơ chế tyrosine (ITAMs) điển hình trên thụ thể FcRγ và chất đáp ứng DNAx-activating protein 12 (DAP12) để đồng hoạt lộ trình tín hiệu Ca2+ trong sự phát triển của hủy cốt bào.

–          Nó phosphoryl hóa và hoạt hóa họ Tec tyrosine kinase.

Chức năng của Abl (Abelson tyrosine kinase):

–          Abl trong bào tương được hoạt hóa bởi Src liên kết với một thụ tyrosine kinase-linked receptor như PDGFR chẳng hạn. Src phosphoryl hóa Abl và giúp phân tử này thực hiện chức năng tái cấu trúc sợi actin. Abl có thể gắn vào actin G- và F- nhưng cơ chế đến nay vẫn chưa rõ.

–          Abl cũng có thể bị hoạt hóa bởi thụ thể integrin và tại đây nó có thể tập hợp actin bằng cách hình thành phức hợp với Abelson-interactor (Abi), Wiskott-Aldrich syndrome protein (WASP) verprolin homologous (WAVE) và phức hợp actin-related protein 2/3 (Arp2/3 complex). Sự hình thành phức hợp này được thấy trong phức hợp focal adhesion.

Hình 40.3: Chức năng của Abl ở tế bào chất và trong nhân.

–          Ngoài ra, Abl cũng có thể hoạt động trong nhân. Tại đây, chức năng của nó được cho là phụ thuộc vào khả năng tương tác của nó với pocket protein retinoblastoma susceptibility gene Rb.

–          Tác dụng ức chế của Rb sẽ mất đi khi nó được phosphoryl hóa bởi phức hợp cyclin D/cyclin dependent kinase 4 (CDK4) – đây một thành phần của lộ trình tín hiệu chu kì tế bào.

–          Abl trong nhân cũng có thể được hoạt hóa bởi nhiều tác nhân kích thích stress như là hoạt động bức xạ ion hóa của ATM (ataxia telangiectasia mutated) hay sự thương tổn của DNA qua DNA-dependent protein kinase (DNAPK).

–          Abl inhibition of mouse double minute-2 (MDM2) ngăn cản sự thoái giáng của p53 do ubiquitin ligase mouse double minute-2 (MDM2) và quá trình này giúp tăng cường sự phiên mã của gene gây apoptosis.

–          Abl có thể phosphoryl hóa và hoạt hóa RNA polymera II góp phần vào quá trình biểu hiện gene.

–          Abl có thể phosphoryl hóa và hoạt hóa Rad52 góp phần vào quá trình sữa chữa DNA.

Sự oxi hóa protein

Lộ trình tín hiệu redox sinh ra các góc oxy hoạt động như superoxide và hydrogen peroxide để tạo ra các phân tử truyền tin thứ hai của nó hoạt động bằng cách oxi hóa nhóm thiol đặc hiệu trên amino acid cysteine ở protein đích.

Sự acetyl hóa protein

Quá trình này đóng một vai trò quan trọng trong hiện tượng tái cấu trúc chromatin và liên quan đến sự hoạt hóa quá trình phiên mã. Histone acetyltransferase (HATs) có chức năng acetyl hóa histone để tháo xoắn chromatin, làm cho nó dễ dàng tiếp cận với nhiều yếu tố phiên mã và do vậy hoạt hóa quá trình này. Hoạt động của myocyte enhancer factor-2 (MEF2) là một ví dụ điển hình cho quá trình acetyl hóa và phản ứng khử acetyl hóa được thực hiện bởi histone deacetylase (HDACs) và sirtuins.

Sự methyl hóa protein

Chức năng của protein có thể thay đổi bởi sự methyl hóa arginine hay lysine bởi enzyme protein arginine methyltransferase (PRMTs) và Smyd-2. Các phản ứng methyl hóa này sẽ bị đảo ngược bởi các enzyme demethylase như histone lysine-specific demethylase (LSD1) có chức năng loại nhóm methyl khỏi p53.

Quá trình này điều hòa nhiều protein và các quá trình của tế bào, cụ thể như:

–          Thay đổi hoạt tính của transcriptional regulator peroxisome-proliferator-activated receptor γ (PPARγ) coactivator-1α (PGC-1α) trong quá trình kiểm soát sự biệt hóa của tế bào mỡ nâu.

–          Sự methyl hóa protein p53 là một quá trình điều hòa sự phiên mã gene.

–          Sự methyl hóa histone tại vị trí lysine và arginine tại đầu N của Histone H3 có thể có tác dụng rõ rệt đến cấu trúc của chromatin.

–          Chất đồng kiềm hãm switch independent (SIN3) có chức năng tái cấu trúc chromatin chứa một lượng lớn các phức hợp nhân (core complex) chứa nhiều methyl transferase như enzyme đặc hiệu cho histone H3 chẳng hạn.

Sự sumoyl hóa

Hiện tượng này là một ví dụ của cơ chế post-translation modification mà nhờ đó chức năng của protein được sửa đổi bởi các liên kết cộng hóa trị với “small ubiquitin related modifier” (SUMO). Sự gắn SUMO tạo ra một sự biến đổi trên hoạt tính, độ ổn định và vị trí của protein đích. Có 4 protein SUMO hiện diện ở người, 3 SUMO đầu hiện diện rộng khắp trong khi SUMO-4 giới hạn trong một số loại tế bào (thận, lách và hạch lympho). Trong hầu hết các trường hợp, 1 phân tử SUMO được gắn vào protein, nhưng cả hai phân tử SUMO-3 và SUMO-4 có thể tạo thành chuỗi SUMO nhờ khả năng tạo thành liên kết isopeptide giữa hai phân tử SUMO với nhau.

Đọc toàn bộ bài viết tại đây.

ĐẠI CƯƠNG VỀ GIAO TIẾP TẾ BÀO

ĐẠI CƯƠNG VỀ GIAO TIẾP TẾ BÀO

Trịnh Hoàng Kim Tú – Phùng Trung Hùng – Nguyễn Phước Long

Tín hiệu ngoại lai cần được chuyển đổi thành tín hiệu nội bào

Có một câu hỏi rất thú vị là: “Một tế bào “nói” (talking cell) sẽ bảo gì với một tế bào “nghe” (listening cell) – để sau đó tế bào nghe bằng cách nào trả lời lại thông điệp đó?”

Đầu tiên, chúng ta hãy tiếp cận với câu hỏi này bằng cách nhìn vào sự giao tiếp trong số những vi sinh vật – những vi khuẩn hiện đại hé mở của sổ về vai trò của dòng thác tín hiệu tế bào trong quá trình tiến hóa của sự sống trên Trái Đất.

Sự tiến hóa của dòng thác lộ trình tín hiệu tế bào

Hình 43.1: Quá trình tương tác giữa các tế bào men giao phối. Tế bào Saccharomyces cerevisiae sử dụng chất tín hiệuhóa học để định dạng tế bào có “mating type” đối lập, và khởi đầu quá trình giao phối này. 2 loại tế bào giao phối và phân tử tín hiệu hóa học tương ứng của chúng, hoặc các yếu tố giao phối, được gọi là  a.

Một chủ đề lớn của “cuộc trò chuyện giữa các tế bào” (cell conversation) là vấn đề “tình dục” (sex) – ít nhất đối với loài Saccharomyces cerevisiae, mà, người ta đã sử dụng để làm bánh mì, rượu, bia trong suốt thiên niên kỷ qua. Các nhà nghiên cứu đã biết rằng những tế bào này tìm “bạn tình” của mình bằng dòng thác tín hiệu hóa học (chemical signaling).

Có 2 loại “giới tính” của những “bạn tình” (cell of mating) này, được gọi là a và a. Tế bào loại a tiết ra phân tử tín hiệu (signaling molecule) được gọi là yếu tố a – có thể gắn kết với những thụ thể protein đặc hiệu gần tế bàoa. Cùng lúc đó, tế bào a tiết ra yếu tố a – gắn với thụ thể trên tế bào. Thật sự, không cần phải vào bên trong tế bào, 2 loại “mating factors” này khiến cho tế bào phát triển nghiêng về phía tế bào khác, và mang lại sự thay đổi cho tế bào khác. Kết quả tất yếu sẽ dẫn đến sự kết hợp, hay còn gọi là sự giao phối của 2 tế bào khác loại. Tế bào a/a  này chứa đựng tất cả các loại gene của 2 tế bào nguyên gốc, đây chính là sự kết hợp nguồn tài nguyên di truyền – mang lại những lợi ích cho các thế hệ tế bào sau ra đời từ quá trình phân chia tế bào.

Hình 43.2: Hoạt hóa lộ trình của NFkB bằng TNFa – Minh họa bước “xử lý tín hiệu sau giao tiếp tế bào”. Cả hai TNFa và thụ thể của nó đều là trimers. Sự gắn kết của TNFa gây nên sự atại sắp xếp (rearrangement) cuả các đuôi tế bào  kết cụm lại (clustered cytosolic tail) của thụ thể, bây giờ, thúc đẩy (recruit) đa dạng nhiều loại tín hiệu protein, đưa đến kết quả là sự hoạt hóa serine/threonine protein kinase có vai trò phosphoryl hóa (phosphorylate) và kích hoạt IkB kinase (IKK). IKK là một heterodimer bao gồm hai dưới đơn vị  kinase (IKKa và IKKb), và một dưới đơn vị điều hòa (regulatory subunit) có tên gọi là NEMO. IKKbsau đó phosphoryl hóa (phosphorylated) IkB trên 2 serine, đánh dấu protein cho sự “ubiquitin hóa” (ubiquitylation) và giáng cấp (degradation) trong proteasomes. NFkB được phóng thích ra và di chuyển vào trong nhân, ở đây, khi kết hợp với protein đồng hoạt hóa, nó kích hoạt sự sao chép xảy ra ở những gene đích.

Vậy thì, có phải tín hiệu giao phối (mating signal) của bề mặt tế bào men được thay đổi, hay còn gọi là chuyển đổi thành dạng chứa đựng những đáp ứng tế bào với việc giao phối?

Quá trình mà từ đó tín hiệu trên bề mặt tế bào được chuyển đổi thành đáp ứng đặc hiệu tế bào (bao gồm một chuỗi các bước) được gọi là lộ trình truyền tín hiệuNhiều lộ trình đã được nghiên cứu kỹ lưỡng với đối tượng là men và cả tế bào động vật. Kỳ diệu thay, khi xét đến chi tiết về mặt phân tử, lộ trình tín hiệu chuyên đổi của men và động vật có vú có những điểm tương tự đáng chú ý, mặc dù tổ tiên chung cuối cùng của 2 nhóm này đã sống cách đây hàng tỷ năm. Những điểm tương tự này và một số mới được phát hiện gần đây giữa hệ thống tín hiệu (signaling system) ở vi khuẩn và thực vật gợi ý rằng phiên bản mới nhất của cơ chế tín hiệu tế bào (cell-signaling mechanisms) được sử dụng ngày nay đã tiến triển tốt trước khi các sinh vật đa phân tử đầu tiên xuất hiện trên Trái Đất.

Các nhà khoa học nghĩ rằng những cơ chế tín hiệu đã phát triển đầu tiên hết ở các loài prokaryote cổ đại (sinh vật nguyên sinh). Sau đó được kế tục bởi các thế hệ sinh vật đa phân tử tiếp nối. Trong lúc ấy, tín hiệu tế bào (cell signaling) giữ vững vị trí quan trọng trong thế giới vi khuẩn. Tế bào của nhiều lòai vi khuẩn tiết ra các phân tử nhỏ – mà các phân tử này có thể được phát hiện bởi tế bào khác của vi khuẩn. Sự tập trung của các phần tử tín hiệu này cho phép vi khuẩn cảm giác được mật độ hiện tại của tế bào vi khuẩn, hiện tượng được gọi là quorum sensing (giao tiếp và biểu lộ hành vi thông qua phân tử tín hiệu). Sâu hơn nữa, tín hiệu giữa các thành viên trong quần thể vi khuẩn có thể dẫn đến việc kết hợp họat động của chúng lại với nhau. Đáp lại tín hiệu, tế bào vi khuẩn có thể đến gần nhau, tạo nên     biofilms – là sự tập hợp của vi khuẩn thường tạo nên các cấu trúc có thể nhận biết được và chứa đựng những vùng chức năng chuyên biệt. Ta sẽ có một hình cho thấy sự kết tập tiêu biểu khi đáp ứng với tín hiệu của một lọai vi khuẩn sau đây.

Tín hiệu tại chỗ (cục bộ) và khoảng cách dài

Giống như những tế bào nấm men, trong cơ thể đa bào, các tế bào thường giao tiếp thông qua các chất truyền tín hiệu hóa học (chemical messenger) nhắm đến các tế bào có thể hoặc không liền kề nhau gần như ngay lập tức. Các tế bào còn có thể truyền tin bằng tiếp xúc trực tiếp. Cả hai lọai động vật và thực vật có những cấu trúc liên kết tế bào (cell junction), kết nối trực tiếp tế bào chất của những tế bào kề cận nhau. Trong những trường hợp này, những chất dẫn truyền tín hiệu (signaling substance) hòa tan trong bào tương có thể vượt qua giữa các tế bào nằm sát nhau một cách tự do. Hơn nữa, tế bào động vật có thể truyền thông tin thông qua tiếp xúc trực tiếp giữa màng – ranh giới tế bào – các phân tử bề mặt, sự tiếp xúc này xảy ra trong một quá trình được gọi là quá trình nhận diện tế bào – tế bào (cell – cell recognition). Lọai tín hiệu này quan trọng trong các quá trình, như là quá trình phát triển của phôi và đáp ứng miễn dịch.

Hình 43.3: Quá trình giao tiếp giữa vi khuẩn, lọai vi khuẩn sống trong đất được gọi là myxobacteria sử dụng những tín hiệu hóa học để chia sẻ thông tin về khả năng dinh dưỡng. Khi thức ăn khan hiếm, những tế bào bị đói sẽ tiết ra một phân tử – phân tử này tiếp cận các tế bào lân cận và kích họat các vi khuẩn tập hợp lại. Các tế bào hình thành nên một cấu trúc được gọi là bào tử (fruiting body), hình dạng này sản xuất nên một bào tử thành dày có thể sống sót đến khi môi trường cải thiện. Vi khuẩn được cho thấy ở đây là Myxococcus xanthus.

Trong nhiều trường hợp khác, phân tử truyền tín hiệu (messenger molecule) được tiết ra bởi tế bào truyền tín hiệu (signaling cell). Một số di chuyển chỉ trong khoảng cách ngắn, như phân tử điều hòa cục bộ (local regulator)ảnh hưởng các tế bào trong vùng lân cận. Một loại chất điều hòa tại chỗ ở động vật quan trọng là yếu tố tăng trưởng (growth factor), nó bao gồm các hợp chất kích hoạt tế bào đích gần kề phát triển và phân chia. Đông đảo các tế bào có thể nhận và đáp ứng đồng thời các yếu tố tăng trưởng (GF), mà các GF này được sản xuất từ một tế bào duy nhất lân cận. Lọai truyền tín hiệu tại chỗ này ở động vật được gọi là “truyền tín hiệu cận tiết” (paracrine signaling).

Hình 43.4: Giao tiếp bằng tiếp xúc trực tiếp giữa các tế bào.

Hơn nữa, có nhiều loại hệ thống truyền tín hiệu tại chỗ khác (local signaling), một trong số đó là “hệ thống truyền tín hiệu thông qua khe synapse” (synaptic signaling) xảy ra ở hệ thần kinh của động vật. Hệ thống truyền tín hiệu điện dọc theo sợi thần kinh khởi động sự tiết tín hiệu hóa học (chemical signal) – được mang lại bởi các phân tử của chất dẫn truyền thần kinh. Các phân tử này khuếch tán xuyên qua khe synapse, khoảng hẹp giữa tế bào thần kinh và tế bào đích của nó (một tế bào thần kinh khác). Chính chất dẫn truyền thần kinh sẽ kích hoạt tế bào đích.

Cả động vật lẫn thực vật sử dụng các chất hóa học đựoc gọi là hormones cho hệ thống truyền tín hiệu khoảng cách dài (long – distance signaling). Trong hệ thống truyền tín hiệu bằng hormone (hormone signaling) ở động vật, còn được biết như là “hệ thống truyền tín hiệu thông qua con đường nội tiết” (endocrine signaling), các tế bào biệt hóa phóng thích các phân tử hormone, các phân tử này theo hệ tuần hoàn đến các tế bào đích trong cơ thể. Các hormones dao động rất lớn về kích thước và lọai phân tử, bởi vì đóng vai trò như những chất điều hòa tại chỗ (local regulator). Ví dụ, cây hormone ethylene (the plant hormone ethylene), chất khí thúc đẩy trái cây chín và giúp điều hòa sự tăng trưởng, là một loại hydrocarbon chỉ có sáu nguyên tử (C2H4), đủ nhỏ để xuyên qua thành tế bào. Ngược lại, hormone insulin của động vật có vú, điều hòa đường huyết, là một proteine với hàng ngàn nguyên tử.

Đọc toàn bộ bài viết tại đây.

SRESS TẾ BÀO, LỘ TRÌNH VIÊM VÀ SỰ LÃO HÓA TẾ BÀO

SRESS TẾ BÀO, LỘ TRÌNH VIÊM VÀ SỰ LÃO HÓA TẾ BÀO

Bùi Diễm Khuê – Phùng Trung Hùng – Nguyễn Phước Long

Tóm tắt

Hình 45.1: Một số phân tử vô cơ tham gia vào đáp ứng viêm

Tế bào có những lộ trình tín hiệu nội sinh (intrinsic signalling mechanisms) có khả năng nhận biết (sensing) những tình trạng có hại khác nhau, cả bình thường và bệnh lý, và rồi đáp ứng bằng cách sắp đặt (mounting) các đáp ứng đa dạng với stress. Ví dụ, tín hiệu bình thường là các cytokines gây ra đáp ứng viêm ở tế bào. Tín hiệu bệnh lý bao gồm tia UV và tia X, hydrogen peroxide (H2O2), giảm oxy mô đột ngột và gây tổn thương lý hóa do nhiệt hay hóa chất độc hại. Trong nhiều trường hợp, đặc biệt khi tín hiệu stress không quá nghiêm trọng, tế bào có thể sống sót và thậm chí có thể chịu được tổn thương sau đó. Nếu tế bào đang tăng trưởng, những tổn thương dưới ngưỡng gây chết có thể làm cho tế bào ngừng tăng trưởng tạm thời, cho phép đủ thời gian sửa chữa tổn thương, hoặc tiến trình phát triển tế bào có thể bị ngừng lâu hơn và tế bào sẽ đi vào tình trạng lão hóa. Một ví dụ khác của cơ chế sống còn được bảo tồn về mặt tiến hóa là sự tự thực, nó cho phép tế bào ứng phó với nhưng thời kì đói. Tuy nhiên, nếu stress quá nặng nề, tế bào sẽ chết thông qua một quá trình hoại tử nhanh chóng và thảm khốc (catatrosphic), hoặc thông qua một quá trình chậm hơn và có kiểm soát hơn được thực hiện bởi một quá trình mang tính điều hòa cao của sự chết tế bào có chương trình, hay thường được gọi là apoptosis.

Mặc dù đặc điểm hình thái của sự hoại tử và sự chết tế bào có chương trình (apoptosis) có sự khác biệt rõ ràng, nhưng hai quá trình này cũng có một số điểm tương đồng ở chỗ chúng được gây ra bởi các kích thích tương tự nhau, và thường sử dụng cùng các cơ chế tín hiệu. Sự hoại tử xảy ra khi tế bào bị tổn thương áp đảo và nhanh chóng tan rã. Thể tích tế bào tăng lên nhanh chóng, ti thể bị phình lên, và màng bào tương đột ngột gián đoạn làm phóng thích vật chất chứa trong tế bào vào khoảng gian bào, nơi mà nó có thể sinh ra đáp ứng viêm. Ngược lại, sự chết tế bào có chương trình (apoptosis) diễn ra trật tự hơn, trong đó proteases và nucleases trong phạm vi màng bào tương nguyên vẹn tách rời khỏi tế bào bị teo dần về kích thước và sau đó bị các tế bào lân cận nhấn chìm, do đó tránh được bất kỳ phản ứng viêm nào.

Đáp ứng viêm

Hệ miễn dịch bẩm sinh là hàng rào đầu tiên chống lại sự xâm nhập của tác nhân gây bệnh. Nó không chỉ khởi đầu một đáp ứng viêm nhanh và mạnh để tấn công tác nhân gây bệnh ngoại lai mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc hoạt hóa đáp ứng miễn dịch thích ứng chậm hơn. Đáp ứng miễn dịch chậm gây ra sự hoạt hóa tế bào B và T đặc hiệu để mở rộng hệ thống chống đỡ của vật chủ. Hàng rào chống đỡ ban đầu trong suốt đáp ứng bẩm sinh được thực hiện bởi một chuỗi phức hợp của tương tác tế bào, gọi chung là đáp ứng viêm. Các tế bào chính tham gia bao gồm tiểu cầu, đại thực bào, dưỡng bào, bạch cầu trung tính và tế bào nội mô. Các đặc tính tiếp theo về đáp ứng viêm sẽ được trình bày và nhấn mạnh vào lộ trình tín hiệu dùng để kiểm soát sự tham gia của những loại tế bào khác nhau này:

  1. Tổn thương mô: Nhiều đáp ứng viêm khởi đầu với tổn thương mô, hiện tượng này hoạt hóa hệ thống bổ thể để phóng thích các yếu tố bổ thể nhằm huy động tế bào viêm (như bạch cầu trung tính chẳng hạn).
  2. Tổn thương tế bào nội mô: Một dạng đặc biệt của tổn thương mô xảy ra khi tế bào nội mô bị phá vỡ. Các tế bào phóng thích hóa chất trung gian gây viêm như thrombin và bradykinin chính là nguyên nhân gây ra đỏ, đau và sưng do mạch máu tại chỗ bị giãn và tăng tính thấm với dịch và protein máu. Trong các protein này, một số là yếu tố bổ thể và kháng thể IgG bao bọc tác nhân gây bệnh, dẫn đến sự thực bào. Tế bào nội mô cũng phóng thích sphingosine 1-phosphate (S1P), chất này cũng có thể ảnh hưởng tính thấm thành mạch.
  3. Sự kết tập tiểu cầu và tạo thành huyết khối. Thrombin gây ra bởi tổn thương tế bào nội mô có vai trò chính trong các quá trình này. Đối với sự tạo huyết khối, thrombin có vai trò chuyển fibrinogen thành  fibrin, đồng thời khởi đầu các đợt phản ứng gây ra sự tương tác chéo các đơn phân (monomers) tạo thành các lưới xơ ngăn cản dòng máu. Thrombin góp phần vào sự hoạt hóa tín hiệu Ca2+ giúp kiểm soát nhiều phần trong quá trình kết tập tiểu cầu.
  4. Tính thấm nội mô: Tế bào nội mô kiểm soát dòng chất và tế bào từ huyết tương vào khoảng gian bào. Bình thường, dòng chảy này bị hạn chế hoàn toàn. Tuy nhiên, khi viêm, nhiều hóa chất trung gian như thrombin, bradykinin và histamine cao có thể tăng tính thấm mạnh mẽ bằng cách co rút tế bào để mở đường cận tế bào.
  5. Sự tăng sinh tế bào: Trong suốt quá trình lành vết thương, có một lượng lớn tế bào tăng sinh để cung cấp tế bào mới cho sự tái cấu trúc mô. Một số quá trình tăng sinh được điều khiển bởi yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc từ tiểu cầu (PDGF) và yếu tố tăng trưởng biến hình β (TGF-β). Sự tăng sinh tế bào xảy ra nhiều ở nguyên bào sợi và những tế bào trung mô khác. Sự tăng sinh tế bào nội mô cũng có thể gia tăng như một phần của quá trình tân tạo mạch để sửa chữa những mạch máu bị hư hại. Sự phóng thích yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (VEGF) đóng vai trò quan trọng trong việc kích hoạt sự gia tăng này trong sự tăng sinh của tế bào nội mô. Cả tiểu cầu và tế bào nội mô phóng thích sphingosine 1-phosphate, một trong những phân tử tín hiệu loại lipid được tạo bởi lộ trình tín hiệu sphingomyelin.
  6. Hoạt hóa đại thực bào. Đại thực bào tồn tại hàng tháng thậm chí nhiều năm, bố trí trong nhiều cơ quan, nơi chúng hoạt động như “lính canh” thường trực để sẵn sàng khởi đầu một phản ứng viêm thông qua hai cơ chế chính. Thứ nhất, chúng có thể phản ứng với các tín hiệu từ tác nhân gây bệnh bằng cách phóng thích một lượng lớn hóa chất trung gian gây viêm như chemokines. Ngoài ra, có khả năng là đại thực bào có các thụ thể có thể phát hiện acid uric tạo ra từ chuyển hóa acid nucleic ở các tế bào chết. Thứ hai, chúng loại bỏ tác nhân gây bệnh bằng cách bao lấy các tác nhân này trong quá trình thực bào.

Tác nhân gây bệnh khởi đầu sự hoạt hóa đại thực bào bằng cách phóng thích PAMPs. Các phân tử PAMPs này hoạt động thông qua nhiều thụ thể Toll-like (TCRs) để kích thích lộ trình tín hiệu của yếu tố nhân κB (NF-κB). Đối với đại thực bào, PAMPs giúp điều hòa hoạt động phiên mã của nhiều thành phần góp phần vào phản ứng viêm, như yếu tố hoại tử u α (TNFα), interleukin 1 (IL-1) và IL-6. PAMPs có tác dụng tương tự ở dưỡng bào. Các tác nhân gây bệnh bị bao bọc bởi kháng thể (IgG và IgM) hoạt hóa hệ thống bổ thể để phóng thích các yếu tố bổ thể như C3a và C5a, đó là những yếu tố hoạt động như phân tử hóa hướng động (chemoattractants) cho tế bào viêm như bạch cầu đa nhân trung tính (neutrophils) là một ví dụ. Ngoài ra, các tác nhân gây bệnh bị bao bọc được “đánh dấu” cho quá trình thực bào bởi đại thực bào.

Hình 45.2: Tóm tắt đáp ứng viêm với tổn thương mô và tác nhân gây bệnh. Hệ thống miễn dịch bẩm sinh được kích hoạt bởi các tín hiệu phát sinh từ mô tổn thương và các tác nhân gây bệnh để hoạt hóa các tế bào như đại thực bào, bạch cầu trung tính, dưỡng bào, tiểu cầu và tế bào nội mô, góp phần vào chuỗi phối hợp các phản ứng để loại bỏ tác nhân gây bệnh cũng như sửa chữa mô tổn thương. Các tế bào nội mô được mô tả ở ba trạng thái: dạng phẳng bình thường (màu xanh), co lại để tăng tính thấm nội mô (vàng nhạt) và tế bào bị tổn thương (vàng đậm), nơi sự kết tập tiểu cầu xảy ra trong quá trình tạo thành nút chặn huyết khối. Chi tiết của các phản ứng này được mô tả trong bài đọc.

  1. Hoạt hóa dưỡng bào. Các dưỡng bào định cư tại chỗ đóng vai trò quan trọng trong việc khởi đầu đáp ứng viêm. Các kháng nguyên liên kết chéo với IgE bao quanh FcεRIs để kích hoạt nhiều cơ chế tín hiệu dưỡng bào phóng thích histamine và các hóa chất trung gian gây viêm khác.
  2. Sự chiêu mộ và hoạt hóa bạch cầu đa nhân trung tính (neutrophil). Neutrophil có thời gian bán hủy tương đối ngắn, tuần hoàn trong máu vài giờ trước khi di chuyển vào mô liên kết xung quanh, đặc biệt ở vị trí viêm, và chỉ hoạt động vài ngày ở đó. Neutrophil dùng hai lộ trình chính để xuyên qua lớp nội mô của tế bào. Quan điểm thường được chấp nhận là neutrophil ép lại để đi qua khe tế bào. Một cơ chế khác, neutrophil sử dụng podosome để tạo ra năng lượng giúp nó đi xuyên qua khe tế bào. Sau đó, một quá trình hóa hướng động bạch cầu đa nhân trung tính thu hút những bạch cầu này đến vị trí viêm; trong suốt quá trình đó, các tế bào theo gradient của các chemokines, các yếu tố bổ thể (C3a và  C5a) và fMet-Leu-Phe (fMLP). fMLP, một sản phẩm thoái biến (breakdown) của vi khuẩn, là một phân tử hóa hướng động kinh điển.
  3. Sự biệt hóa bạch cầu đơn nhân (monocyte). Bạch cầu đơn nhân theo một lộ trình tương tự bạch cầu đa nhân trung tính. Chúng thâm nhập qua lớp nội mô để vào khoảng gian bào, nơi chúng biệt hóa thành đại thực bào.
    Đáp ứng viêm được điều hòa ở mức cao và phụ thuộc vào cơ chế tiền viêm (pro-inflamatory) xảy ra sớm (như mô tả ở trên), nhưng bị trung hòa từ từ bởi nhiều lộ trình kháng viêm trung gian bởi các yếu tố như cytokines [interleukin-10 (IL-10)], hormone và các chất dẫn truyền thần kinh [acetylcholine, peptid ruột vận mạch (vasoactive intestinal  peptide – VIP) và polypeptid hoạt hóa adenyl cyclase tuyến yên (pituitary adenylate  cyclase- activating polypeptide – PACAP)]
    Mặc dù diễn biến của một đáp ứng viêm là có lợi, nhưng có những trường hợp mà đáp ứng này ngoài tầm kiểm soát và bắt đầu gây hại, do sản phẩm cytokine viêm dư thừa như TNFα, IL-1β và IL-6 gây ra phù và tổn thương mô. Thật vậy, viêm cấp và mạn liên quan đến nhiều bệnh, như nhiễm trùng huyết, viêm khớp dạng thấp, viêm ruột (bao gồm bệnh Crohn và viêm loét đại tràng), hội chứng suy hô hấp (respiratory distress syndrome), viêm phúc mạc và viêm tim (carditis). Đối với não, nhiều bệnh thoái hóa thần kinh có thể do hoạt hóa thụ thể TLR 4 ở vi tế bào đệm (microglia cell) gây ra đáp ứng viêm.

Các cytokine viêm

Có nhiều cytokine và các tác nhân liên quan gây ra viêm. Hai trong số các cytokine chính là yếu tố hoại tử u-α (TNFα) và interleukin-1 (IL-1).

Yếu tố hoại tử u (TNF)

TNF có hai dạng chính được nói tới ở đây: TNFα (được biết như cachetin vì nó điều hòa sốt và chứng suy mòn – cachexia) và TNF-β (lymphotoxin). Trong hầu hết các mục đích, chúng được xem xét cùng với nhau. TNF là cytokine tiền viêm mạnh chịu trách nhiệm cho nhiều hiệu ứng có hại như nhiễm trùng do vi khuẩn, viêm khớp dạng thấp và bệnh Crohn. TNF hoạt động trên thụ thể TNF (TNF-R) để chiêu mộ những lộ trình tín hiệu khác nhau:

●     TNFα hoạt hóa lộ trình tín hiệu của yếu tố nhân κB  (NF-κB).

●     TNF-R có thể hoạt hóa caspase 8 để khởi đầu lộ trình bên ngoài của sự chết có chương trình (apoptosis).

●     TNFα hoạt hóa lộ trình tín hiệu sphingomyelin.

●     TNFα được phóng thích từ tế bào hình sao (folliculo stellate – FS) để đáp ứng với lipopolysaccharide (LPS)

Thụ thể TNFα bị bất hoạt thông qua quá trình phát tán ngoại bì (ectoderm shedding). Đột biến ở vị trí phân tách của thụ thể TNF ngăn cản điều hòa ngược bởi enzyme ADAM chịu trách nhiệm cho sự phát tán của nó, là nguyên nhân của hội chứng sốt có chu kỳ liên quan với thụ thể TNF (TNF-receptor-associated periodic febrile syndrome – TRAPS).

Xem toàn bộ bài viết tại đây.

Kháng thể

KHÁNG THỂ

Phùng Trung Hùng – Nguyễn Phước Long

Tổng quan

Hình 50.1: Mô tả hình dạng kháng thể trên bề mặt tế nào.

Kháng thể (antibody) là các proteins tuần hoàn (còn được gọi là immunoglobulins) được tổng hợp bởi tương bào (plasma cell) trong các phản ứng đáp ứng của hệ miễn dịch đối với các cấu trúc ngoại lai. Nó được xem như là thành phần chính yếu của hệ miễn dịch đáp ứng và có 2 chức năng cơ bản phụ thuộc trực tiếp vào cấu trúc của nó. (1) gắn kết với kháng nguyên (antigen) thông qua epitopes tại vị trí gắn kết kháng nguyên (antigen-binding site). (2) cảm ứng một phản ứng đáp ứng thông qua thụ thể Fc trên các tế bào đáp ứng.

Kháng thể được phân chia thành 3 nhóm dựa vào trọng lượng phân tử. (1) mảnh kháng thể 7S có trọng lượng phân tử khoảng 150000 D, (2) mảnh kháng thể 11S với trọng lượng phân tử 300000 D và (3) mảnh kháng thể 19S – 900000 D. Tuy có 3 nhóm, nhưng kháng thể có 2 dạng tồn tại. (1) kháng thể liên kết màng (membrane-bound antibody) tồn tại trên bề mặt của tế bào lympho B hoạt động như một thụ thể. (2) kháng thể tuần hoàn (circulation/secreted antibody) hiện diện gần như gắp nơi trong cơ thể có nhiệm vụ trung hòa độc tố, ngăn ngừa sự xâm nhập và bành trướng của các bệnh nguyên cũng như ức chế các vi sinh vật lạ.

Hình 50.2: Sự khác nhau giữa phân tử IgG tuần hoàn (bên trái) và IgM liên kết màng tế bào lympho B (bên phải). Hình IgG cho thấy domain VL và VH ở vị trí tiếp hợp (juxtaposition) với nhau. Phân tử IgM có nhiều hơn IgG một domain CH. Ngoài ra, IgM có đầu C xuyên màng vùng đóng vai trò neo giữ phân tử lên màng.

Sự gắn kết giữa kháng thể và kháng nguyên phụ thuộc vào hình dạng của kháng nguyên. Các kháng thể khác nhau có độ đặc hiệu chuyên biệt đối với các kháng nguyên khác nhau. Người ta gọi đây là giả thuyết chìa khóa – ổ khóa.

Đọc toàn bộ bài viết tại đây.

Tài liệu tham khảo

TÀI LIỆU THAM KHẢO SÁCH SINH HỌC PHÂN TỬ TẾ BÀO

Tài liệu

  1. Abul K. Abbas, Andrew H. Lichtman, Shiv Pillai: Cellular and Molecular immunology 7th, Elsevier Saunders, 2012, 15:89.

  2. Adams & Victor’s Principles of Neurology, 9th Edition MacGrawhill, 2009.

  3. ADA 2009 Standards of medical care in diabetes–2009. Diabetes Care 32 Suppl 1:S13-61

  4. American Diabetes Association. (2010). Standards of Medical Care in Diabetes – 2010. Diabetes Care Journals, 33, pp. 11 – 61
  5. Andrew E. Williams: Immunology, mucosal and body surface defences, Wiley-Blackwell, 2012, 20:42.

  6. Austin V. 2004. Fundamentals of the nervous system and nervous tissue. Pearson Education, Inc., Benjamin Cummings. From, Marieb E.N. 2004. Human Anatomy & Physiology, Sixth Edition.

  7. Antithrombotic Trialists’ Collaboration. Collaborative meta-analysis of randomised trials of antiplatelet therapy for prevention of death, myocardial infarction, and stroke in high risk patients. BMJ 2002; 324:71.

  8. Atlas of the Human Brain and Spinal Cord . Fix, James D. Copyright ©2008 Jones and Bartlett Publishers 2010.
  9. Bray, S.J. (2006) Notch s ignalling: a s imple p athway becomes complex. Nat. Rev. Mol. Cell Biol. 7 :678–689

  10. Bertrand ME, Simoons ML, Fox KA, et al. Management of acute coronary syndromes: acute coronary syndromes without persistent ST segment elevation; recommendations of the Task Force of the European Society of Cardiology. Eur Heart J 2000; 21:1406

  11. Brothers S, Asher MI, Jaksic M, Stewart AW. Effect of a Mycobacterium vaccae derivative on paediatric atopic dermatitis: a randomized, controlled trial. Clin Exp Dermatol 2009; 34:770

  12. Campbell R, Sangalli F, Perticucci E, Aros C, Viscarra C. Effects of combined ACE inhibitor and angiotensin II antagonist tratment in human chronic nephropathies. Kidney Int 2003;63:1094-103.

  13. Cell Signalling Biology Michael J. Berridge.2009.
  14. Clempus RE, Griendling KK. Reactive oxygen species signaling in vascular smooth muscle cells. Cardiovasc Res. 2006;71(2):216-225

  15. Color Atlas of Biochemistry 2ed, Koolman, 69:93

  16. Cortinovis M, Cattaneo D, Perico N, Remuzzi G. investigational drugs for diabetic nephropathy. Expert Opin Investig Drugs 2008;10:1487-500.

  17. Conn’s Current Therapy 2008, 60th ed. Elsivier&saunder.
  18. Cooperberg BA, Cryer PE: Insulin reciprocally regulates glucagon secretion in humans. Diabetes 59:2936-2940, 2010
  19. Czech, M.P. (2000) PIP2 and PIP3 : complex roles at the cell surface. Cell 100:603–606.

  20. David Hames & Nigel Hooper, BIOS instant Note Biochemistry 3rd [7-8]

  21. David J Rossi, James D Brady & Claudia Mohr, Astrocyte metabolism and signaling during brain ischemia, 2007.

  22. Davis, R.J. (2000) Signal transduction by the JNK group of MAP kinases. Cell 103:239–252.

  23. David L. Nelson & Michael M. Cox. (2008). Principles of Biochemistry (5th ed.). W. H. Freeman and Company: New York

  24. Deanna . Kroetz, phD., Nuclear Receptors: How do they regulate Expression?

  25. Design principles of nuclear receptor signaling how complex networking improves signal transduction (Molecular systems biology 6, Article number 446)

  26. Delmas, P., Crest, M. and Brown, D.A . (2004) Functional organization of PLC s ignalling microdomains in neurons. Trends Neurosci. 27:41–47.

  27. Dienstag, JL. Acute viral hepatitis. In: Harrison’s Principles of Internal Medicine, 17th ed, Fauci, AS, Braunwald, E, Kasper, DL, et al (Eds), McGraw-Hill, Madrid 2008. p.1932.

  28. Dhingra R, Sullivan LM, Fox CS, et al. Relations of serum phosphorus and calcium levels to the incidence of cardiovascular disease in the community. Arch Intern Med 2007; 167:879

  29. Epigenetic Regulation in The Nervous System, 1st, 2013, 35:89

  30. Encyclopedia of Molecular Cell Biology and Molecular Medicine, 2nd Edition. Robert A. Meyers. 2004 Wiley-VCH Verlag GmbH & Co. KGaA, Weinheim.
  31. Encyclopedia o f  Pain. Thomas Mager, Andrea Pillmann, Heidelberg.Springer-Verlag Berlin Heidelberg New York 2007.
  32. Frankel DS, Meigs JB, Massaro JM, et al. Von Willebrand factor, type 2 diabetes mellitus, and risk of cardiovascular disease: the framingham offspring study. Circulation 2008; 118:2533.

  33. Franklin I, Gromada J, Gjinovci A, Theander S, Wollheim CB: Beta-cell secretory products activate alpha-cell ATP-dependent potassium channels to inhibit glucagon release. Diabetes 54:1808-1815, 2005

  34. Functional Ultrastructure An Atlas of Tissue Biology and Pathology, 2005,  Springer, 304:317

  35. Ganong’s review of medical physiology, 23e, 2009, chapter 22

  36. Ganong’s review of medical physiology, 24e, 2012, 214:435

  37. Golan’s Principles of pharmacology: The pathophysiologic basis of Drug therapy 2nd edition

  38. Goodman & Gilman’s The Pharmacological Basis of Therapeutics, Twelfth edition.2011.
  39. Goetz: Textbook of Clinical Neurology, 3rd ed., 2007
  40. Gilron I, Bailey JM, Tu D, et al. Morphine, gabapentin, or their combination for neuropathic pain. N Engl J Med 2005; 352:1324.
  41. Gines Maria Salido & Juan Antonio Rosado, Apoptosis: Involvement of oxidative stress and intracellular Ca2+ homeostasis, Springer, 2009. 28:68

  42. Guyton & Hall Textbook of physiology, 11e, 2006. 559:570

  43. Guyton & Hall Textbook of physiology. 12e, 2011, 532:618
  44. Guido Tettamanti and Gianfrancesco Goracci Handbook of Neurochemistry and molecular Neurobiology, Springer, 2009.
  45. GREENBERG, MD, PHD.Lange Medical Books/McGraw-Hill.2010.
  46. Genetic disorder,  2013
  47. Harrison’s principle of internal medicine, 18e, part 10.

  48. Harish Shankaran, Haluk resat, H.Steven Wiley, Cell surface receptors for signal transduction and ligand transport: A design principles study.

  49. Harald Breivik, William I Campbell, Michael K Nicholas. Clinical Pain Management Practice and Procedures. 2008 Hodder & Stoughton Limited.

  50. Harper’s Illustrated Biochemistry, 28e, chapter 11, 15, 18

  51. Hamburg MA, Collins FS: The path to personalized medicine. N Engl J Med 363:301, 2010.

  52. High-Yield Cell and Molecular Biology, 3rd, 2012, 84:122

  53. Holst JJ: The physiology of glucagon-like peptide 1. Physiol Rev 87:1409-1439, 2007

  54. Hoạt động điện qua màng tế bào cơ tim, Olympiad sinh lý, 2011.

  55. Histology and Cell Biology – An Introduction to Pathology, 3rd, 2012

  56. Kapoor D, et al. The effect of teststerone replacement therapy on adipocytokines and C-reactive protein in hypogonadal men with type 2 diabetes. Eur j Endocrinol. 2007 May;156(5):595-602

  57. Kissel CK, Lehmann R, Assmus B, et al. Selective functional exhaustion of hematopoietic progenitor cells in the bone marrow of patients with postinfarction heart failure. J Am Coll Cardiol 2007; 49:234

  58. Lauschke A, Teichgräber UK, Frei U, Eckardt KU. ‘Low-dose’ dopamine worsens renal perfusion in patients with acute renal failure. Kidney Int 2006; 69:1669

  59. Laflamme MA, Chen KY, Naumova AV, et al. Cardiomyocytes derived from human embryonic stem cells in pro-survival factors enhance function of infarcted rat hearts. Nat Biotechnol 2007; 25:1015.

  60. Laurence L. Brunton, John S. Lazo & Keith L. Parker. (2007). Goodman and Gillman Pharmeceutical Basis of Therapeutics (11th ed.). The McGraw-Hill Companies: California.
  61. Lewin’s Genes X, 2010, 34:173
  62. Lorenz MW, Markus HS, Bots ML, et al. Prediction of clinical cardiovascular events with carotid intima-media thickness: a systematic review and meta-analysis. Circulation 2007; 115:459.

  63. Lodish, Molecular Cell biology, 5e, 2003 [1-93] và bản dịch tiếng Việt 6e, chương 1,2,3

  64. Louis J. Ignarro. Nitric oxide : Biology & Pathobiology.  ©  2010, Elsevier Inc.
  65. Liu  PT,  Stenger  S,  Li  H,  et  al.  Toll-like  receptor  triggering  of  a  vitamin  D-mediated  human  antimicrobial  response.  Science . 2006;311:1770-1773.

  66. Libby P et al: The vascular endothelium and atherosclerosis, in The Handbook of Experimental Pharmacology, S Moncada and EA Higgs (eds). Berlin-Heidelberg, Springer-Verlag, 2006

  67. Lauren Sompayrac: How the immune system works 4th, Wiley-Blackwell, 2012, 12: 25.

  68. Lucy Bird: Mucosal immunology: IL-22 keeps commensals in their place, nature reviews doi:10.1038/nri3263, 2012.

  69. Ivan M. Roitt, Peter J. Delves: Roitt’s essential immunology 10th, Blackwell Publishing, 2010, 42:130.

  70. Is Kulaev, VM Vagabov, TV Kulakovskaya, The biochemistry of inorganic polyphosphates, 2nd, 2004.

  71. Jacobsen P, Andersen S, Jensen BR, Parving HH. Additive effect of ACE inhibition and angiotensin II receptor blockade in type i diabetic patients with diabetic nephropathy. J Am Soc Nephrol 2003;14:992-9.

  72. J.P. Borel, F.-X. Maquart, PH. Gillery, M.Exposito, Biochimie pour le clinicien – Méscanismes moléculaires et chimiques à l’origine des maladies, 1999 [176-194]

  73. John C. Foreman, Torben Johansen , Textbook of Receptor Pharmacology, Second Edition 2003, 213:236

  74. Joachim Herz & Uwe Beffect, Apolipoprotein E receptor: Linking brain development and Alzheimer’s disease, 51:58, 2005

  75. Junqueira’s Basic Histology, Twelfth Edition. 2010 by The McGraw-Hill Companies, Inc.
  76. John D. Lambris, George Hajishengallis: Current topics in innate immunity II, Springer, 2012, 32:52

  77. Katsung’s Basic and Clinical Pharmacology, 11e, 2010, chapter 2.

  78. Martindale: The Complete Drug Reference.© Pharmaceutical Press 2009
  79. Marx SJ, Simonds WF: Hereditary hormone excess: Genes, molecular pathways, and syndromes. Endocr Rev 26:615, 2005

  80. Mahoney WM, Schwartz SM: Defining smooth muscle cells and smooth muscle cell injury. J Clin Invest 15:221, 2005

  81. Maffi P, Bertuzzi F, Guiducci D, Socci C, Aldrighetti L, Nano R: Peri-operative management influences the clinical outcome of islet transplantation. Amer J Transplant 1:181, 2001

  82. Mikkelsen, R.B. and Wardman, P. (2003) Biological chemistry of r eactive oxygen a nd nitrogen and r adiation-induced signal transduction mechanisms. Oncogene 22:5734–5754

  83. Methylation DNA and RNA Histones to Diseases Treatment, 2012

  84. Metzker ML: Sequencing technologies—the next generation. Nat Rev Genet 11:31, 2010

  85. Merritt’s Neurology, 11th Edition,  Lippincott Williams & Wilkins.
  86. Meier JJ, Ritter PR, Jacob A, Menge BA, Deacon CF, Schmidt WE, Nauck MA, Holst JJ: Impact of exogenous hyperglucagonemia on postprandial concentrations of gastric inhibitory polypeptide and glucagon-like peptide-1 in humans. J Clin Endocrinol Metab 95:4061-4065, 2010
  87. Molecular and Cellular Biology of Neuroprotection in the CNS.Christian Alzheimer.Kluwer Academic / Plenum Publishers.2002.
  88. Mahin Khatami: Inflammation, chronic diseases and cancer cell and molecular biology, immunology and clinical bases, 2012, 23:132.

  89. Neurology A Queen Square Textbook.CHARLES  CLARKE ROBIN  HOWARD. 2009.
  90. Nong Z, Hoylaerts M, Van Pelt N, et al. Nitric oxide inhalation inhibits platelet aggregation and platelet-mediated pulmonary thrombosis in rats. Circ Res 1997; 81:865.

  91. Nguyễn Trí Dũng, Mô học đại cương 1st, 2009, 217:256

  92. Plasterk RH. RNA silencing: the genome’s immune system. Science 2002; 296:1263

  93. Rube Goldberg goes (ribo) nuclear? Molecular switches and sensors made from RNA

  94. Reinhard Rohkamm. Color Atlas of Neurology.Thieme 2003.
  95. Rutkowski, D.T. and Kaufman, R.J. (2004) A trip to the ER: coping w ith stress. Trends Cell Biol. 14:20–28.

  96. Richard T. Johnson, John W. Griffin, Justin C. McArthur.CURRENT THERAPY IN NEUROLOGIC DISEASE, 2006, Mosby Inc.

  97. Ridker PM, Glynn RJ, Hennekens CH. C-reactive protein adds to the predictive value of total and HDL cholesterol in determining risk of first myocardial infarction. Circulation 1998; 97:2007

  98. ROGER P. SIMON, MD&DAVID A. Clinical Neurology seventh edition.

  99. Robbins and Cotran PATHOLOGIC BASIS OF DISEASE.Copyright O 2005, Elsevier Inc.
  100. Robert R. Rich: Clinical immunology – Principles and practice 3rd, Mosby Elsevier, 2008, 62:81.
  101. Saaddine JB, Cadwell B, Gregg EW, et al. Improvements in diabetes processes of care and intermediate outcomes: United States, 1988-2002. Ann Intern Med 2006; 144:465.
  102. Salahadin Abdi, Pradeep Chopra. Pain Medicine.Copyright © 2009 by The McGraw-Hill Companies, Inc.
  103. Sealey JE, Laragh JH. Radioimmunoassay of plasma renin activity. Semin Nucl Med 1975; 5:189.
  104. Stephen G. Waxman .Molecular Neurology. Elsivier 2007.
  105. Sudhesh Kumar & Stephen O’Rahilly. (2005). Insulin ResistanceInsulin Action and Its Disturbances in Disease. John Wiley & Sons Ltd: England
  106. Taylor PJ, Cooper DP, Gordon RD, Stowasser M. Measurement of aldosterone in human plasma by semiautomated HPLC-tandem mass spectrometry. Clin Chem 2009; 55:1155

  107. Terry Kenakin, Assay Development Compound Profiling , Principles: Receptor theory in pharmacology , GlaxoSmithKline Research and Development, 5 Moore Drive, Research Triangle Park, NC 27709, USA

  108. The Diabetes Control and Complications Trial Research Group. (1993). The effect of intensive treatment of diabetes on the development and progression of long-term complications in insulin-independent diabetes mellitus. New England Journal Medicine, 329, pp. 977 – 986
  109. UK Prospective Diabetes Study Group. (1998). Intensive blood-glucose control with sulphonylureas or insulin compared with conventional treatment and risk of complications in patient with type 2 diabetes. The Lancet, 352, pp. 837 – 853
  110. Ionotropic Receptors in Postsynaptic Membranes

  111. Vi khuẩn học, nxb Y học, 2009, 87:94

  112. Vorsanova SG et al: Human interphase chromosomes: A review of available molecular cytogenetic technologies. Mol Cytogenet 3:1, 2010

  113. WARFIELD, CAROL A.; BAJWA, ZAHID H. Principles & Practice of Pain Medicine , 2nd Edition, 2004 McGraw-Hill.
  114. Wessely R, Schomig A, Kastrati A. Sirolimus and paclitaxel on polymer-based drug-eluting stents: similar but different. J Am Coll Cardiol. 2006;47(4):708-714

  115. Williams’s Textbook of endocrinology, 2011, 12e, 38:43

  116. Weinberger B, Laskin DL, Heck DE, Laskin JD. The toxicology of inhaled nitric oxide. Toxicol Sci 2001; 59:5

  117. William B. Coleman and Gregory J. Tsongalis. Molecular Pathology Academic, 2009.
  118. Zapol WM, Rimar S, Gillis N, et al. Nitric oxide and the lung. Am J Respir Crit Care Med 1994; 149:1375

  119. Zimmerberg, B. 2002. Dopamine receptors: A representative family of metabotropic receptors. Multimedia Neuroscience Education Project.

Hình ảnh:

  • Lodish molecular biology of the cell, 5e, 2003, ; Guyton’s physiology, 11e, 12e, 2006, 2011; Ganong’s review of medical physiology, 23e, 2009;  Katsung’s basic and clinical pharmacology, 11e, 2010; Harrison’s 18th; Cecil’s 24th, …

  • Các trang web như Nature, medscape, pathmicro, cellsignal, ncbi, bio-alive, reactome, …

Từ internet:

  1. http://themedicalbiochemistrypage.org/nuclear.html

  2. http://themedicalbiochemistrypage.org/steroid-hormones.html#receptors

  3. http://themedicalbiochemistrypage.org/peptide-hormones.html

  4. http://themedicalbiochemistrypage.org/lipids.html

  5. http://themedicalbiochemistrypage.org/cell-cycle.html

  6. http://themedicalbiochemistrypage.org/lipid-synthesis.html

  7. http://themedicalbiochemistrypage.org/muscle.html

  8. http://themedicalbiochemistrypage.org/growth-factors.html

  9. http://www.abcam.com/index.html?pageconfig=resource&rid=10602&pid=7

  10. http://en.wikipedia.org/wiki/Receptor_%28biochemistry%29

  11. http://www.nature.com/nrd/journal/v4/n2/fig_tab/nrd1630_F1.html

  12. http://www.nature.com/nrn/journal/v3/n2/fig_tab/nrn725_F5.html

  13. http://www.nature.com/nri/journal/v1/n1/fig_tab/nri1001-050a_F1.html

  14. http://www.nature.com/nature/supplements/insights/epigenetics/index.html

  15. http://pathmicro.med.sc.edu/book/immunol-sta.htm

  16. http://rpi.edu/dept/bcbp/molbiochem/MBWeb/mb1/part2/signals.htm

  17. http://www.biochemweb.org/signaling.shtml

  18. http://bio-alive.com/animations/anatomy.htm

  19. http://www.biochemj.org/csb/

  20. http://www.cybermedicine2000.com/pharmacology2000/General/Introduction/Introobj1.htm

  21. http://www.sciencemag.org/site/feature/plus/sfg/resources/res_epigenetics.xhtml

  22. http://learn.genetics.utah.edu/content/epigenetics/

  23. http://www.nature.com/nature/supplements/insights/epigenetics/index.html

  24. http://www.pbs.org/wgbh/nova/body/epigenetics.html

  25. http://www.medicinenet.com/script/main/hp.asp

  26. http://www.ncbi.nlm.nih.gov/

  27. http://users.rcn.com/jkimball.ma.ultranet/BiologyPages/H/Hormones.html

  28. http://www.cellsignal.com/

  29. http://www.sumanasinc.com/webcontent/animations/neurobiology.html

  30. http://www.biocarta.com/

  31. http://www.pharmtox.utoronto.ca/research/overview/fields/receptor.htm

  32. http://bcs.whfreeman.com/lodish6e/default.asp?s=&n=&i=&v=&o=&ns=0&uid=0&rau=0

  33. http://bcs.whfreeman.com/biochem6/default.asp?s=&n=&i=&v=&o=&ns=0&uid=0&rau=0

  34. http://www.britannica.com/EBchecked/topic/498140/renin-angiotensin-system

  35. http://www.genome.jp/kegg/pathway/hsa/hsa04614.html

  36. http://www.worldlingo.com/ma/enwiki/en/Metabotropic_receptor

  37. http://en.wikipedia.org/wiki/Nuclear_receptor

  38. https://sites.google.com/site/seadropblog/ppnckh-1

  39. http://jkweb.berkeley.edu/external/pdb/2006/pellicena-cosb/index.html

  40. http://www.nejm.org/

  41. http://physiologyonline.physiology.org/

  42. http://www.endotext.org/neuroendo/neuroendo5a/neuroendoframe5a.htm

  43. http://www.endotext.org/neuroendo/neuroendo11a/neuroendoframe11a.htm

  44. http://www.reactome.org/entitylevelview/PathwayBrowser.html#DB=gk_current&FOCUS_SPECIES_ID=48887&FOCUS_PATHWAY_ID=69620&ID=264418&VID=4046584

  45. http://care.diabetesjournals.org
  46. https://profreg.medscape.com
  47. http://www.bioscience.org
  48. http://www.iub.edu/~k536/adipo.html
  49. http://www.pnas.org
  50. http://www.jci.org