Category Archives: Vật lí – lí sinh

[Thống kê căn bản] Bài 4: Phương sai và độ lệch chuẩn, công thức tính và ý nghĩa thống kê

[Thống kê căn bản] Bài 4: Phương sai và độ lệch chuẩn, công thức tính và ý nghĩa thống kê

Phương sai và độ lệch chuẩn là 2 đại lượng thống kê quan trọng, thường được sử dụng khi khảo sát thống kê. Vậy bản chất và cách tính 2 đại lượng này như thế nào? Chúng ta hãy xem video sau để biết được.

Ở thời đại ngày nay, thống kê là một công cụ đắc lực của các nhà Khoa học trong rất nhiều lĩnh vực, Y Sinh học không là ngoại lệ. Những hiểu biết về thống kê sẽ giúp chúng ta khảo sát và đưa ra được các kết luận đúng đắn để có thể vận dụng vào thực tiễn. Do đó, Biomedera Education quyết định xây dựng loạt bài giảng về lý thuyết và thực hành trên các phần mềm thống kê hiện đại nhằm giúp các bạn tiếp cận và sử dụng thành thạo công cụ này trong học tập, làm việc và nghiên cứu khoa học.

Video được thực hiện bởi Nguyễn Thị Huyền Trang – Sinh viên ngành Y học Dự phòng niên Khóa 2009-2015, Đại học Y Dược Huế.

[Kỹ năng mềm cho NCKH] Thủ thuật đưa tài liệu tham khảo từ Word vào Endnote

Kỹ năng IT là một bộ phận rất quan trọng trong nhóm các kỹ năng cần có để trở thành một nhà nghiên cứu khoa học. Biomedera Education sẽ cùng đồng hành với các bạn trong quá trình tìm tòi, làm quen và thành thục các kỹ năng này. Qua đó, giúp các bạn giải quyết được các khó khăn bước đầu trên chặn đường nghiên cứu khoa học của mình!

Hãy tải phần mềm học tiếng Pháp miễn phí tại đây:

https://play.google.com/store/apps/details?id=com.tiengphap.biomedera&hl=en

Đây là tuyển tập các chuyên đề văn phạm tiếng Pháp cho mọi đối tượng. Mục đích của chúng tôi là nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản nhất cho những người có đam mê tiếng Pháp và văn hóa Pháp.

Cô Trang Khanh hiện là giáo viên dạy tiếng Pháp cho sinh viên thuộc các trường Đại học tại TP.HCM.

Mọi liên hệ nhu cầu học tập, hợp tác sản xuất video giáo dục cũng như góp ý xin gửi về: biomedera.edu@gmail.com

Ban giảng huấn: Trang Khanh — Phước Long — Thanh Trang

p/s: Best view at 1080p

Biomedera – Aspiration of Knowledge

Channel: https://www.youtube.com/BiomederaEducation

Kỉ nguyên Y Sinh học – Biomedera’s channel

Chúng tôi không thể trình bày chính xác hoàn toàn sự thật trong các video này. Do vậy mong rằng các bạn có thể sử dụng sự tinh tế của mình khi xem cơ hồ nắm bắt được tri thức!

Follow us:

Fb: http://www.facebook.com/Biomedera

Website: http://www.biomedera.com http://www.docsachysinh.com

Hãy ấn Like và Subcribe để theo dõi những video mới nhất của chúng tôi nhé!

Phức hợp phản ứng Enzyme – Cơ chất hình thành như thế nào?

Đại cương

Enzyme thực hiện vai trò xúc tác bằng cách làm cho năng lượng hoạt hóa của phản ứng sinh hóa xảy ra trong cơ thể thấp hơn so với bình thường. Cơ chế của quá trình này thường rất phức tạp, bao gồm nhiều tương tác hai chiều và các điều kiện nghiêm ngặt. Các tác giả tiên phong cũng đã nhận ra được tầm quan trọng của yếu tố lập thể giữa enzyme và cơ chất của nó, từ đó hình thành nên học thuyết “chìa khóa & ổ khóa” – mô hình được chấp nhận rộng rãi từ khi được giới thiệu lần đầu tiên bởi E. FISCHER. Tuy vậy, cần phải luôn nhớ rằng enzyme và cơ chất luôn luôn vận động, do vậy ta cũng phải dùng quan điểm động để hiểu đúng mô hình học thuyết trên.

Tính chất linh động (flexibility) và dễ biến đổi (mobility) của vùng hoạt động trên enzyme chính là mục tiêu nghiên cứu hàng đầu để có thể hiểu được đầy đủ tiến trình xúc tác. Ái lực của enzyme quyết định số gia các trạng thái chuyển đổi của cơ chất so với bản thân cơ chất và do vậy nó là một yếu tố nhiệt động lực học quan trọng.

Chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu từng thành phần một trong cơ chế xúc tác của enzyme. Từ quá trình hình thành phức hợp enzyme – cơ chất đến cơ chế phản ứng xảy ra và sản phẩm tạo thành.

Các lực tự nhiên hình thành nên phức hợp Enzyme – cơ chất

Các lực tạo nên sự liên kết giữa enzyme và cơ chất của nó cùng bản chất với các lực hiện diện trong bất kì một phân tử cơ bản nào trong tự nhiên. Tuy nhiên, sự phức tạp của cấu trúc enzyme với nhiều nhóm hóa học khác nhau dẫn đến sự hiện diện của nhiều loại lực cùng thực hiện tương tác. Hơn nữa, do enzyme hoạt động trong môi trường sinh vật, nghĩa là luôn có dung môi (như dung dịch nước chẳng hạn) do vậy, kết lại ta có các loại lực cơ bản sau:

–          Lực tĩnh điện được tạo ra giữa nguyên tố hay nhóm nguyên tố có sự hiện diện thường trực (permanent) của điện thế. Nó bao gồm tương tác giữa 2 ion, giữa ion và một lưỡng cực hay thậm chí giữa 2 lưỡng cực với nhau.

  • Tương tác giữa 2 ion (tương tác Coulomb).
  • Lực tĩnh điện của một ion được xác định theo phương trình sau:

rong đó q là điện tích, r là khoảng cách từ điện tích đến điểm tính lực, Z là hóa trị của ion và e là điện tích của electron. Trong nước hằng số điện môi (D) vào khoảng 74.1 ở 37.5oC.

Xem toàn bộ bài viết tại đây.

Google

Giới thiệu một số kênh ion chính trong tế bào

Giới thiệu một số kênh ion chính trong tế bào

Phùng Trung Hùng – Phạm Thiên Tánh – Nguyễn Phước Long – Lê Phi Hùng

Đóng và mở kênh ion: Ba trạng thái hoạt động

Tế bào là một hệ thống mở thường xuyên trao đổi chất và năng lượng với môi trường bên ngoài. Khả năng này được đảm bảo nhờ một loạt các cấu trúc vận chuyển tinh vi trải xuyên qua màng lipid kép. Protein tải (transporters) và kênh (channels) là hai nhóm lớn của protein vận chuyển ở màng tế bào. Protein tải còn được gọi là chất mang (carriers) hoặc chất cho thấm qua (permeases) sẽ gắn chặt với các chất tan đặc hiệu được vận chuyển và sẽ trải qua một loạt các biến đổi hình thể dể chuyển chất tan qua màng tế bào. Người ta phân làm 2 nhóm theo nhu cầu năng lượng: tải chủ động và tải thụ động. Trong khi, kênh hình thành nên những ống dẫn xuyên qua lớp lipid kép, khi mở, cho phép những chất tan đặc hiệu (thường là các phân tử vô cơ vừa phải và tích điện) đi qua và nhờ đó mà vào tế bào. Ngược với các tải, kênh tương tác với các chất tan yếu hơn rất nhiều, dễ hiểu là sự vận chuyển qua các kênh xảy ra nhanh hơn nhiều so với các tải: hiệu quả vận chuyển gấp 100000 lần nhanh hơn protein tải nhanh nhất, vào khoảng 100 tỉ ion có thể chảy qua một kênh ion trong một giây. Đối với nước, mặc dù có thể khuếch tán qua lớp lipid kép nhưng tất cả các tế bào đều chứa kênh đặc hiệu (còn gọi là kênh nước hay aquaporins) làm tăng rất lớn tính thấm của màng tế bào với nước.

Với tốc độ vận chuyển khổng lồ của các kênh ion, tế bào sẽ nhanh chóng đạt đến trạng thái cân bằng đối với tất cả các ion giữa 2 bên màng tế bào – trạng thái cân bằng vĩnh viễn, điều đó chẳng khác nào là sự kết thúc cho hệ thống sống luôn vậng động trao đổi, nếu không có một cơ chế điều hòa đóng mở kênh ion. Có 3 trạng thái hoạt động của các kênh ion, ở đây bàn về các kênh ion mà mỗi trạng thái ĐÓNG – MỞ – BẤT HOẠT phụ thuộc vào từng phân độ điện thế màng tế bào biến đổi theo thời gian. Để cụ thể hơn, xin lấy kênh ion Na phụ thuộc điện thế (phổ biến nhất đặc biệt trong các tế bào dễ kích thích như: tế bào cơ bắp, cơ tim, neuron) làm minh họa:

Hình 25.1: A: Một kích thích lên màng tế bào khởi động một sóng ngắn khử cực nhẹ. B: Đường biểu diễn màu xanh cho thấy điện thế màng đáng lẽ sẽ nhanh chóng trở về trạng thái nghỉ ban đầu nếu không có các kênh ion Na phụ thuộc điện thế trên màng tế bào. Sự hồi phục chậm chạp này gây ra bởi sự mở ra của kênh ion K phụ thuộc điện thế đáp ứng với một kích thích, từ đó đưa điện thế màng quay về giá trị cân bằng. Trên thực tế, các kênh ion Na phụ thuộc điện thế đã mở làm biến đổi lớn điện thế màng được biểu diễn bằng đường cong màu đỏ. C: Thể hiện từng trạng thái hoạt động theo thời gian của kênh Na phụ thuộc điện thế (Cụ thể biến đổi sẽ được bàn luận chi tiết trong phần sau). Ngay lúc điện thế màng đạt giá trị khoảng +50mV, kênh Na nhanh chóng bất hoạt và duy trì trạng thái bất hoạt này cho đến khi màng tế bào trở về điện thế nghỉ, mới chuyển sang trạng thái ban đầu “đóng” ở mức điện thế nghỉ màng:           -80mV. Trước lúc này, màng tế bào trơ với kích thích hay không thể phát động sóng khử cực thứ hai

Natri và Kali, kênh và bơm

 

Trước khi tìm hiểu tầm quan trọng của những kim loại kiềm Natri và Kai, chúng ta nên ôn lại thật kỹ cách các ions này được vận chuyển qua màng tế bào. Như đã biết, lớp phospholipid kép của màng sinh học về cơ bản thì không thấm đối với những phân tử phân cực và những ions như Na+ và K+– tính thấm của những ions này (được diễn tả theo cm-1) là từ 10-12, còn đối với H2O là khoảng 10-2 (nên thấm dễ dàng hơn). Vận chuyển qua màng tế bào liên quan đến 2 loại protein màng, đó là kênh và bơm. Kênh thì cho phép các ions đi qua thuậntheo chiều gradient nồng độ qua quá trình vận chuyển thụ động hay khuếch tán có hỗ trợ. Tất nhiên, những kênh này không thể mở liên tục được, và như vậy chúng được đóng (gated), giống như cổng vườn, chúng thường xuyên đóng và chỉ có thể được mở ra khi có ligand gắn vào (ligand-gated) hoặc có sự thay đổi điện thế màng tế bào (voltage-gated). Những kênh ligand-gated, ví dụ như những thụ thể acetylcholine ở màng sau synapse, được mở ra bởi chất dẫn truyền thần kinh acetylcholine; còn những kênh voltage-gated Natri và Kali, điểu biến điện thế động ở những sợi trục thần kinh được mô tả bên dưới, thì lại được mở ra bởi sự khử cực màng tế bào.

Ngược lại, bơm thì sử dụng năng lượng dưới dạng ATP hay ánh sáng để điều khiển sự vận chuyển không thuận lợi của những ions hay phân tử đi ngược chiều gradient nồng độ, nói cách khác, chúng liên quan đến vận chuyển chủ động. Có 2 loại bơm cần ATP là P-type ATPase và ABC (ATP-biding cassette). Chúng đều thay đổi hình dạng khi có ATP gắn vào và kết quả là khử hydro để vận chuyển ions qua màng tế bào.Bơm Na+-K+-ATPase được mô tả bên dưới là một trong những loại P-type ATPases. Cách vận chuyển chủ động khác là dùng gradient điện hoá học của 1 ion để vận chuyển ngược ion khác, được minh hoạ bằng bơm trao đổi Na+/H+ có vai trò rất quan trọng trong việc điều chỉnh pH nội bào. Còn 1 ví dụ khác được đề cập trước đây là bơm trao đổi Na+/Ca2+, quan trọng trong việc lấy Ca2+ ra khỏi tế bào.

So sánh Natri và Kali

 

Natri và Kali có rất nhiều trong lớp vỏ trái đất, mặc dù Na thì thường thấy hơn trong nước biển. Lượng Na+ và K+ ở người bình thường ttheo thứ tự là khoảng 1.4 và 2.0 g/kg. Chúng là những ion kim loại quan trong nhất về mặt nồng độ trong cơ thể người. Tuy nhiên chúng phân bố hơi khác nhau. Trong khi ở tế bào của loài động vật có vú, 98% K+ở trong tế bào thì Na+ ngược lại.Sư khác biệt về nồng độ đảm bảo cho 1 loạt quá trình sinh học được xảy ra, ví dụ như sự cân bằng độ thẩm thấu tế bào, sự phiên dịch tín hiệu và dẫn truyền thần kinh. Chúng được duy trì bởi bơm Na+-K+-ATPase, sẽ được đề cập bên dưới. Tuy nhiên, mặc dù chỉ có 2% K+ hiện diện ngoài tế bào, nồng độ K+ ngoại bào này đóng vai trò rất quan trong trong việt duy trì điện thế nghỉ của màng tế bào.Những dòng ion kim loại này quyết định sự dẫn truyền các xung thần kinh trong não và từ não dến các phần khác của cơ thể. Sự đóng và mở của những kênh có cổng ion (gated channels), bình thường đóng ở trong thái nghỉ, và mở đáp ứng lại với những thay đổi điện thế màng, tạo ra những gradient điện hoá học ở phía bên kia của màng bào tương của các neurons. Một xung thần kinh được tạo ra bởi một sóng khử cực/tái cực ngắn ngủi của màng, ngang qua tế bào thần kinh gọi là điện thế động. Hodgkin và Huxley (1952) đã chứng minh rằng cấy một điện cực nhỏ vào một sợi trục ( tiến trình dài xuất phát từ thân tế bào thần kinh) thì tạo ra một điện thế động. Trong ~0.5ms đầu, điện thế màng tăng từ khoản – 60mV lên khoảng +30mV, gây ra sư tái cực nhanh làm tăng quá mức điện thế nghỉ (quá khử cực) trước khi hồi phục một cách chậm chạp. Điện thế động này là kết quả của sự tăng nhanh và ngắn tính thấm của Na+ theo sau sự tăng kéo dài tính thấm của K+. Sự đóng-mở của những kênh ion Na+ và Knày qua màng sợi trục tạo ra những điện thế động (gradient điện thế cơ bản) xuyên màng, giúp truyền thông tin cũng như điều hoà chức năng tế bào.

Hình 25.2: Biểu đồ của điện thế động. (Voet and Voet, 2004)

Sự điều hoà dòng chảy ion xuyên qua màng tế bào hiển nhiên cần thiết cho chức năng của các tế bào sống. Vì tính kỵ nước của màng tế bào (đã đề cập ở trên), sự vận chuyển nhờ năng lượng ưu tiên những loại ions như Na+, K+, Cl, H+ và Ca2+ đi qua màng mà không tính đến việc cần chúng ở bên này hay bên kia màng sinh học, sẽ không khả thi. Nếu không có gradient ion giúp duy trì nồng độ K cao và nồng độ Na thấp trong tế bào, tế bào sẽ không thể thực hiện những hoạt động chuyển hoá bình thường. Điều này nôm na là vài cỗ máy phân tử phải có khả năng phân biệt giữa ion Na+ và K+ ( giả sử rằng không ngậm nước, vì mức độ  hydrat hoá có thể gây khó khăn cho sự phân biệt này). Vì vậy trước khi bắt đầu thảo luận về những proteins vận chuyển ‘chủ động’ hoặc bơm ion hay bơm trao đổi ion, chúng ta tự hỏi bằng cách nào những chất vận chuyển này nhận ra được sự khác biệt giữa 2 cations có quan hệ chặt chẽ trên.(Được diễn giải trong Corry và Chung, 2006; Goax và MacKinnon, 2005.)

Nếu chúng ta được hỏi câu này trong vài năm về trước, câu trả lời sẽ là không rõ ràng. Tuy nhiên, nhờ những công trình lớn tìm hiểu cấu trúc những proteins màng, hiện giờ chúng ta có thể trả lời được, trên cơ sở càng ngày có càng nhiều cấu trúc X-quang của những proteins vận chuyển ion, bắt đầu thúc đẩy những giả thuyết ngày càng có khả năng thành sự thật. Trong trường hợp của kênh Na+, chúng ta vẫn còn hơi mơ hồ. Tuy nhiên, sự phân biệt thành công cấu trúc của một số lớnkênh K+ của cả vi khuẩn và những loài động vật hữu nhũ cho thấy một bước tiến vượt bậc trong tri thức của loài người về chức năng của những kênh này.

Kênh Kali

 

Những kênh K vận chuyển chọn lọc K đi qua màng, làm quá phân cực tế bào, tạo điện thế màng và điều khiển độ dài của điện thế động bên cạnh vô số những chức năng khác nữa. Chúng sử dụng những dạng cổng khác nhau, nhưng chúng lại có tính thấm đối với ion giống nhau. Tất cả kênh K đều có tính chọn lọc theo thứ tự K+ ~ Rb+> Cs+, trong khi sự vận chuyển của những ion kim loại kiềm nhỏ nhất là Na+ và Li+ thì rất chậm – tính thấm của K+ ít nhất gấp 10lần tính thấm của Na+. Sự xác định cấu trúc X-quang của kênh ion K đã cho phép chúng ta hiểu được cách nó lọc một cách chọn lọc những ion K+ được khử nước hoàn toàn mà không phải là ion Na+ nhỏ hơn. Phân tử lọc này không những chọn lọc ions để được vận chuyển, mà còn là lực đẩy tĩnh điện giữa những ions K với nhau, chúng đi qua phân tử lọc  này trong tài liệu của những nhà khoa học Ấn Độ, cung cấp lực để chuyển những ions K nhau qua kênh với tần số 107-108 một giây. (Được đề cập trong Doyle và cộng sự, 1998, MacKinnon, 2004.)

Hình 25.3: Sơ đồ phác họa mặt cắt ngang kênh K+, cấu tạo một tiểu đơn vị được trải ra.

Hình 25.4: (a) Cấu trúc của kênh K+ KcsA với 2 trong 4 tiểu đơn vị được bỏ ra: những vòng xoắn của khe màu đỏ, bộ lọc chọn lọc màu vàng; mật độ electron dọc theo đường đi của ion màu xanh lam. (b) Bộ lọc chọn lọc K+ ( 2 tiểu đơn vị) với 8 nhóm carbonyl (màu đỏ) tương ứng với ion K (màu xanh lục) ở những vị trí 1-4 từ mặt ngoại bào (Từ MacKinnon, 2004. Được vẽ lại với sự cho phép của John Wiley & Sons., Inc.)

Kênh K cổng điện thế đầu tiên được xác định là đoạn gene mã hoáđột biến Shaker ở loài ruồi giấm Drosophila. Hiện tại chúng ta có những cấu trúc kênh K của vi khuẩn phụ thuộc pH, những kênh K+ cổng điện thế và cổng calci (calcium-gated) của vi khuẩn và gần đây nhất là kênh K cổng điện thế của động vật hữu nhũ. Điều khó khăn nhất là chúng đều có cấu trúc giống nhau. Chúng đều là tetramers với cấu hình gấp 4 quanh trung tâm K– khe chỉ đạo (conducting pore). Trên cơ sở nghiên cứ tính kỵ nước, có 2 phân nhóm kênh K+ liên quan mật thiết với nhau, một nhóm bao gồm những phân đoạn có độ dài 2 màng mỗi tiểu đơn vị và một nhóm có 6. Trong trường hợp sau, ởnhững kênh K+ cổng điện thế của Drosophila và động vật có xương sống, 2 vòng xoắn xuyên màng cuối cùng, S5 và S6 cùng với vòng P (P-loop) liên kết chúng, tạo thành khe chỉ đạo. Nhiều nhóm khác của kênh ions có cấu trúc giống nhau, bao gồm kênh K+ được hoạt hoá bởi Calci (Calcium-activated K+ channel). Nhóm 2 màng bao gồm kênh K+ bên trong thẳng và vài kênh K+ của vi khuẩn. Chúng được tạo thành từ 4 tiểu đơn vị, mỗi cái chỉ có 2 phân đoạn xuyên màng. 2 phân đoạn M1 và M2 giống nhau và vòng khe tạo thành cấu trúc xuyên màng hoàn chỉnh của 2 kênh K+ xuyên màng trên. Sự tương đồng về trình tự rất cao giữa 2 nhóm trong vùng kênh, đặc biệt là trong vùng khe. Các kênh K+ cho phép vài cations hoá trị I đi qua (nhưng không phải là Na), nhưng không cho phép các anions đi qua và bị chặn bởi các cations hoá trị II.

Xem toàn bộ bài viết tại đây.

Ca2+/TI THỂ VÀ HOẠT ĐỘNG TẾ BÀO

Ca2+/TI THỂ VÀ HOẠT ĐỘNG TẾ BÀO

Phùng Trung Hùng – Nguyễn Phước Long

Đại cương

Tế bào Eukaryote dự trữ Ca2+ trong lòng sarco/endoplasmic reticulum (SR/ER) và ở trong bộ Golgi. Ca2+ trong các bào quan cần thiết cho quá trình thủy phân ATP dưới xúc tác của SR/ER ATPase (SERCA) và Secretory pathway Ca2+-ATPase (SPCA), do vậy nồng độ của Ca2+ rất dao động, từ  µM đến mM, đủ tạo ra thêm một thành phần gradient điện thế nội bào. Sự phóng thích Ca2+ được thực hiện bởi các kênh ion không đặc hiệu, bao gồm thụ thể của 1,4,5 trisphosphate (InsP3R) và thụ thể ryanodine (RyR, đặc biệt là ở cơ vân và cơ tim) trong lộ trình tín hiệu của inSP3 (một phân tử truyền tin thứ 2) hoặc cADP ribose, cADPR đối với RyR và cuối cùng là bởi các kênh Ca2+ cảm ứng điện thế nằm trên màng (tế bào cơ). Các bào quan khác như ti thể, peroxisomes, các túi tiết, nhân, cùng với các Ca2+ binding protein ở trong bào tương hiệp đồng tạo ra sự biến đổi nồng độ của Ca2+ nội bào, tạo ra các quá trình điều hòa Ca2+ rất chặt chẽ. Những tri thức cơ bản về lộ trình tín hiệu của Ca2+ đã được đề cập ở một chương riêng. Ở chương này, chúng ta sẽ chỉ đề cập đến vai trò của Ca2+/ti thể mà thôi.

Hình 39.1: Na+/Ca2+ exchanger (NCX) và uniporter ti thể là các bơm Ca2+ hiệu quả khi nồng độ Ca2+ bào tương tăng cao do có năng lực bơm cao và ái lực với Ca2+ thấp. PMCA (plasma membrane Ca2+-ATPase) và SERCA (sarco/endoplasmic reticulum Ca2+-ATPase) có khả năng bơm thấp hơn nhưng ái lực lại cao hơn nên có thể đưa Ca2+ về lại nồng độ của trạng thái nghỉ.

Như chúng ta đã biết, ti thể là một bào quan có khả năng “thiên bẩm” trong việc đáp ứng với các lộ trình tín hiệu Ca2+ và cả góp phần kiểm soát hay giải mã (decode) nó. Do vậy, Ca2+ tự thân nó rất cần thiết cho chức năng của ti thể: 3 enzyme dehydrogenase của vòng Krebs (pyruvate dehydrogenase, α-ketoglutarate dehydrogenase và isocytrate dehydrogenase) đều được hoạt hóa bởi Ca2+. Trong chuỗi truyền điện tử, F1F0 ATPase và ATP translocator được điều hòa bởi Ca2+. Vì chức năng của Ca2+ quan trọng như vậy, nên các cơ chế nhằm kiểm soát Ca2+ là cần thiết để tạo ra các đáp ứng khác nhau, đôi khi ngược hẳn nhau: tạo ra năng lượng hay tham gây ra apoptosis. Điều cuối cùng ta cần biết ở đây nữa là ti thể không phải chịu sự chi phối hoàn toàn của Ca2+ mà ngược lại, nó sử dụng Ca2+ như phương tiện giao tiếp với các thành phần khác của tế bào. Vậy nên ta có thể xem Ca2+ là ngôn ngữ chung của chúng.

Chúng ta sẽ cùng nhau nói về vai trò của Ca2+ trên cương vị phân tử điều biến hoạt động của ti thể và vai trò của ti thể như một bào quan điều biến hoạt động của tế bào phụ thuộc Ca2+.

Hình 39.2: Ti thể được năng lượng hóa nhờ pyruvate – phân tử khi vào ti thể sẽ chuyển hóa theo chu trình TCA và qua chuỗi truyền điện tử tạo năng lượng. Như chúng ta đã thảo luận ở một chương riêng, sự chênh lệch điện thế giữa màng ngoài và màng trong ti thể là từ -150 đến -180 mV, tạo thuận lợi để tạo ATP và hấp thu Ca2+. Sơ đồ trên mô tả khái quát mối liên hệ giữa chuyển hóa của ti thể và lộ trình tín hiệu Ca2+.

 

Các diễn viên chính trong vở kịch của Ca2+ ti thể

Từ những năm 60 của thế kỉ trước, hàng loạt các nghiên cứu về vai trò của ti thể được tiến hành. Mục tiêu cuối cùng, lớn nhất, là tìm cho bằng được các protein tải Ca2+ của ti thể. Trong suốt 50 năm nghiên cứu, người ta đã xác định được cơ chế Ca2+ đưa vào và đẩy ra ngoài ti thể một cách bao quát, chi tiết cách Ca2+ đi vào. Nhưng, mãi đến năm 2011, người ta mới biết được sự hiện diện của Na+/Ca2+ exchanger (một trong 2 hệ thống đưa Ca2+ ra ngoài). Trong suốt chặn đường từ trong chất nền ti thể đi ra ngoài bào tương hay ngược lại, Ca2+ phải vượt qua 2 chướng ngại làm giảm tính thấm của ion, đó là: lớp màng ngoài (OMM) và lớp màng trong (IMM).Màng ngoài có nhiều lỗ kênh (porines) và ngày trước, người ta cho rằng nó thấm tự do với Ca2+, nhưng theo các nghiên cứu từ năm 2006 trở lại đây, người ta ghi nhận được có sự hiện diện của các kênh chọn lọc anion phụ thuộc điện thế và sự tác động nhất định của nó đến tính thấm của Ca2+. Màng trong ti thể, như chúng ta đã biết, là một lớp màng không có tính thấm với ion và các phân tử chuyển hóa. Nó là nơi các phản ứng phosphoryl hóa oxi hóa xảy ra (vì nó có các phức hợp tham gia chuỗi truyền hô hấp) và cũng có các protein đảm bảo cho Ca2+ có thể đi vào và đi ra khỏi chất nền bên trong.

Hình 39.3: Cân bằng nội môi của Ca2+ ti thể ở trạng thái nghỉ. (a) Theo sau sự kích thích, sự mở kênh InsP3R và RyR. Các “diễn viên” tham gia quá trình tải Ca2+ được đề cập. VDAC – voltage-dependent anion channel; RaM – rapid mode of uptake, GRP75-glucose regulated protein 75, MPTP – mitochondrial permeability transition pore.

Quá trình đưa Ca2+ vào ti thể là một quá trình điện tính không phụ thuộc vào sự cân bằng gradient điện hóa. Bằng chứng là sự chuyển vị của H+ từ chất nền đến khoảng gian màng liên quan tới chuỗi truyền điện tử ở màng trong, nơi mà điện thế màng tế bào ở mức -180mV. Mức điện thế này tạo một lực để cho Ca2+ xâm nhập vào bên trong. Do vậy, ta cũng cần biết rằng, nếu không duy trì được nồng độ H+ cần thiết xuyên qua lớp màng trong, nghĩa là không tạo ra được sự chênh lệch điện thế đủ cao, quá trình hấp thu Ca2+ cũng sẽ không thể xảy ra.

Protein tải Ca2+ đơn độc (Ca2+ uniporter, MCU) được phát hiện năm 2004 và mãi đến năm 2011 mới xác định được nó có cấu trúc dạng lỗ (pore-forming channel), được cho là một cổng ion chọn lọc, có cơ chế hấp thu nhanh (rapid mode, RaM) – đóng vai trò cơ bản trong quá trình hấp thu Ca2+ của ti thể. Cơ chế đưa Ca2+ ra ngoài bao gồm 2 thành phần, có và không phụ thuộc vào Ca2+, biểu hiện bởi 2 loại protein tải là 3Na+/Ca2+ và 2H+/Ca2+ antiporter; đồng bộ với lực gây ra bởi sự di chuyển của H+ trong chuỗi hô hấp tế bào.

Hình 39.4: Nhiệt động học Ca2+ của ti thể và sự hoạt hóa chu trình TCA & phản ứng phosphoryl hóa oxy hóa.

Sự hấp thu Ca2+ ti thể

Năm 2004, người ta đã xác định được MCU là một kênh Ca2+ có tính chọn lọc rất cao với hằng số bán hoạt K0.5 là 19mM Ca2+, và vị trí hoạt hóa cũng chính là vùng tải. Chuỗi thứ tự tính thấm của protein này lần lượt làCa2+>Sr2+>Mn2+>Ba2+>Fe2+>La3+. Điểm thú vị là Ca2+ tự thân nó hoạt hóa MCU trong khi La, Mg2+, Ru đỏ (RR), KB-R7943 lại có vai trò ức chế. Một lần nữa ta lại nhìn thấy sự “đối đầu” của Mg2+ và Ca2+– một hiện tượng góp phần đáng kể trong quá trình điều hòa tác động của Ca2+. Ngoài ra, các polyamine được tin là đóng vai trò sinh lý quan trọng đối với Ca2+ vì nó giúp khởi động quá trình hấp thu Ca2+ của ti thể khi nồng độ Ca2+ tại đây ở mức thấp. Taurine ở mức mM cũng có thể hoạt hóa MCU. Điểm kì lạ nhất liên quan tới quá trình này liên quan đến các nucleotides, nó vừa có thể hoạt hóa, vừa có thể ức chế MCU và người ta cũng chưa rõ cơ chế tác động của nó như thế nào.

Hình 39.5: Ion calcium được vận chuyển trực tiếp giữa ER và ti thể tại “khớp nối” giữa 2 bào quan này. Quá trình chuyển đổi được điều hòa bởi thụ thể IP3 và các uniporter.

Khi nghiên cứu về các lộ trình tín hiệu có liên quan đến Ca2+, cụ thể là trường hợp của các phân tử ức chế p38 MAPK, người ta cũng đã phát hiện được rằng lộ trình tín hiệu phụ thuộc vào các protein kinase (tyrosine kinase, serine/threonine kinase,…) có vai trò điều biến dòng Ca2+ đi vào.

Như chúng ta đã biết, sự vận chuyển Ca2+ có liên quan đến sự vận động của H+. Vào năm 2007, người ta lại ghi nhận được sự vận chuyển của các ion H+ có liên quan đến các protein tải ion âm – trường hợp này là các acid hữu cơ, theo chiều từ chất nền ti thể ra khoảng gian màng. Vậy, cơ chế này cũng ảnh hưởng gián tiếp tới sự vận chuyển của Ca2+.

Đọc trọn vẹn bài viết tại đây.

Researchers devise technique to allow X-ray crystallography of un-crystallized molecule groups

Researchers devise technique to allow X-ray crystallography of un-crystallized molecule groups

Researchers devise technique to allow X-ray crystallography of un-crystallized molecule groups

The crystal structure of a chiral guest, santonin, trapped in a crystalline sponge. Credit: Nature 495, 461–466 (28 March 2013) doi:10.1038/nature11990

A team of researchers working in Japan has developed a method for allowing X-ray crystallography to work on molecular groups that have not first been crystallized. In their paper published in the journal Nature, the group describes how they built small scaffolds that resemble pockets for the molecules to rest in, securing them in place and allowing for X-ray crystallography analysis.

Over the years, X-ray crystallography has become one of the more important tools of modern research—it allows for the shape of molecules to be determined, which is important because molecular shape determines how different molecules can bind together. One roadblock to its use in some areas has been the difficulty in getting some molecule groups to crystallize—a necessary prelude to using X-ray crystallography because it causes the molecules to sit still in a way that allows them to be analyzed. In this new research effort, the team in Japan has found a way to allow researchers to use X-ray crystallography without having to get molecule groups to first crystallize. They did it by constructing a scaffold of metal-organic frameworks to form octahedral cages, or pockets—they pull in molecules and hold them in a stable orientation which in turn allows them to be studied using X-ray crystallography. The team describes their structures as “crystalline sponges” that pull in small quantities of molecules and after a short stabilization period, hold them in place. The researchers tested their new method by correctly determining the shape of several molecules whose shape was already known. One molecule shape in particular—miyakosyne A—was discerned by their method, which proved its feasibility as researchers have never been able to get it to crystallize and thus be studied using X-ray crystallography. The only drawback seen thus far with the new technique is that it’s limited to molecules of a certain size range—proteins for example, are made of molecules too large to fit in the cages the team developed. Because of that, the researchers are currently looking at ways to create larger cages and hope to one day develop a means of allowing for capturing and holding molecules of any size.

More information: X-ray analysis on the nanogram to microgram scale using porous complexes, Nature 495, 461–466 (28 March 2013) doi:10.1038/nature11990

Abstract X-ray single-crystal diffraction (SCD) analysis has the intrinsic limitation that the target molecules must be obtained as single crystals. Here we report a protocol for SCD analysis that does not require the crystallization of the sample. In our method, tiny crystals of porous complexes are soaked in a solution of the target, such that the complexes can absorb the target molecules. Crystallographic analysis clearly determines the absorbed guest structures along with the host frameworks. Because the SCD analysis is carried out on only one tiny crystal of the complex, the required sample mass is of the nanogram–microgram order. We demonstrate that as little as about 80 nanograms of a sample is enough for the SCD analysis. In combination with high-performance liquid chromatography, our protocol allows the direct characterization of multiple fractions, establishing a prototypical means of liquid chromatography SCD analysis. Furthermore, we unambiguously determined the structure of a scarce marine natural product using only 5 micrograms of the compound.

Physorg

Tài liệu tham khảo

TÀI LIỆU THAM KHẢO SÁCH SINH HỌC PHÂN TỬ TẾ BÀO

Tài liệu

  1. Abul K. Abbas, Andrew H. Lichtman, Shiv Pillai: Cellular and Molecular immunology 7th, Elsevier Saunders, 2012, 15:89.

  2. Adams & Victor’s Principles of Neurology, 9th Edition MacGrawhill, 2009.

  3. ADA 2009 Standards of medical care in diabetes–2009. Diabetes Care 32 Suppl 1:S13-61

  4. American Diabetes Association. (2010). Standards of Medical Care in Diabetes – 2010. Diabetes Care Journals, 33, pp. 11 – 61
  5. Andrew E. Williams: Immunology, mucosal and body surface defences, Wiley-Blackwell, 2012, 20:42.

  6. Austin V. 2004. Fundamentals of the nervous system and nervous tissue. Pearson Education, Inc., Benjamin Cummings. From, Marieb E.N. 2004. Human Anatomy & Physiology, Sixth Edition.

  7. Antithrombotic Trialists’ Collaboration. Collaborative meta-analysis of randomised trials of antiplatelet therapy for prevention of death, myocardial infarction, and stroke in high risk patients. BMJ 2002; 324:71.

  8. Atlas of the Human Brain and Spinal Cord . Fix, James D. Copyright ©2008 Jones and Bartlett Publishers 2010.
  9. Bray, S.J. (2006) Notch s ignalling: a s imple p athway becomes complex. Nat. Rev. Mol. Cell Biol. 7 :678–689

  10. Bertrand ME, Simoons ML, Fox KA, et al. Management of acute coronary syndromes: acute coronary syndromes without persistent ST segment elevation; recommendations of the Task Force of the European Society of Cardiology. Eur Heart J 2000; 21:1406

  11. Brothers S, Asher MI, Jaksic M, Stewart AW. Effect of a Mycobacterium vaccae derivative on paediatric atopic dermatitis: a randomized, controlled trial. Clin Exp Dermatol 2009; 34:770

  12. Campbell R, Sangalli F, Perticucci E, Aros C, Viscarra C. Effects of combined ACE inhibitor and angiotensin II antagonist tratment in human chronic nephropathies. Kidney Int 2003;63:1094-103.

  13. Cell Signalling Biology Michael J. Berridge.2009.
  14. Clempus RE, Griendling KK. Reactive oxygen species signaling in vascular smooth muscle cells. Cardiovasc Res. 2006;71(2):216-225

  15. Color Atlas of Biochemistry 2ed, Koolman, 69:93

  16. Cortinovis M, Cattaneo D, Perico N, Remuzzi G. investigational drugs for diabetic nephropathy. Expert Opin Investig Drugs 2008;10:1487-500.

  17. Conn’s Current Therapy 2008, 60th ed. Elsivier&saunder.
  18. Cooperberg BA, Cryer PE: Insulin reciprocally regulates glucagon secretion in humans. Diabetes 59:2936-2940, 2010
  19. Czech, M.P. (2000) PIP2 and PIP3 : complex roles at the cell surface. Cell 100:603–606.

  20. David Hames & Nigel Hooper, BIOS instant Note Biochemistry 3rd [7-8]

  21. David J Rossi, James D Brady & Claudia Mohr, Astrocyte metabolism and signaling during brain ischemia, 2007.

  22. Davis, R.J. (2000) Signal transduction by the JNK group of MAP kinases. Cell 103:239–252.

  23. David L. Nelson & Michael M. Cox. (2008). Principles of Biochemistry (5th ed.). W. H. Freeman and Company: New York

  24. Deanna . Kroetz, phD., Nuclear Receptors: How do they regulate Expression?

  25. Design principles of nuclear receptor signaling how complex networking improves signal transduction (Molecular systems biology 6, Article number 446)

  26. Delmas, P., Crest, M. and Brown, D.A . (2004) Functional organization of PLC s ignalling microdomains in neurons. Trends Neurosci. 27:41–47.

  27. Dienstag, JL. Acute viral hepatitis. In: Harrison’s Principles of Internal Medicine, 17th ed, Fauci, AS, Braunwald, E, Kasper, DL, et al (Eds), McGraw-Hill, Madrid 2008. p.1932.

  28. Dhingra R, Sullivan LM, Fox CS, et al. Relations of serum phosphorus and calcium levels to the incidence of cardiovascular disease in the community. Arch Intern Med 2007; 167:879

  29. Epigenetic Regulation in The Nervous System, 1st, 2013, 35:89

  30. Encyclopedia of Molecular Cell Biology and Molecular Medicine, 2nd Edition. Robert A. Meyers. 2004 Wiley-VCH Verlag GmbH & Co. KGaA, Weinheim.
  31. Encyclopedia o f  Pain. Thomas Mager, Andrea Pillmann, Heidelberg.Springer-Verlag Berlin Heidelberg New York 2007.
  32. Frankel DS, Meigs JB, Massaro JM, et al. Von Willebrand factor, type 2 diabetes mellitus, and risk of cardiovascular disease: the framingham offspring study. Circulation 2008; 118:2533.

  33. Franklin I, Gromada J, Gjinovci A, Theander S, Wollheim CB: Beta-cell secretory products activate alpha-cell ATP-dependent potassium channels to inhibit glucagon release. Diabetes 54:1808-1815, 2005

  34. Functional Ultrastructure An Atlas of Tissue Biology and Pathology, 2005,  Springer, 304:317

  35. Ganong’s review of medical physiology, 23e, 2009, chapter 22

  36. Ganong’s review of medical physiology, 24e, 2012, 214:435

  37. Golan’s Principles of pharmacology: The pathophysiologic basis of Drug therapy 2nd edition

  38. Goodman & Gilman’s The Pharmacological Basis of Therapeutics, Twelfth edition.2011.
  39. Goetz: Textbook of Clinical Neurology, 3rd ed., 2007
  40. Gilron I, Bailey JM, Tu D, et al. Morphine, gabapentin, or their combination for neuropathic pain. N Engl J Med 2005; 352:1324.
  41. Gines Maria Salido & Juan Antonio Rosado, Apoptosis: Involvement of oxidative stress and intracellular Ca2+ homeostasis, Springer, 2009. 28:68

  42. Guyton & Hall Textbook of physiology, 11e, 2006. 559:570

  43. Guyton & Hall Textbook of physiology. 12e, 2011, 532:618
  44. Guido Tettamanti and Gianfrancesco Goracci Handbook of Neurochemistry and molecular Neurobiology, Springer, 2009.
  45. GREENBERG, MD, PHD.Lange Medical Books/McGraw-Hill.2010.
  46. Genetic disorder,  2013
  47. Harrison’s principle of internal medicine, 18e, part 10.

  48. Harish Shankaran, Haluk resat, H.Steven Wiley, Cell surface receptors for signal transduction and ligand transport: A design principles study.

  49. Harald Breivik, William I Campbell, Michael K Nicholas. Clinical Pain Management Practice and Procedures. 2008 Hodder & Stoughton Limited.

  50. Harper’s Illustrated Biochemistry, 28e, chapter 11, 15, 18

  51. Hamburg MA, Collins FS: The path to personalized medicine. N Engl J Med 363:301, 2010.

  52. High-Yield Cell and Molecular Biology, 3rd, 2012, 84:122

  53. Holst JJ: The physiology of glucagon-like peptide 1. Physiol Rev 87:1409-1439, 2007

  54. Hoạt động điện qua màng tế bào cơ tim, Olympiad sinh lý, 2011.

  55. Histology and Cell Biology – An Introduction to Pathology, 3rd, 2012

  56. Kapoor D, et al. The effect of teststerone replacement therapy on adipocytokines and C-reactive protein in hypogonadal men with type 2 diabetes. Eur j Endocrinol. 2007 May;156(5):595-602

  57. Kissel CK, Lehmann R, Assmus B, et al. Selective functional exhaustion of hematopoietic progenitor cells in the bone marrow of patients with postinfarction heart failure. J Am Coll Cardiol 2007; 49:234

  58. Lauschke A, Teichgräber UK, Frei U, Eckardt KU. ‘Low-dose’ dopamine worsens renal perfusion in patients with acute renal failure. Kidney Int 2006; 69:1669

  59. Laflamme MA, Chen KY, Naumova AV, et al. Cardiomyocytes derived from human embryonic stem cells in pro-survival factors enhance function of infarcted rat hearts. Nat Biotechnol 2007; 25:1015.

  60. Laurence L. Brunton, John S. Lazo & Keith L. Parker. (2007). Goodman and Gillman Pharmeceutical Basis of Therapeutics (11th ed.). The McGraw-Hill Companies: California.
  61. Lewin’s Genes X, 2010, 34:173
  62. Lorenz MW, Markus HS, Bots ML, et al. Prediction of clinical cardiovascular events with carotid intima-media thickness: a systematic review and meta-analysis. Circulation 2007; 115:459.

  63. Lodish, Molecular Cell biology, 5e, 2003 [1-93] và bản dịch tiếng Việt 6e, chương 1,2,3

  64. Louis J. Ignarro. Nitric oxide : Biology & Pathobiology.  ©  2010, Elsevier Inc.
  65. Liu  PT,  Stenger  S,  Li  H,  et  al.  Toll-like  receptor  triggering  of  a  vitamin  D-mediated  human  antimicrobial  response.  Science . 2006;311:1770-1773.

  66. Libby P et al: The vascular endothelium and atherosclerosis, in The Handbook of Experimental Pharmacology, S Moncada and EA Higgs (eds). Berlin-Heidelberg, Springer-Verlag, 2006

  67. Lauren Sompayrac: How the immune system works 4th, Wiley-Blackwell, 2012, 12: 25.

  68. Lucy Bird: Mucosal immunology: IL-22 keeps commensals in their place, nature reviews doi:10.1038/nri3263, 2012.

  69. Ivan M. Roitt, Peter J. Delves: Roitt’s essential immunology 10th, Blackwell Publishing, 2010, 42:130.

  70. Is Kulaev, VM Vagabov, TV Kulakovskaya, The biochemistry of inorganic polyphosphates, 2nd, 2004.

  71. Jacobsen P, Andersen S, Jensen BR, Parving HH. Additive effect of ACE inhibition and angiotensin II receptor blockade in type i diabetic patients with diabetic nephropathy. J Am Soc Nephrol 2003;14:992-9.

  72. J.P. Borel, F.-X. Maquart, PH. Gillery, M.Exposito, Biochimie pour le clinicien – Méscanismes moléculaires et chimiques à l’origine des maladies, 1999 [176-194]

  73. John C. Foreman, Torben Johansen , Textbook of Receptor Pharmacology, Second Edition 2003, 213:236

  74. Joachim Herz & Uwe Beffect, Apolipoprotein E receptor: Linking brain development and Alzheimer’s disease, 51:58, 2005

  75. Junqueira’s Basic Histology, Twelfth Edition. 2010 by The McGraw-Hill Companies, Inc.
  76. John D. Lambris, George Hajishengallis: Current topics in innate immunity II, Springer, 2012, 32:52

  77. Katsung’s Basic and Clinical Pharmacology, 11e, 2010, chapter 2.

  78. Martindale: The Complete Drug Reference.© Pharmaceutical Press 2009
  79. Marx SJ, Simonds WF: Hereditary hormone excess: Genes, molecular pathways, and syndromes. Endocr Rev 26:615, 2005

  80. Mahoney WM, Schwartz SM: Defining smooth muscle cells and smooth muscle cell injury. J Clin Invest 15:221, 2005

  81. Maffi P, Bertuzzi F, Guiducci D, Socci C, Aldrighetti L, Nano R: Peri-operative management influences the clinical outcome of islet transplantation. Amer J Transplant 1:181, 2001

  82. Mikkelsen, R.B. and Wardman, P. (2003) Biological chemistry of r eactive oxygen a nd nitrogen and r adiation-induced signal transduction mechanisms. Oncogene 22:5734–5754

  83. Methylation DNA and RNA Histones to Diseases Treatment, 2012

  84. Metzker ML: Sequencing technologies—the next generation. Nat Rev Genet 11:31, 2010

  85. Merritt’s Neurology, 11th Edition,  Lippincott Williams & Wilkins.
  86. Meier JJ, Ritter PR, Jacob A, Menge BA, Deacon CF, Schmidt WE, Nauck MA, Holst JJ: Impact of exogenous hyperglucagonemia on postprandial concentrations of gastric inhibitory polypeptide and glucagon-like peptide-1 in humans. J Clin Endocrinol Metab 95:4061-4065, 2010
  87. Molecular and Cellular Biology of Neuroprotection in the CNS.Christian Alzheimer.Kluwer Academic / Plenum Publishers.2002.
  88. Mahin Khatami: Inflammation, chronic diseases and cancer cell and molecular biology, immunology and clinical bases, 2012, 23:132.

  89. Neurology A Queen Square Textbook.CHARLES  CLARKE ROBIN  HOWARD. 2009.
  90. Nong Z, Hoylaerts M, Van Pelt N, et al. Nitric oxide inhalation inhibits platelet aggregation and platelet-mediated pulmonary thrombosis in rats. Circ Res 1997; 81:865.

  91. Nguyễn Trí Dũng, Mô học đại cương 1st, 2009, 217:256

  92. Plasterk RH. RNA silencing: the genome’s immune system. Science 2002; 296:1263

  93. Rube Goldberg goes (ribo) nuclear? Molecular switches and sensors made from RNA

  94. Reinhard Rohkamm. Color Atlas of Neurology.Thieme 2003.
  95. Rutkowski, D.T. and Kaufman, R.J. (2004) A trip to the ER: coping w ith stress. Trends Cell Biol. 14:20–28.

  96. Richard T. Johnson, John W. Griffin, Justin C. McArthur.CURRENT THERAPY IN NEUROLOGIC DISEASE, 2006, Mosby Inc.

  97. Ridker PM, Glynn RJ, Hennekens CH. C-reactive protein adds to the predictive value of total and HDL cholesterol in determining risk of first myocardial infarction. Circulation 1998; 97:2007

  98. ROGER P. SIMON, MD&DAVID A. Clinical Neurology seventh edition.

  99. Robbins and Cotran PATHOLOGIC BASIS OF DISEASE.Copyright O 2005, Elsevier Inc.
  100. Robert R. Rich: Clinical immunology – Principles and practice 3rd, Mosby Elsevier, 2008, 62:81.
  101. Saaddine JB, Cadwell B, Gregg EW, et al. Improvements in diabetes processes of care and intermediate outcomes: United States, 1988-2002. Ann Intern Med 2006; 144:465.
  102. Salahadin Abdi, Pradeep Chopra. Pain Medicine.Copyright © 2009 by The McGraw-Hill Companies, Inc.
  103. Sealey JE, Laragh JH. Radioimmunoassay of plasma renin activity. Semin Nucl Med 1975; 5:189.
  104. Stephen G. Waxman .Molecular Neurology. Elsivier 2007.
  105. Sudhesh Kumar & Stephen O’Rahilly. (2005). Insulin ResistanceInsulin Action and Its Disturbances in Disease. John Wiley & Sons Ltd: England
  106. Taylor PJ, Cooper DP, Gordon RD, Stowasser M. Measurement of aldosterone in human plasma by semiautomated HPLC-tandem mass spectrometry. Clin Chem 2009; 55:1155

  107. Terry Kenakin, Assay Development Compound Profiling , Principles: Receptor theory in pharmacology , GlaxoSmithKline Research and Development, 5 Moore Drive, Research Triangle Park, NC 27709, USA

  108. The Diabetes Control and Complications Trial Research Group. (1993). The effect of intensive treatment of diabetes on the development and progression of long-term complications in insulin-independent diabetes mellitus. New England Journal Medicine, 329, pp. 977 – 986
  109. UK Prospective Diabetes Study Group. (1998). Intensive blood-glucose control with sulphonylureas or insulin compared with conventional treatment and risk of complications in patient with type 2 diabetes. The Lancet, 352, pp. 837 – 853
  110. Ionotropic Receptors in Postsynaptic Membranes

  111. Vi khuẩn học, nxb Y học, 2009, 87:94

  112. Vorsanova SG et al: Human interphase chromosomes: A review of available molecular cytogenetic technologies. Mol Cytogenet 3:1, 2010

  113. WARFIELD, CAROL A.; BAJWA, ZAHID H. Principles & Practice of Pain Medicine , 2nd Edition, 2004 McGraw-Hill.
  114. Wessely R, Schomig A, Kastrati A. Sirolimus and paclitaxel on polymer-based drug-eluting stents: similar but different. J Am Coll Cardiol. 2006;47(4):708-714

  115. Williams’s Textbook of endocrinology, 2011, 12e, 38:43

  116. Weinberger B, Laskin DL, Heck DE, Laskin JD. The toxicology of inhaled nitric oxide. Toxicol Sci 2001; 59:5

  117. William B. Coleman and Gregory J. Tsongalis. Molecular Pathology Academic, 2009.
  118. Zapol WM, Rimar S, Gillis N, et al. Nitric oxide and the lung. Am J Respir Crit Care Med 1994; 149:1375

  119. Zimmerberg, B. 2002. Dopamine receptors: A representative family of metabotropic receptors. Multimedia Neuroscience Education Project.

Hình ảnh:

  • Lodish molecular biology of the cell, 5e, 2003, ; Guyton’s physiology, 11e, 12e, 2006, 2011; Ganong’s review of medical physiology, 23e, 2009;  Katsung’s basic and clinical pharmacology, 11e, 2010; Harrison’s 18th; Cecil’s 24th, …

  • Các trang web như Nature, medscape, pathmicro, cellsignal, ncbi, bio-alive, reactome, …

Từ internet:

  1. http://themedicalbiochemistrypage.org/nuclear.html

  2. http://themedicalbiochemistrypage.org/steroid-hormones.html#receptors

  3. http://themedicalbiochemistrypage.org/peptide-hormones.html

  4. http://themedicalbiochemistrypage.org/lipids.html

  5. http://themedicalbiochemistrypage.org/cell-cycle.html

  6. http://themedicalbiochemistrypage.org/lipid-synthesis.html

  7. http://themedicalbiochemistrypage.org/muscle.html

  8. http://themedicalbiochemistrypage.org/growth-factors.html

  9. http://www.abcam.com/index.html?pageconfig=resource&rid=10602&pid=7

  10. http://en.wikipedia.org/wiki/Receptor_%28biochemistry%29

  11. http://www.nature.com/nrd/journal/v4/n2/fig_tab/nrd1630_F1.html

  12. http://www.nature.com/nrn/journal/v3/n2/fig_tab/nrn725_F5.html

  13. http://www.nature.com/nri/journal/v1/n1/fig_tab/nri1001-050a_F1.html

  14. http://www.nature.com/nature/supplements/insights/epigenetics/index.html

  15. http://pathmicro.med.sc.edu/book/immunol-sta.htm

  16. http://rpi.edu/dept/bcbp/molbiochem/MBWeb/mb1/part2/signals.htm

  17. http://www.biochemweb.org/signaling.shtml

  18. http://bio-alive.com/animations/anatomy.htm

  19. http://www.biochemj.org/csb/

  20. http://www.cybermedicine2000.com/pharmacology2000/General/Introduction/Introobj1.htm

  21. http://www.sciencemag.org/site/feature/plus/sfg/resources/res_epigenetics.xhtml

  22. http://learn.genetics.utah.edu/content/epigenetics/

  23. http://www.nature.com/nature/supplements/insights/epigenetics/index.html

  24. http://www.pbs.org/wgbh/nova/body/epigenetics.html

  25. http://www.medicinenet.com/script/main/hp.asp

  26. http://www.ncbi.nlm.nih.gov/

  27. http://users.rcn.com/jkimball.ma.ultranet/BiologyPages/H/Hormones.html

  28. http://www.cellsignal.com/

  29. http://www.sumanasinc.com/webcontent/animations/neurobiology.html

  30. http://www.biocarta.com/

  31. http://www.pharmtox.utoronto.ca/research/overview/fields/receptor.htm

  32. http://bcs.whfreeman.com/lodish6e/default.asp?s=&n=&i=&v=&o=&ns=0&uid=0&rau=0

  33. http://bcs.whfreeman.com/biochem6/default.asp?s=&n=&i=&v=&o=&ns=0&uid=0&rau=0

  34. http://www.britannica.com/EBchecked/topic/498140/renin-angiotensin-system

  35. http://www.genome.jp/kegg/pathway/hsa/hsa04614.html

  36. http://www.worldlingo.com/ma/enwiki/en/Metabotropic_receptor

  37. http://en.wikipedia.org/wiki/Nuclear_receptor

  38. https://sites.google.com/site/seadropblog/ppnckh-1

  39. http://jkweb.berkeley.edu/external/pdb/2006/pellicena-cosb/index.html

  40. http://www.nejm.org/

  41. http://physiologyonline.physiology.org/

  42. http://www.endotext.org/neuroendo/neuroendo5a/neuroendoframe5a.htm

  43. http://www.endotext.org/neuroendo/neuroendo11a/neuroendoframe11a.htm

  44. http://www.reactome.org/entitylevelview/PathwayBrowser.html#DB=gk_current&FOCUS_SPECIES_ID=48887&FOCUS_PATHWAY_ID=69620&ID=264418&VID=4046584

  45. http://care.diabetesjournals.org
  46. https://profreg.medscape.com
  47. http://www.bioscience.org
  48. http://www.iub.edu/~k536/adipo.html
  49. http://www.pnas.org
  50. http://www.jci.org