Category Archives: Tin tức

Hỗ trợ lấy fulltext articles từ PubMed, Uptodate và các database khác

Hỗ trợ lấy fulltext articles từ PubMed, Uptodate và các database khác

Để hỗ trợ các bạn làm luận văn cũng như học tập, mình tạo bài viết này để giúp lấy link fulltext các bài báo khoa học cho các bạn. Các bạn chỉ cần reply phía dưới topic tương ứng cho mục này trong diễn đàn (vào topic trong diễn đàn tại đây, nhớ đăng kí thành viên trước để comment), ghi các thông tin sau, mình sẽ cố gắng lấy fulltext và gửi cho các bạn:

1) Tên đầy đủ của bài báo
2) Năm xuất bản, số trang của bài báo.
3) Link đến database (link ncbi hoặc link gốc của database như sciencedirect, wiley, springer… thì càng tốt).

Đối với uptodate: Các bạn vào http://www.uptodate.com/contents/search?search=&x=12&y=8 , tìm bài viết các bạn cần, rồi copy link bài viết vào (ví dụ: http://www.uptodate.com/contents/cl…es-and-diagnosis-of-isolated-asds-in-children).

Nếu cần nhiều bài báo thì các bạn đánh số thứ tự 1, 2, 3… nhé.

P.S. Trước khi yêu cầu tại đây, các bạn có thể vào trang http://libgen.org/ search thử, đôi khi cũng có sẵn fulltext trên đó.

From Grit To Great by Jonathan Yabut – A success story

Hi friends, who want to support education and empower youth in Asia, please share this website: From Grit To Great by Jonathan Yabut – The Apprentice Asia Official Fanpage The Apprentice Asia Winner publishes his first book on grit, passion, and success.

20130731-aa-s1-finale-and-the-winner-is
As requested by fans all over Asia, Jonathan is finally launching his first book From Grit to Great which shares his life journey to becoming Asia’s first Apprentice.Written in a casual and funny style that Jonathan is known for, From Grit to Great is a delightful treat for aspiring students, rockstar yuppies, and budding entrepreneurs looking for inspiration and motivation on “making it big”. It’s the book where business meets wit. Please buy the book too if you are interested in achieving success and/or supporting education because a percentage of the proceeds from the book sale will go to 4 educational organizations in Asia. Or please share this website with as many people as you can: 

https://www.indiegogo.com/projects/from-grit-to-great-by-jonathan-yabut

Y đức, trách nhiệm, an toàn cho bệnh nhân trong sản phụ khoa (Tài liệu dịch)

Y đức, trách nhiệm, an toàn cho bệnh nhân trong sản phụ khoa

Vấn đề y đức và luật pháp trong sản phụ khoa

Sinh viên nên có cách đánh giá về tầm quan trọng có tính luật pháp của giấy cam đoan và sự đồng ý của bệnh nhân.

Sinh viên nên định nghĩa được những nguyên tắc y đức cơ bản và áp dụng chúng cho những khó khăn trong lâm sàng khi thực hành sản phụ khoa.

Họ nên hiểu vai trò của bác sĩ sản phụ khoa như là những người giúp cải thiện sức khỏe người bệnh.

Trường hợp lâm sàng

Một cô luật sư 27 tuổi được chuyển đến bạn từ bác sĩ gia đình của cô ta. Người này đã cung cấp kế hoạch chăm sóc của khoa tổng quát bao gồm biện pháp ngừa thai từ lúc dậy thì. Cho đến thời gian gần đây, chăm sóc sức khỏe cho cô ta không có gì bàn cãi, nhưng trong 18 tháng qua, cô ta đi khám 5 lần, than phiền về huyết trắng có mùi hôi. Lần khám đầu tiên, Tricomonas vaginalis được chuẩn đoán và điều trị; kết quả âm tính cho những xét nghiệm khác về bệnh lan truyền qua đường tình dục. Bác sĩ gia đình tham vấn của bạn ghi nhận rằng: nói chuyện với cô ta về tiền sử hoạt động tình dục và tình dục an toàn được cô ta trả lời bằng thái độ rất kín đáo, anh ta nhận thấy hơi mất tính hợp tác khi khám bệnh. Cũng ghi nhận rằng cô ta mong ước không bàn luận thêm về chủ đề này. 4 lần khám kế tiếp đến cô ta đến bác sĩ gia đình với lời than phiền là dịch âm đạo ngày càng hôi nhiều hơn, bác sĩ cũng không có chẩn đoán lâm sàng nào. Người bệnh này ngày càng trở nên chán nản và yêu cầu 1 buổi tư vấn với 1 chuyên gia để có thể tìm thấy nhiễm trùng gây ra huyết trắng. Khi đi khám bệnh, có mặt bạn cùng với người chuyên gia, người bệnh nhân khăng khăng rằng có 1 vấn đề quan trọng mà cô ta mong muốn bạn giải quyết. Khác với những cuộc nói chuyện chi tiết và khá cụ thể về huyết trắng, cô ta thể hiện một cách mơ hồ và lẫn lộn, không hợp tác về tiền sử xã hội ngoại trừ cô ta đã xin phép nghĩ làm việc ở tòa án vì lí do không cụ thể. Cô ta bảo rằng, bạn nên dành thời gian điều trị huyết trắng hơn là hỏi chuyện không liên quan, vô ích.

Bệnh nhân và thầy thuốc của họ thỉnh thoảng nhận thấy rằng họ cũng đối diện với những khó khăn để chọn lựa và thực thi 1 quyết định xử trí lâm sàng, thậm chí khi có đủ thông tin từ việc khám bệnh để cung cấp 1 hoặc hơn 1 kế hoạch xử trí hợp lý. Khó khăn này có thể bao gồm vấn đề về y đức, đạo đức, kinh tế, tôn giáo cho bệnh nhân, gia đình bệnh nhân, thầy thuốc. Vấn đề có thể xuất phát từ những xung đột giữa luật pháp và chọn lựa, quyết định xử trí. Không may, áp lực mà thầy thuốc cảm nhận và hệ thống y tế đương đầu vì mối quan tâm về trách nhiệm trong khám chữa bệnh thường gây ra nhiều khó khăn hơn nữa. Trong 1 số trường hợp, khó khăn này có thể bao gồm vấn đề bỏ sót hoặc thực thi khám chữa bệnh, về sự an toàn cho bệnh nhân. Trong chương này, chúng tôi khảo sát 3 lĩnh vực này (y đức, trách nhiệm trong khám chữa bệnh và an toàn cho bệnh nhân) với mục đích giúp bệnh nhân, thầy thuốc, những người khác có liên quan trong những khó khăn này để đi đến chọn lựa xử trí tốt nhất.

Y đức

Thầy thuốc thường đương đầu khó khăn có tính y đức trong quá trình đưa ra quyết định lâm sàng (xử trí lâm sàng). Xử dụng chuẩn y đức được tổ chức trong những tình huống này rất có giá trị, đảm bảo rằng việc đánh giá tình huống và tạo quyết định có thể được tiến hành theo 1 bước có hệ thống, hơn là dựa vào cảm xúc, thiên vị cá nhân, áp lực xã hội của thầy thuốc. Một số hệ thống y đức có thể được ứng dụng ví dụ như bảng 3.1. Một trong những hệ thống này được ứng dụng nhiều nhất là y đức dựa vào nguyên tắc bởi vì tính đơn giản của nó, áp dụng dễ dàng vì cách viết dễ hiểu. Bảng 3.2 cho thấy 4 qui tắc về y đức dựa vào nguyên tắc có thể được áp dụng như thế nào.

Bảng 3.1: Cách tiếp cận hiện thời đối với tạo quyết định y đức

Cách tiếp cận Mô tả

Y đức dựa vào nguyên tắc Cách tiếp cận hệ thống dựa vào 4 nguyên tắc: Độc lập, có lợi, vô hại, công bằng
Y đức về chăm sóc Quyết định tốt từ những đặc điểm về nhân cách thầy thuốc như là đồng cảm, lòng trắc ẩn, tính trung thực, tình yêu, tình bè bạn cố hữu trong mối quan hệ giữa những cá nhân.
Y đức về nữ quyền Chăm sóc dựa vào tính công bằng khi chăm sóc cho nam và nữ, phụ nữ phải được điều trị và chăm sóc tương đương nam giới.
Y đức về cái chung Chăm sóc dựa vào những giá trị chung, mục tiêu chung, các ý tưởng của cả cộng đồng hơn là từng cá nhân.
Y đức dựa vào trường hợp cụ thể Chăm sóc dựa vào những trường hợp người bệnh trước đó và kiến thức khoa học thu được từ thực tế, cần nhớ rằng kiến thức có thể thay đổi bằng những thông tin mới.
Y đức dựa vào nhân cách Chăm sóc dựa vào nhân cách thầy thuốc được thực hiện dễ dàng nhờ vào một số đặc điểm của nhân cách như: bảo đảm tính công bằng, tin cậy, tính khí, sự thống nhất, dũng cảm, khiêm tốn, lòng trắc ẩn.

Bảng 3.2: Cách tiếp cận y đức dựa vào nguyên tắc để tạo quyết định lâm sàng.

Nguyên tắc y đức Mối quan tâm về y đức
Lợi ích
Trách nhiệm để tạo lợi ích cho bệnh nhân
Tính độc lập
Tôn trọng khả năng tự quyết định của bệnh nhân
Tránh gây hại cho bệnh nhân
Trách nhiệm: không tạo ra nguy hại hoặc tổn thương cho bệnh nhân
Công bằng
Đảm bảo cho bệnh nhân có những gì cần phải có
Chẩn đoán và điều trị dựa theo chứng cớ

Biết những gì bệnh nhân muốn

Tác động của điều trị lên cuộc sống của người bệnh

Sở thích của bệnh nhân, nhu cầu của xã hội, rào cản đối với điều tri do luật pháp chỉ định

Y đức dựa vào nguyên tắc

Xử trí lâm sàng dựa vào nguyên tắc, xem xét có hệ thống trường hợp lâm sàng dùng 4 nguyên tắc y đức. Tuy nhiên, Đoàn sản phụ khoa tin rằng, y đức dựa vào nguyên tắc không nên chi phối những phương pháp khác được mô tả trong bảng 3.2 và sử dụng nó đơn độc thì không đủ.

1/ Kính trọng tính tự chủ của bệnh nhân cho biết rằng: quyền cơ bản của 1 cá nhân để giữ quan điểm, chọn lựa, hành động dựa trên niềm tin của người ta, hoặc dựa trên giá trị độc lập với các giá trị, niềm tin từ thầy thuốc, hệ thống y tế, xã hội cũng nhưng không bị ảnh hưởng từ những chi phối kiểm soát bên ngoài và từ những hiểu biết hạn chế. Tôn trọng tính tự chủ tạo ra cơ sở đạo đức vững chắc trong quá trình viết cam đoan trong đó bệnh nhân, được cung cấp đầy đủ thông tin về bệnh tật của cô ta và phương pháp điều trị hiện có, tự do chọn lựa điều trị cụ thể hoặc không cần điều trị. Cố gắng áp đảo quyền tự do của bệnh nhân để thúc đẩy những gì mà thầy thuốc đã cảm nhận được xem là vấn đề mà người bệnh quan tâm nhất, người bệnh gọi là thầy thuốc gia trưởng, do đó vi phạm nguyên tắc độc lập của bệnh nhân. Độc lập không loại thầy thuốc ra khỏi việc khuyến cáo phương pháp điều trị dựa vào y học chứng cớ, dựa vào kinh nghiệm và đánh giá của thầy thuốc, song song với việc hiểu biết 1 cách rõ ràng rằng, thầy thuốc không mong chờ hoặc đòi hỏi bệnh nhân nghe theo khuyến cáo. Thay vào đó, điều này có thể được xem như là một yếu tố, là một phần của quá trình tạo quyết định của bệnh nhân.

2/ Lợi ích cho người bệnh là trách nhiệm để tăng cường sức khỏe bằng cách giúp người bệnh thực hiện quyết định chọn lựa xử trí bằng phẫu thuật hoặc nội khoa tốt nhất, theo nghĩa đen nghĩa là làm tốt. Đó là trách nhiệm của thầy thuốc luôn luôn hành động theo lợi ích của bệnh nhân. Trong việc cân bằng lợi ích với tính tự chủ của bệnh nhân, thầy thuốc nên xác định mối bận tâm nhất của người bệnh một cách khách quan.

3/ Không gây hại cho người bệnh xuất hiện từ quan điểm có lợi cho người bệnh, áp đặt trách nhiệm thầy thuốc không gây hại, gây ra hoặc cho phép tổn thương xảy ra cho bệnh nhân. Tôn chỉ được biết nhiều nhất (đầu tiên không làm hại) xuất phát từ nguyên tắc y đức này. Điều này cũng bao hàm trách nhiệm của thầy thuốc để duy trì khả năng khám chữa bệnh thông qua học tập, áp dụng, tăng cường kiến thức y học, kỹ năng cũng như nhấn mạnh và cải tạo bất cứ hành vi nào làm suy giảm khả năng của thầy thuốc trong thực hành, chẳng hạn như lạm dụng một thuốc nào đó. Hơn nữa, thầy thuốc nên tránh bất cứ phân biệt trên cơ sở về chủng tộc, màu da, tôn giáo, nguồn gốc của quốc gia, quan điểm chính trị, tình trạng tài chính hoặc bất cứ yếu tố nào khác, cũng như tránh bất cứ xung đột quyền lợi. Áp dụng nguyên tắc này bao gồm cân bằng giữa lợi ích và tác hại, cả hai tác hại do cố ý và tác hại có thể được tiên đoán có thể xảy ra mặc dù có ý tốt (ví dụ tác dụng phụ không mong muốn của thuốc hoặc là biến chứng của phẫu thuật).

4/ Công bằng là trách nhiệm của thầy thuốc để đáp lại bệnh nhân về cái gì mà họ phải có. Đây là phần phức tạp nhất của nguyên tắc y đức, một phần bởi vì vai trò của thầy thuốc trong việc phân bố nguồn nhân lực y tế hạn chế. Công bằng là trách nhiệm thầy thuốc phải đối xử mọi người 1 cách công bằng dù họ có khác hoặc giống theo tiêu chuẩn được chọn lựa nào đó. Mọi bệnh nhân nên được điều trị công bằng, trừ khi bằng chứng khoa học và lâm sàng chỉ ra bệnh nhân nào phù hợp với phương pháp điều trị cần quan tâm.
Các bước quản lý y đức trong lâm sàng

Dùng cách tiếp cận hệ thống theo trình tự đối với trường hợp lâm sàng khó khăn, dựa theo cơ sở y đức đã được chứng minh vững chắc có lợi cho bệnh nhân, cho gia đình họ, cho thầy thuốc, hệ thống y tế (bao gồm bệnh viện), xã hội. Một ví dụ về áp dụng này được tìm thấy trong Box 3.1

Nghiên cứu 1 trường hợp lâm sàng: 5 cách tiếp cận

Mặc dù một số cách tiếp cận về quyết định y đức, tất cả đều có 1 câu trả lời giống nhau, trong tình huống cần đưa ra quyết định, chúng tập trung vào những khía cạch khác nhau mặc dù có liên quan của một tình huống và một quyết định. Chẳng hạn như khi xem xét xem chúng nhấn mạnh đến khía cạnh can thiệp để bào thai có sức khỏe tốt như thế nào nếu bà mẹ không đồng ý với khuyến cáo trong khám chữa bệnh hoặc tham gia vào hoạt động có thể gây nguy hiểm cho bào thai.

Cách tiếp cận dựa theo nguyên tắc giúp tìm kiếm, xác định nguyên tắc và quy luật phù hợp cho từng trường hợp lâm sàng. Có thể bao gồm lợi ích- nguy hại cho cả hai, sản phụ và bào thai, công bằng cho 2 phía, tôn trọng quyết định tự chủ của sản phụ. Nguyên tắc này không nên áp dụng 1 cách máy móc. Nói chung, có thể mọi người không rõ sản phụ có quyết định độc lập hay không, và có thể có tranh cãi về sự cân bằng giữa lợi ích và nguy cơ từ can thiệp cho tất cả những người đánh cược cũng như nguyên tắc nào nên được ưu tiên trong trường hợp khó khăn này. Luật hành nghề và những lời dẫn giải có thể giúp hướng dẫn cách để giải quyết khó khăn này.
Cách tiếp cận y đức dựa vào phẩm giá tập trung vào quá trình hành động đối với phẩm giá nào sẽ quyết định bác sĩ sản phụ khoa. Chương trình hành động nào có thể đưa ra từ sự cảm thông? từ phương diện tôn trọng? và hơn nữa. Ngoài ra bác sĩ sản phụ khoa có thể nhận thấy nó rất hữu ích khi họ hỏi nhiều hơn nữa: Chương trình hành động nào có thể biểu đạt tốt nhất nhân cách của 1 thầy thuốc có y đức?

Y đức về khám chữa bệnh nên tập trung vào việc thực thi giá trị khám chữa bệnh trong mối quan hệ đặc biệt giữa sản phụ, bác sĩ sản phụ khoa và với thai nhi. Khi suy nghĩ cân nhắc, ai sử dụng cách tiếp cận này sẽ đối kháng lại quan điểm “nhìn nhận mối quan hệ với sản phụ và thai nhi có tính thù địch”, chấp nhận rằng hầu hết thời gian người phụ nữ dành cho bào thai có tính kiểu mẫu, mối quan tâm của bà mẹ và thai nhi là đồng điệu. Tuy nhiên nếu xung đột thật sự tồn tại, bác sĩ sản phụ khoa nên chống lại cảm nghĩ thiên vị bên này hoặc bên kia. Thay vào đó anh ta hoặc cô ta nên tìm giải pháp xác định và cân bằng trách nhiệm trong mối quan hệ đặc biệt này, xác định mục tiêu này trong bối cảnh của giá trị của sản phụ và mối quan tâm của họ, thay vì cụ thể hóa và cân bằng những nguyên tắc và những quyền có tính mơ hồ.

Lấy 1 ví dụ khi xem xét 1 trường hợp 1 sản phụ bị sinh non và từ chối nhập viện để nghỉ ngơi tuyệt đối hoặc dùng thuốc giảm co thắt tử cung, Harris kết hợp quan điểm chăm sóc người bệnh với quan điểm về nữ quyền để đưa ra một cái nhìn bao quát hơn là cách tiếp cận dựa trên nguyên tắc có thể sau đây:

Thầy thuốc nên tập trung chú ý của họ về mối quan hệ gia đình và xã hội chủ yếu, bối cảnh và ràng buộc có thể gây áp lực lên quyết định chọn lựa của sản phụ, chẳng hạn như nhu cầu chăm sóc những con tại nhà hoặc tiếp tục đi làm để hỗ trợ những thành viên khác trong gia đình; bất cứ kế hoạch trong đời chiếm hết thời gian, và nỗ lực để tìm giải pháp cho những ràng buộc, sức khỏe bào thai tốt khi sản phụ có sức khỏe tốt.

Như ví dụ đề cập, cách tiếp cận y đức cho nữ giới nên để tâm đến những vấn đề xã hội và những rào cản kiểm soát chọn lựa của sản phụ, quyết định cho những tình huống này, và tìm giải pháp để thay đổi bất cứ những gì có thể thay đổi được. Cũng nên xem xét về sự dính líu của bất cứ can thiệp nào khác có thể có kiểm soát hơn nữa lên chọn lựa và quyết định của sản phụ, chẳng hạn, bằng cách hạ thấp giá trị của sản phụ, với cái nhìn tiêu cực, xem sản phụ là 1 cái máy đẻ hoặc là lồng ấp con.

Cuối cùng cách tiếp cận dựa theo trường hợp lâm sàng, nên xem xét có bất cứ những trường hợp giống nhau tương đối góp phần tiên đoán cho trường hợp hiện tại. Chẳng hạn, bác sĩ sản phụ khoa có thể phân vân để tìm kiếm về y lệnh có tính luật pháp để chỉ định mổ lấy thai mà ông ta/ cô ta tin rằng sẽ tăng cơ hội sống sót cho đứa trẻ tương lai nhưng sản phụ tiếp tục từ chối. Trong việc xem xét cái gì cần làm, thầy thuốc có thể hỏi, như là 1 số tòa án đã hỏi, có 1 tiền lệ có lợi hay không trong việc thiết lập sự đồng thuận mà không màn đến người không chấp nhận phẫu thuật để đem lại lợi ích cho bên thứ 3, chẳng hạn như là lấy tạng để ghép.

Có 6 bước trong quá trình đưa ra quyết định

1/ Xác định người đưa ra quyết định.

Bước đầu tiên trong việc xử trí lâm sàng để trả lời câu hỏi: quyết định này là của ai? bệnh nhân được ám chỉ là người có khả năng để chọn trong số những giải pháp xử trí được chấp nhận trong y học dựa theo chứng cứ hoặc từ chối điều trị. Khả năng của bệnh nhân tùy thuộc vào hiểu biết của họ với thông tin hoặc chấp nhận hàm ý những thông tin này được trình bày và/ hoặc có thể thay đổi theo từng người.

Khả năng không nên nhầm với quyền thực thi khả năng. Quyền thực thi khả năng là một quyết định pháp lý hạn hẹp được tiến hành bởi nhân viên y tế với kiến thức uyên thâm trong quyết định của họ (bác sĩ tâm lý, bác sĩ tâm thần, những người khác), bởi luật sư, chánh án. Hiểu biết sự khác biệt giữa khả năng và khả năng tạo quyết định của bệnh nhân là quan trong trong những tình huống đưa ra quyết định lâm sàng khó khăn, nhiều cảm xúc. Nếu bệnh nhân được quyết định là không có khả năng về mặt pháp lý, hoặc nếu thầy thuốc tin rằng bệnh nhân không có khả năng đưa ra quyết định, người quyết định đại diện phải được chỉ định. Trong trường hợp không có mặt về giá trị pháp lý lâu dài, các thành viên trong gia đình phải được gọi đến để được chỉ định như là người đại diện. Trong 1 số tình huống, nhờ tòa án được để chỉ định người giám hộ. Người đưa ra quyết định đại diện nên cố gắng đưa ra quyết định mà bệnh nhân mong muốn, hoặc ngay cả khi không biết mong muốn của bệnh nhân; sẽ thúc đẩy mối quan tâm nhất của bệnh nhân. Trong trường hợp cấp cứu, thầy thuốc phải đảm nhận vai trò này trong 1 thời gian ngắn trước khi người đưa ra quyết định thích hợp được xác định. Trong bối cảnh sản khoa, sản phụ được xem như là người đưa ra quyết định phù hợp cho bào thai của chính họ.

2/ Thu thập dữ liệu càng khách quan càng tốt. Hội ý lẫn nhau thường có lợi để xúc tiến trong việc này.

3/ Xác định và đánh giá tất cả chọn lựa xử trí y tế thích hợp.

4/ Đánh giá có hệ thống các chọn lựa này. Sau khi loại bỏ những chọn lựa vi phạm y đức, chọn lựa còn lại phải được xem xét và xác định chọn lựa tốt nhất. Chân giá trị của bệnh nhân nói chung là xem xét quan trọng nhất khi xúc tiến chọn quyết định.

5/ Xác định những xung đột về y đức và lập ra thứ tự ưu tiên, sau đó chọn lựa cái gì có thể được cho là phù hợp nhất

6/ Đánh giá lại quyết định sau khi đã chọn lựa nó và theo dõi nó trong thực tế dựa trên những kết quả lâm sàng. Nếu xử trí điều trị không giải quyết được vấn đề 1 cách đầy đủ, phải tiến hành đánh giá lại tất cả những thông tin và tiến hành những kế hoạch điều trị khác. Những câu hỏi phù hợp ở thời điểm này bao gồm: quyết định có khả năng nhất đã được đưa ra chưa?, bài học nào được học từ buổi thảo luận và giải pháp của vấn đề là gì?

Sẽ có ý nghĩa cho từng bác sĩ khi họ tìm ra và nghĩ ra bảng hướng dẫn về chọn lựa quyết định để có thể được ứng dụng xuyên suốt khi đối mặt với những khó khăn về y đức. Đoàn bác sĩ sản phụ khoa và những tổ chức nghề nghiệp tương tự khác đã cho những bảng hướng dẫn mà chúng thường giúp thầy thuốc dễ dàng thực hiện công việc quan trọng này.

Tuy nhiên thỉnh thoảng điều trị bằng phẫu thuật hoặc nội khoa cho kết quả có hại và/hoặc không mong muốn. Cho thầy thuốc kết quả tốt nhất, hiểu biết thành thật việc gì đang diễn ra cho bệnh nhân và tại sao (cho gia đình của sản phụ và những người có trách nhiệm khác) là trách nhiệm y đức hiện hữu của thầy thuốc, chẳng hạn như ghi bệnh án rõ ràng về buổi trao đổi này. Khi bệnh nhân hoặc gia đình bệnh nhân hỏi về lời giải thích ghi trong bệnh án, nỗi ám ảnh về trách nhiệm trong khám chữa bệnh (thỉnh thoảng được cảm nhận sai như là biến cố do chăm sóc người bệnh không tốt) từ từ hiển hiện.

Trách nhiệm thầy thuốc trong khám chữa bệnh

Khi kết quả khám chữa bệnh được cảm nhận không tốt, hoạt động quy trách nhiệm (thưa kiện) có thể xảy ra. Những tình huống như vậy có thể phòng ngừa bằng phương cách tốt nhất là thực hành y học dựa theo chứng cớ, giao tiếp thành thật và thẳng thắn giữa bệnh nhân và thầy thuốc. Ghi hồ sơ bệnh án thích hợp rất quan trọng trong khám chữa bệnh.

Tờ cam kết

Đưa ra tờ cam kết thật sự là 1 sự đột phá, đó là một phần của quá trình chăm sóc người bệnh, mỗi ngày nên có cam kết giữa thầy thuốc với bệnh nhân. Nói 1 cách đơn giản, tờ cam kết bao gồm thầy thuốc báo cáo cho sản phụ về chọn lựa có sẵn để chăm sóc phòng ngừa và các vấn đề cụ thể khác. Quá trình cam kết thuộc trách nhiệm của thầy thuốc, không thể ủy nhiệm cho người khác. Thảo luận nên bao quát những phát hiện và thông tin mà hiện tại người ta biết cũng như những khảo sát khác được khuyến cáo, bao gồm chỉ định, nguy cơ, ưu điểm, những giải pháp thay thế. Bệnh nhân cũng nên ý thức rằng: cô ta quyền không chấp nhận điều trị. Nếu thầy thuốc muốn trợ giúp, 1 buổi tham vấn hoặc chuyển bệnh nhân đi có thể có hiệu quả. Qua tham vấn này, bệnh nhân có cơ hội để hỏi những điều mà thầy thuốc có thể trả lời đầy đủ. Quá trình này dàn trải hoạt động của thầy thuốc từ kê thuốc Aspirin chữa nhức đầu đến cuộc đại phẫu nào đó. Thực tế chứng minh, tờ cam kết có tầm quan trọng đặc biệt như 1 phần quyết định can thiệp phẫu thuật chính yếu, chẳng hạn như sinh đẻ và phẫu thuật. Ghi chép phù hợp bao gồm ký tờ cam kết theo đúng qui trình và bệnh nhân đồng ý với kế hoạch xử trí được đưa ra (hoặc không chấp nhận điều trị tại thời điểm đó). Bệnh nhân này, 1 nhân chứng, thường thường thầy thuốc kí vào tờ cam kết, mảnh giấy này được dán vào hồ sơ bệnh án. Một bản sao được đưa cho bệnh nhân.

Tuy nhiên thỉnh thoảng, bệnh nhân hoặc gia đình vẫn hỏi về quyết định phẫu thuật và kết quả điều trị. Trong trường hợp này, hoạt động thưa kiện trong khám chữa bệnh có thể diễn ra.

Hoạt động thưa kiện trong khám chữa bệnh

Hoạt động thưa kiện trong khám chữa bệnh có thể là nỗi sợ hãi ám ảnh và gây lo lắng cho thầy thuốc. Hiểu biết về các bước của hoạt động này là có lợi, ví dụ nhận biết rõ hệ thống phám luật hiện thời, 1 vụ kiện có thể xuất phát từ bệnh nhân hoặc gia đình họ bất chấp chất lượng khám chữa bệnh mà họ có được như thế nào. Người quản lý nguy cơ khám chữa bệnh hoặc quản lý hành nghề y dược, người tư vấn pháp luật là những ngườu quan trong để giúp thầy thuốc trong các vụ kiện. một số điều luật thay đổi không ngừng nhưng trong, 1 số trường hợp có 1 số điểm chung sau đây:

– Đơn thưa kiện, đó là 1 bản viết ngắn gọn, thông thường thầy thuốc đủ kiến thức về vấn đề của hoạt động này, nói rằng có đủ thông tin để hỗ trợ hoạt động thưa kiện trong khám chữa bệnh, phải được tòa án chấp nhận bởi nhằm mục đích cho vụ kiện diễn ra.

– Xác định nguyên cáo, (bệnh nhân hoặc thỉnh thoảng gia đình của bệnh nhân) và bị cáo (thầy thuốc, bệnh viện, hệ thống y tế có liên quan trong trường hợp này).
– Hồ sơ của nguyên cáo đưa ra lời tố cáo cụ thể cho những gì mà nguyên cáo nghĩ là sai và tại sao.
– Người hòa giải cho 2 phía yêu cầu đưa hồ sơ bệnh án và bất cứ những thông tin liên quan khác (xét nghiệm, hóa đơn, những ghi nhận về chi phí, 1 số giao dịch). Thông tin là đặc quyền (nghĩa là không thể sử dụng, được miễn trừ) chẳng hạn như nội dung trao đổi với người hòa giải.
– Nhân chứng có kiến thức trong ngành được 2 bên thuê. Họ được mong chờ để nói lên kiến thức y học liên quan đến trường hợp này. Quan điểm của những người này, về mặt lý thuyết đơn thuần, dựa vào thông tin y học và kiến thức về vụ kiện. Họ không bị chi phối bởi bất cứ ai tiếp xúc với họ hoặc được số tiền họ nhận cho dịch vụ của họ. Trong thực tế, những chuyên gia y học thường là người ủng hộ cho thân chủ của họ, mà thân chủ họ có luật sư đại diện, chính luật sư là người thuê chuyên gia này. Ngày nay, nhiều tổ chức chuyên nghiệp đưa ra nhiều bảng hướng dẫn cho các thành viên. Đoàn bác sĩ sản phụ khoa cũng xuất bản những bảng hướng dẫn.
– Phân biệt giữa kết quả không mong muốn và sai lầm trong khám chữa bệnh.

Kết quả không mong muốn trong khám chữa bệnh được định nghĩa như là kết quả xảy ra không như ý bất chấp chất lượng chăm sóc áp dụng cho người bệnh. Đối với kết quả được xem như là sai lầm trong khám chữa bệnh, kết quả này phải được chứng minh là do sự thờ ơ với bệnh nhân (chăm sóc bệnh nhân với kết quả thấp hơn tiêu chuẩn chăm sóc được mong chờ). Sai lầm trong khám chữa bệnh khác với kết quả khám chữa bệnh không mong muốn khác nhau bằng việc chứng minh có sự thiếu trách nhiệm với bệnh nhân.

Sau khi xem những thông tin có sẵn và quan điểm của những nhân chứng có kiến thức y học, người hòa giải cho nguyên cáo và bị cáo có 3 chọn lựa chính: 1 là đồng ý về những gì đã được thảo luận, bồi hoàn tiền cụ thể cho nguyên cáo, thường không thông báo cho bên ngoài biết; 2 là đồng ý rằng trường hợp này cho rằng sai lầm khám chữa bệnh là không chính xác, kết quả là rút lại lời tố cáo, thường không thông báo cho bên ngoài biết; 3 là bất đồng về việc có hay không sai lầm trong điều trị, kết quả là vấn đề được đưa ra tòa và vụ kiện sẽ diễn ra.

Có nhiều bảng hướng dẫn dựa trên chứng cớ trong chăm sóc bệnh nhân không được xem như tiêu chuẩn trong khám chữa bệnh.

An toàn cho người bệnh

Trong bảng báo cáo của viện y học: “sai lầm mới là con người, xây dựng 1 hệ thống y tế an toàn vào năm 2000”, an toàn cho người bệnh và sai lầm trong khám chữa bệnh được ghi nhận đóng vai trò quan trọng gây tổn thương và chết chóc cho bệnh nhân. Hậu quả, an toàn người bệnh và giảm thiểu sai lầm trở thành ý nghĩa tột bực trong hệ thống y tế và trong hành nghề khám chữa bệnh.

Định nghĩa về an toàn cho bệnh nhân

Có nhiều định nghĩa được lưu hành rộng rãi về an toàn cho bệnh nhân. Các tổ chức về an toàn khám chữa bệnh hàng đầu và định nghĩa của họ được nêu ra dưới đây.

– Viện y học: không gây chấn thương vô ý, đảm bảo an toàn người bệnh, bao gồm lập ra 1 hệ thống vận hành và những quá trình giảm thiểu khả năng xảy ra sai lầm, tăng cao khả năng can thiệp xử trí khi chúng xảy ra.

– Quỹ an toàn bệnh nhân quốc gia: để tránh, phòng ngừa, giảm thiểu những kết quả có hại, những chấn thương xuất phát từ quá trình khám chữa bệnh, bao gồm sai lầm, lệch lạc, tai nạn. An toàn cho bệnh nhân xuất phát từ sự tương tác của những thành phần này.
– Cơ quan khảo sát khám chữa bệnh và chất lượng khám chữa bệnh, diễn đàn về chất lượng khám chữa bệnh chquốc gia: đây 1 quá trình nhiều bậc mà khi áp dụng vào thực tế sẽ giảm được xác xuất xảy ra những biến cố nguy hại khi được khám và điều trị 1 số bệnh và 1 số phẫu thuật trong hệ thống y tế. Mặc dù dường như có nhiều định nghĩa về an toàn cho người bệnh, 1 số chủ đề đã xuất hiện. đây là hệ thống vận hành, xử lý, phân tầng nhằm giảm thiểu khả năng xảy ra sai lầm. các yếu tố này hòa hợp với nhau tạo ra thói quen làm việc an toàn.” Có theo quen làm việc an toàn cần hiểu biết về giá trị, niềm tin, phong tục về khía cạnh quan trọng trong một tổ chức và thái độ và hành vi có liên quan với an toàn cho người bệnh là phù hợp và được mong mỏi.

GIẢM THIỂU SAI LẦM BẰNG CÁCH XEM TRỌNG VẤN ĐỀ AN TOÀN NGƯỜI BỆNH
– Vấn đề và những khía cạnh chủ yếu về an toàn cho người bệnh và giảm thiểu rủi ro cho họ như sau đây:
– sai lầm về kê đơn
-Sai lầm về phẫu thuật
-Cải thiện trong giao tiếp với các thành viện trong ekip làm việc, đặc biệc khi giao ban
– cải thiện trong giao tiếp với người bệnh
-Sai làm về dùng thuốc
– Hầu hết sai lầm trong khám chữa bệnh có liên quan đến vấn đề sử dụng thuốc. Chữ viết xấu, khó đọc, viết tắt không chuẩn, không kiểm tra dị ứng hoặc tương tác thuốc, y lệnh miệng, dùng số 0 đi sau chấm thập phân khi cho thuốc là tất cả các yếu tố góp phần cho sai lầm về dùng thuốc. Mặc dù, hệ thống nhập y lệnh của thầy thuốc đã được vi tính hóa có thể giảm một số sai lầm, khi bắt buộc cẩn trọng đối với những vấn đề trên đây khi thầy thuốc kê toa giúp giảm sai lâm về sử dụng thuốc.
– Sai lầm về phẫu thuật
– Hiếm xảy ra so với sai lầm về sử dụng thuốc, sai lầm do phẫu thuật thường nguy hiểm hơn. Sai lầm bao gồm mổ sai hoặc thủ thuật sai, mổ sai vị trí trên cơ thể người bệnh, mổ lầm bệnh nhân. Quá trình kiểm tra trước mổ theo chuẩn và nghiêm túc với sự tham gia của người bệnh được nghĩ ra để làm giảm sai lầm phẫu thuật. Ngay khi đưa bệnh nhân đến phòng mổ, tất cả nhân viên phòng mổ tham gia tuần tự để khẳng định các khía cạnh quan trọng của trường hợp mổ này. An toàn cho người bệnh cũng được đề cập về việc đếm chính xác dụng cụ mổ, kim, bong gạc khi mổ xong.

Cải thiện giao tiếp giữa các thành viên nhóm làm việc lúc giao ban.

Giao ban, hoặc chuyển nhiệm vụ sang cho nhóm khác là chuyển thông tin bệnh nhân từ 1 người, 1 nhóm có trách nhiệm cho 1 người, 1 nhóm khác. Giao ban nên năng động với cơ hội cho nhóm hoặc người nhận trách nhiệm đặt câu hỏi và làm sáng tỏ những điểm để chăm sóc bệnh nhân. Dùng thuật ngữ chuyên ngành theo chuẩn tránh được sai lầm trong giao tiếp.

Bối cảnh để giao ban phải không bị quấy rầy để tăng cường trò chuyện và giảm gián đoạn. Bí mật của bệnh nhân nên được giữ kín và chỉ những gì liên quan đến chăm sóc bệnh nhân nên được riêng tư để bảo vệ thông tin về bệnh tật.

Thứ bậc của nhóm chăm sóc bệnh nhân, đặc biệt trong môi trường giảng dạy cũng có thể can thiệp vào quá trình chuyển giao thông tin quan trọng. Mỗi thành viên của nhóm điều trị có mặt nên được khuyến khích tham gia. Phương pháp giao tiếp có thể là rào cản quan trọng đối với chuyển giao hiệu quả những thông tin quan trọng. Những dạng giao tiếp theo cấu trúc như là kỹ thuật giới thiệu đánh giá nền tảng tình huống nên được xem xét.

Chú ý nhiều đến nhiều mặt của buổi chuyển giao bệnh nhân là quan trọng đối với sự phát triển văn hóa an toàn cho người bệnh.
Cải thiện giao tiếp với bệnh nhân

Thiếp lập mối quan hệ gần gũi và tạo ra 1 buổi nói chuyện ý nghĩa là quan trọng đối với mối quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân, cải thiện giao tiếp với bệnh nhân, lắng nghe mối quan tâm của họ, xúc tiến mối quan hệ chủ động nên là trọng tâm của bất cứ chiến lược an toàn cho người bệnh. Nhân viên y tế nên nói chậm; dùng ngôn ngữ bình dân; và không chỉ cho phép mà còn khuyến khích bệnh nhân hỏi.

Tờ cam đoan là 1 quá trình giao tiếp, không đơn thuần là mảnh giấy hoặc tờ giấy có chữ ký. Với tờ cam đoan bệnh nhân nên hiểu biết chuẩn đoán của cô ta, điều trị được khuyến cáo, biến chứng có thể xảy ra, chọn lựa điều trị. Trong thực tế, tạo ra quyết định lâm sàng là 1 sự liên tục với thầy thuốc đi đầu buổi thảo luận cho đến sau cùng và người bệnh chọn quyết định lúc kết thúc.

Thầy thuốc cần thông báo bệnh nhân kết quả xét nghiệm sẽ được trao đổi như thế nào, trong bối cảnh ngoại trú và nội trú. Kết quả xét nghiệm cho ra những chiến lược được nghĩ ra cho từng khoa và có thể bao gồm các sổ nhật ký hoặc những lời nhắc nhở trong máy vi tính. Mục đích nên để trao đổi mỗi kết quả xét nghiệm cho từng bệnh nhân trên cơ sở chọn trước khi bệnh nhân nhập viện, thầy thuốc bắt buộc dùng hệ thống thông tin bệnh viện và thông báo bệnh nhân về kết quả và ý nghĩa của chúng khi chúng có sẵn.

Cải thiện giao tiếp với bệnh nhân giúp tăng cường mối quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân, để tăng mức độ thỏa mãn của người bệnh, tăng độ chính xác của chuẩn đoán, tăng sự tuân thủ với các khuyến cáo điều trị, cải thiện chất lượng chăm sóc người bệnh.

Theo dõi lâm sàng ngoại trú

Lúc khám bệnh nhân lần đầu, bạn quyết định rằng cô ta không dùng các sản phẩm vệ sinh âm đạo phụ nữ, không thay đổi hóa mỹ phẩm khi tắm bao gồm xà bông, không có dị ứng. Tiền sử về bệnh tật là không có, bao gồm là đái tháo đường. Khám vùng chậu không thấy huyết trắng, sang thương…. Bạn tiến hành 1 số xét nghiệm tầm soát và chuẩn đoán. Lúc cô ta tái khám, bạn chú ý rằng tất cả xét nghiệm đều bình thường. Một lần nữa cô ta than phiền rằng tiếp tục có huyết trắng. Bạn khám vùng chậu lại với các dung dịch thì cũng không có phát hiện gì. Bởi vì phải có sự phối hợp của các triệu chứng tái phát liên quan đến huyết trắng có mùi hôi chưa được chuẩn đoán nguyên với khả năng bị lạm dụng tình dục, hoặc thậm chí có thể bị bạo hành tình dục, bạn sử dụng kỹ năng giao tiếp thấu cảm tốt nhất để gợi ra vấn đề này hơn nữa. Lúc đầu, cô ta từ chối, nhắc nhở bạn về quyền hợp pháp của cô ta và sự vi phạm của bạn trong việc xúc tiến đưa ra những câu hỏi phi lý nữa. Mặc dù bạn ý thức rằng đây là một lời đề nghị đanh thép là hoàn toàn tương thích với quyền độc lập về y đức của cô ta. Bạn đồng thời ý thức được trách nhiệm về quyền lợi có tính y đức, hiểu về mối nguy hại ngày càng nhiều nếu không nhận ra 1 lần hoặc nhiều lần bị bạo hành tình dục. Cô ta miễn cưỡng cho phép người tư vấn ngay phòng làm việc của bạn tham gia vào cuộc nói chuyện với bạn và cuối cùng, cô ta tiết lộ bạo hành tình dục từ người làm cùng phòng trước đó 3 ngày tại 1 cuộc vui trước khi cô ta đi khám lần đầu tại bác sĩ gia đình. Trichomonas vaginalis được phân lập. Cô ta khóc và nói rằng không có ai bạo hành bởi vì cô ta xấu hổ là không sử dụng những lời khuyến cáo trước đó để ngăn ngừa cuộc bạo hành. Cô ta tiếp tục cam đoan rằng bạn không tìm được nguyên nhân nhiễm trùng mà cô ta biết nó đang hiện diện. Bạn và nhóm nhân viên ngay lập tức bắt đầu điều trị cô ta và nhận ra đây là hội chứng chấn thương do hiếp dâm, an ủi cô ta và nói rằng đó không phải là lỗi và giúp cô ta điều trị vấn đề này. Bạn nói rằng sẽ luôn bên cạnh với cô ta và sắp xếp lần theo dõi kế tiếp; với sự hỗ trợ này, cô ta đồng ý khám ngay để điều trị về bị hiếp dâm, nhân viên sắp xếp lần khám bệnh vào cuối ngày. Bạn cũng được phép tiết lộ thông tin này cho nhóm điều trị chấn thương do hiếp dâm và cũng thông báo với bác sĩ gia đình của cô ta. Hơn nữa, cô ta đồng ý là cần báo cảnh sát, điều này bạn cũng biết và nó sẽ là 1 phần của lần khám đầu tiên cho cô ta ở trung tâm điều trị chấn thương. Trong khi vẫn còn tâm trạng bấn loạn, bệnh nhân này cũng nói ra 1 số hi vọng cho tương lai, ghi nhận là có quá nhiều người sẵn sàng giúp đỡ mà không có ai đánh giá về phẩm giá của bệnh nhân này.

BS Nguyễn Văn Học

Có thể phòng tránh ung thư được không?

Cho đến nay, không có một giải pháp chắc chắn nào để phòng tránh ung thư. Tuy vậy, vẫn có những điều bạn có thể thực hiện để làm giảm nguy cơ mắc ung thư.

Ung thư có lây lan không?

Trong quá khứ, người ta thường giữ khoảng cách với các bệnh nhân ung thư vì họ sợ rằng bản thân có thể bị lây bệnh. Nhưng sự thật là ung thư không giống cúm hay cảm lạnh! Bạn không thể bị lây ung thư qua việc ở gần hay chạm vào cơ thể người bệnh. Bởi thế, đừng lo lắng khi tiếp xúc với một người bị ung thư và nên biết rằng họ rất cần sự hỗ trợ và động viên từ gia đình và bạn bè.

Có thể phòng tránh ung thư không?

Cho đến nay, không có một giải pháp chắc chắn nào để phòng tránh ung thư cả. Tuy vậy, vẫn có những điều bạn có thể thực hiện để làm giảm nguy cơ mắc ung thư.

Thuốc lá

Nhiều ung thư có thể được phòng tránh nếu chúng ta không hút thuốc lá.

Thuốc lá tàn phá gần như mọi cơ quan trong cơ thể con người và chiếm khoảng 30% tất cả các trường hợp tử vong do ung thư. Thuốc lá điếu, xì gà, tẩu thuốc và những sản phẩm thuốc lá nhai (không khói) đều có thể gây ung thư và không nên sử dụng. Người hay hút thuốc lá nên cố gắng từ bỏ nó! Những nghiên cứu cho thấy một cách rõ ràng là những người đã bỏ thuốc mắc ung thư ít hơn những người vẫn tiếp tục hút.

Tốt nhất là không bao giờ dùng thuốc lá và tránh xa hút thuốc lá thụ động!

Thức uống có cồn

Uống rượu cũng liên quan đến việc gia tăng nguy cơ mắc một vài loại ung thư.

Một số người nghĩ rằng có một vài loại rượu an toàn hơn các loại khác. Nhưng cồn (ethanol) là thành phần của rượu được tìm thấy trong tất cả các thức uống có cồn, dù cho chúng là bia, rượu vang hay rượu mạnh chưng cất. Nhìn tổng thể, lượng thức uống có cồn được tích lũy theo thời gian dường như mới là yếu tố quan trọng nhất làm tăng nguy cơ ung thư, chứ không phải là loại thức uống.

Nếu bạn uống rượu, hãy giới hạn lượng uống vào không quá 2 ly mỗi ngày đối với đàn ông và 1 ly mỗi ngày đối với phụ nữ. Điều này có thể giúp bạn hạn chế nguy cơ mắc ung thư.

Uống rượu và hút thuốc

Vừa sử dụng thức uống có cồn vừa hút thuốc lá làm tăng nguy cơ ung thư họng miệng, thanh quản, thực quản cao hơn nhiều so với tác động riêng lẻ của chỉ uống rượu hoặc chỉ hút thuốc lá.
 Lối sống giúp chúng ta phòng tránh ung thư

Tia tử ngoại (UV) và ánh nắng mặt trời

Bạn có thể làm giảm nguy cơ mắc ung thư da bằng cách:

– Tránh ở ngoài nắng trong khoảng thời gian từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều

– Đội nón, mặc áo khoác, đeo kính mát khi hoạt động ngoài trời nắng

– Sử dụng kem chống nắng với SPF (sun protection factor, yếu tố bảo vệ da khỏi tác hại của ánh sáng mặt trời)  từ 15 trở lên bởi vì các hoạt chất trong kem chống nắng có thể “khóa” các tia tử ngoại lại, không cho chúng cơ hội tiếp xúc gây bỏng và tổn thương da (từ đó tăng nguy cơ mắc ung thư da). Kem chống nắng tốt nhất có thể “khóa” cả tia cực tím A và B (UVA, UVB). Trong đó, UVB là tia cực tím có bước sóng từ 315 đến 280 nm (gây bỏng da); UVA có bước song từ 380 đến 315 nm (gây ra các thương tổn khác và không gây bỏng da).

– Không sử dụng giường phát tia cực tím hoặc đèn mặt trời để làm sạm da

Chế độ ăn uống

Chế độ ăn uống có liên quan đến một số loại ung thư, nhưng nguyên nhân chính xác vẫn chưa được biết rõ. Tuy nhiên, một số thông tin chỉ ra rằng thực hiện chế độ ăn uống dưới đây có thể làm giảm nguy cơ ung thư:

– Ăn nhiều rau và trái cây tươi (ít nhất 2.5 chén mỗi ngày)

– Sử dụng hạt toàn phần (hạt thô) hơn là hạt tinh và đường tinh luyện

-Hạn chế thịt đỏ (bò, heo, cừu)

– Hạn chế thịt chế biến sẵn

– Ăn lượng thức ăn giúp chúng ta đạt tới và duy trì ở mức cân nặng tốt cho sức khỏe

– Hạn chế thức uống có cồn còn tối đa 1 ly mỗi ngày đối với phụ nữ và tối đa 2 ly mỗi ngày đối với đàn ông

Tiêm chủng giúp giảm nguy cơ ung thư

Chúng ta biết rằng một số ung thư có nguồn gốc từ nguyên nhân truyền nhiễm trước đó, phần lớn là do virus. Loại virus gây ung thư được biết đến nhiều là HPV, liên quan đến ung thư cổ tử cung, ung thư hậu môn, một số ung thư sinh dục, ung thư đầu và cổ. Có 2 vaccine giúp phòng ngừa nhiễm HPV, từ đó ngăn ngừa nguy cơ ung thư gây ra do HPV.
Tuy nhiên, hầu hết người trưởng thành đều đã nhiễm HPV, và vaccine chưa được chứng minh là có thể giúp những người này ngăn ngừa ung thư. Vì thế, những người trẻ chưa quan hệ tình dục có thể hạn chế nguy cơ bị ung thư trong tương lai nếu họ tiêm 1 trong 2 vaccine trước khi phơi nhiễm với virus này.
Hiệp hội ung thư Hoa Kì khuyến cáo tiêm vaccine ngừa HPV cho trẻ em gái từ 11, 12 tuổi, nhưng trẻ em cả trai và gái vẫn có thể được tiêm vaccine từ năm 9 tuổi.

Phát hiện sớm

Để phát hiện sớm ung thư (khi còn ở giai đoạn đầu và trước khi nó di căn), người trưởng thành nên làm các xét nghiệm thường quy được gọi là các xét nghiệm tầm soát. Những xét nghiệm này giúp bác sĩ phát hiện những ung thư phổ biến trước khi chúng gây ra các triệu chứng lâm sàng.
Hãy hỏi bác sĩ bạn nên làm xét nghiệm tầm soát nào. Nếu ung thư được phát hiện sớm, việc điều trị có thể dễ dàng hơn. Thời gian sống cũng kéo dài hơn ở những bệnh nhân phát hiện sớm ung thư.

Theo cancer.org (Hiệp hội Ung thư học Hoa Kỳ)

Soạn dịch và chú giải: Online Research Club

Trần Diễm Nghi (Khoa Y – ĐH Quốc gia TP.HCM), Nguyễn Phước Long (Biomedera Education), Nguyễn Hoàng Anh (Khoa Y – ĐH Quốc gia TP.HCM), Nguyễn Tiến Huy (Khoa Y- Đại học Nagasaki, Nhật Bản).

Bài của các thành viên DSYS đăng trên Motthegioi: http://motthegioi.vn/khoa-hoc-cong-nghe/bai-3-co-the-phong-tranh-ung-thu-duoc-khong-95377.html

Hướng dẫn học online cùng Coursera.org (MOOC) – Biomedera Education

Hướng dẫn học online cùng Coursera.org – Biomedera Education

Coursera cũng là một nền tảng MOOC rất hay với số lượng khóa học lớn thuộc nhiều lĩnh vực từ Khoa học đến Xã hội và cả Y Sinh học. Các bạn hãy xem video sau để biết cách học với Coursera cùng Biomedera Education nhé!

Hãy tải phần mềm học tiếng Pháp miễn phí tại đây.

Mọi liên hệ nhu cầu học tập, hợp tác sản xuất video giáo dục cũng như góp ý xin gửi về:
biomedera.edu@gmail.com

p/s: Best view at 1080p

Biomedera – Aspiration of Knowledge

Channel:
https://www.youtube.com/BiomederaEducation

Kỉ nguyên Y Sinh học – Biomedera’s channel

Chúng tôi không thể trình bày chính xác hoàn toàn sự thật trong các video này. Do vậy mong rằng các bạn có thể sử dụng sự tinh tế của mình khi xem cơ hồ nắm bắt được tri thức!

Follow us:

Fb: http://www.facebook.com/Biomedera

Website: http://www.biomedera.com
http://www.docsachysinh.com

Hãy ấn Like và Subcribe để theo dõi những video mới nhất của chúng tôi nhé!

Vui học tiếng Pháp – Phần mềm học tiếng Pháp pháp cho mọi người

Vừa qua chúng tôi đã giới thiệu một phần mềm học tiếng Pháp mới trên nền tảng Android mang tên “Vui học tiếng Pháp” với ý tưởng mang tiếng Pháp đến gần hơn với mọi người.

Ngoài ra, chương trình còn cung cấp thêm đường link dẫn đến trang www.anhvanykhoa.com để mọi người có thể cập nhật kiến thức Y Khoa phổ thông một cách chính xác và tiện lợi nhất (không phải dùng phần mềm của bên thứ 3).

Hy vọng rằng phần mềm này sẽ giúp ích cho các bạn trong quá trình học.

Link download “Vui học tiếng Pháp”:

https://play.google.com/store/apps/details?id=com.tiengphap.biomedera&hl=en

Hình ảnh minh họa:

Screenshot_2014-02-26-19-00-32

Screenshot_2014-02-26-19-26-37

 

Lời giới thiệu:

 

Đây là phần mềm giúp mọi người có thể học và ôn luyện tiếng Pháp một cách dễ dàng. Chương trình được xây dựng dưới sự hướng dẫn của giáo viên chuyên dạy tiếng Pháp với hơn 20 năm kinh nghiệm.

Tác giả mong nhận được sự góp ý của các bạn!

Chúc các bạn học tập vui vẻ.

Biomedera Education

Ion kim loại, sự gấp nếp và trạng thái tồn tại của protein

Phùng Trung Hùng – Nguyễn Phước Long

Sự tương tác hết sức phức tạp giữa các hợp chất hữu cơ (protein, đường, lipid) và các hợp chất vô cơ (ion kim loại, phi kim) là cơ sở cơ bản nhất để tạo lập nên sự sống. Hiện nay, chúng ta đã biết ít nhất 13 kim loại thiết yếu cho sự sống của cả thực vật và động vật. Trong đó, sodium – potassium – magnesium – calcium có vai trò lớn nhất, chiếm 1-2% trọng lượng cơ thể, gọi là các nguyên tố kim loại đại lượng. 9 kim loại khác là những kim loại thuộc nhóm chuyển tiếp d của bản tuần hoàn, còn được gọi là nguyên tố kim loại vi lượng vì chỉ chiếm tổng cộng 0,01% trọng lượng cơ thể: Vanadium, Chromium, Molbydenum, Manganese, Sắt (quan trọng nhất, 4-5 grams), Cobalt, Nickel, Đồng, Zince.

Nồng độ kim loại trong tế bào được điều hòa rất chặt chẽ và luôn ở nồng độ tối ưu, vì nồng độ quá cao hay quá thấp đều có ảnh hưởng gây chết tế bào và cơ thể. Nhờ đặt tính này, khi các kim loại kết hợp với protein, chúng tạo ra vô số các chức năng chuyên biệt cần thiết cho sự sống.

Hình 8.1: Vùng hoạt động của ribozyme được hình thành khi RNA ở dạng cấu trúc hairpin (chuỗi RNA đơn tạo thành chuỗi “kép” nhờ sự bắt cặp giữa các base purine và pyrimidine theo qui tắc bổ sung). Liên kết phosphate-ester có khả năng đứt gãy nằm ở “sườn” của guanine 8 (G8) và Adenine (A38) – được làm bền bởi liên kết hydrogen. Cấu trúc được biểu diễn ở đây là hình dạng lập thể ở dạng muối của Vanadium – nguyên tố trung tâm.

Cho tới nay người ta đã biết có khoảng 30% protein và 40% enzyme trong tế bào có chứa ít nhất một nguyên tố kim loại. Các amino acid thường đóng vai trò là ligand của các nguyên tố kim loại trong protein là thiolates của cysteines, imidazoles của histidines, carboxylate của glutamate và aspartate, phenolate của tyrosine. Ví dụ, nhánh bên của γ-carboxyglutamate thường gắn với ion calcium. Cần biết rằng, mỗi kim loại có hoạt tính như một acid Lewis, có thể kết hợp với nhiều ligands và chịu sự chi phối mạnh mẽ của các hiệu ứng hóa học. Như ta đã biết, trạng thái ion hóa của kim loại quyết định số phối trí và dạng hình học của nó; tuy nhiên, trong hệ thống sinh học, sự bền về mặt năng lượng của ion kim loại còn phải kể đến độ tương thích của nó với phân tử protein mà nó gắn kết để tạo metalloprotein. Vì vậy, các nguyên lý nhiệt động lực học cần phải được xem xét kĩ lưỡng hơn.

Hình 8.2: γ-carbooxyglutamate và các vị trí gắn Calcium của nó.

Mỗi kim loại có một tính chất hóa học riêng. Vì lý do đó, các kim loại khác nhau tham gia vào các phân loại chức năng sinh học khác nhau, nhưng vẫn có sự trùng lấp. Ví dụ, sắt và đồng là các kim loại có hoạt tính oxi hóa khử do vậy thường có mặt trong các phản ứng của chuỗi chuyền điện tử, các quá trình dự trữ và vận chuyển oxygen bởi các protein tương ứng (hemoglobin, myoglobin và hemocyanin). Ngược lại với sắt và đồng, zinc là một trung tâm siêu acid (superacid center – có hoạt tính acid mạnh hơn dung dịch acid sulfuric 100%) trong một số loại metalloenzymes, kích hoạt sự thủy phân và phân cắt nhiều liên kết hóa học. Tiêu biểu cho nhóm này là carboxypeptidases, carbonic anhydrase và alcohol dehydrogenase. Zinc còn đôi khi có vai trò cấu trúc trong protein (ví dụ, superoxide dismutase và zinc finger motifs), gần đây người ta còn thấy rằng zinc có tác động đến quá trình phiên mã thông qua protein Glut4. Các nguyên tố kim loại vi lượng khác thường là thành phần của các metalloenzymes. Ví dụ:

–          Manganese là một cofactor của các superoxide dismutase trong ti thể, phosphatase vô cơ,…

–          Nickel có mặt trong urease và một vài hydrogenase.

–          Mobydenum và Vanadium được tìm thấy trong nitrogenase (cùng với ion sulfur và sắt).

Hình 8.3: Oxygen gắn kết với Hemerythrin và các thông số cơ bản.

Mặc dù cấu trúc của các metalloprotein được hiểu biết rõ ràng, các lộ trình sinh tổng hợp nối kết kim loại và gấp nếp vẫn chưa được nghiên cứu nhiều. Vào năm 2011, Feng Gai và các đồng nghiệp đã tìm ra phương pháp để quan sát trực tiếp quá trình gấp nếp, chúng ta có thể hi vọng trong tương lai, vấn đề này sẽ được sáng tỏ.

Ái tính đối với kim loại của protein cũng là một vấn đề phức tạp. Người ta không biết chính xác bằng cách nào tế bào đồng thời tồn tại các protein liên kết yếu với kim loại và các protein liên kết mạnh với kim loại khi mà về logic nhiệt động học, các liên kết mạnh sẽ có ưu thế hơn rất nhiều. Có 2 giả thuyết để giải thích cho câu hỏi trên:

–          Protein gấp nếp chồng chéo quanh các vị trí gắn kết kim loại của nó để “bảo vệ” kim loại mà nó gắn kết.

–          Giả thuyết được chấp nhận nhiều hơn là sự gắn kim loại vào protein được kiểm soát rất chặt chẽ bởi các protein chuyên biệt (ví dụ, đồng chaperones) hoặc không chuyên biệt (ví dụ, ferrochelatase) của hệ thống vận chuyển (protein-based delivery system).

Đọc toàn bộ bài viết tại đây.

Có nên ngưng chích ngừa bệnh viêm gan siêu vi B không?

Với tư cách một thầy thuốc, tôi đã xuất hiện nhiều lần trên các phương tiện thông tin đại chúng để nói về các bệnh viêm gan B, và C. Trong đó, tôi đã đề cập đến chương trình chích ngừa bệnh viêm gan siêu vi B (VGSV B).

Một trong ba gia đình đau đớn vì mất con sau khi tiêm ngừa vắcxin VGSV B tại bệnh viện Hướng Hoá, Quảng Trị. Ảnh: CTV

Hôm nay, khi tin tức đang tràn ngập trên báo chí, tivi về việc ba trẻ sơ sinh xấu số ở bệnh viện Hướng Hoá, Quảng Trị bị tử vong ngay sau khi được chích ngừa bệnh VGSV B. Vắcxin này còn hạn dùng đến năm 2015, do công ty Vắcxin sinh phẩm số 1 (Vabiotech) thuộc bộ Y tế cung cấp. Theo trang web của công ty (http://vabiotech.com.vn/?act=info&id=8) vắcxin này đã “đoạt giải nhì VIFOTECH 1995, công trình đoạt giải nhì VIFOTECH 1995, giải thưởng KOVALEVSKAIA 1999, huy chương vàng hội chợ Vì tuần lễ xanh quốc tế, sản phẩm được chứng nhận đạt tiêu chuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn quốc tế”.

Bên cạnh những giải thưởng khoa học đó, lần đầu tiên, y giới Việt Nam có được bằng chứng cụ thể về nguyên nhân của những cái chết xảy ra liên tiếp sau khi chích ngừa: cơ địa em bé trước khi chích hoàn toàn khoẻ mạnh, cái chết xảy ra chỉ dăm phút sau khi chích thuốc. Và quan trọng hơn hết, bằng chứng mổ tử thi mà theo báo cáo của bệnh viện đa khoa huyện Hướng Hoá, các cháu bé tử vong nghi do “sốc phản vệ” sau khi tiêm thuốc (nguồn:http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130721/tam-dung-tiem-vac-xin-viem-gan-b-cho-tre-so-sinh-tai-quang-tri.aspx)

Dĩ nhiên, tôi nhận được rất nhiều câu hỏi, email, điện thoại… để chất vấn về sự việc này. Trong đó, hoàn toàn hữu lý khi nhiều bậc phụ huynh có ý định không cho con cái đi tiêm phòng bệnh VGSV B nữa. Họ có lý khi nói: “không tiêm chưa chắc đã chết, mà tiêm chết ngay như thế thì làm sao tôi dám mang con đi được?”

Để rộng đường dư luận, tôi đưa lại một số thông tin, có dẫn nguồn tham khảo từ những tạp chí y học có uy tín. Tự những con số sẽ nói lên tất cả!

Bệnh VGSV B có phổ biến và nguy hiểm không?

Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ VGSV B cao nhất thế giới: 20% (một phần năm dân số). Bệnh này là nguyên nhân hàng đầu của ung thư gan. 25% bệnh nhân mắc phải siêu vi B sẽ đi vào biến chứng xơ gan, ung thư gan nếu không điều trị. 100% ung thư gan ở trẻ em là do VGSV B.

Ở trẻ em Việt Nam, tỷ lệ bị mắc VGSV B vào khoảng từ 13 – 18%. Chủ yếu các em bị lây nhiễm theo chiều dọc từ mẹ sang con trong quá trình chuyển dạ.

Có thể phòng ngừa bệnh VGSV B không?

Tuy nguy hiểm, nhưng hoàn toàn có thể phòng ngừa được bệnh bằng chích ngừa. Vắcxin có thể ngừa được bệnh trong ít nhất 95% trường hợp. Ở Đài Loan, chỉ 10% sau khi áp dụng tiêm chủng đại trà cho trẻ em, tỷ lệ bé sơ sinh nhiễm bệnh từ 10% đã giảm còn 1%. Đồng thời, tỷ lệ ung thư gan ở trẻ em trong cùng thời điểm giảm gần 50%.

Thiên vương Lưu Đức Hoa, một người mắc bệnh VGSV B, đã được Chính phủ Trung quốc mời sang Hoa lục để cổ suý cho việc chích ngừa VGSV B. Với hiệu quả như vậy, vắcxin ngừa VGSV B đã được mệnh danh là vắcxin ngừa ung thư đầu tiên của nhân loại.

Miễn dịch với bệnh kéo dài trong bao lâu?

Với phác đồ chuẩn 0, 1, 6 tháng, hiệu quả bảo vệ của vắcxin có thể kéo dài ít nhất 15 năm, thậm chí cả đời. Trừ một số trường hợp đặc biệt, không cần thiết phải theo dõi nồng độ kháng thể để chỉ định tiêm nhắc liều thứ tư. Lý do: cơ chế bảo vệ của vắcxin chủ yếu là qua hệ miễn dịch tế bào, vai trò kháng thể chỉ là thứ yếu. Do đó, tiêm nhắc liều thứ tư sau 5 năm là một tuỳ chọn, không phải bắt buộc để bảo đảm hiệu quả bảo vệ của vắcxin.

Chủng ngừa có an toàn không?

Có nhiều tranh luận đã nổ ra quanh độ an toàn của vắcxin ngừa bệnh VGSV B. Tuy nhiên, hệ thống thu thập dữ liệu về an toàn thuốc của Hoa Kỳ cho thấy: từ năm 1991 – 1998, có 18 trẻ em tuổi từ 0 đến 28 ngày tử vong sau khi tiêm vắcxin ngừa viêm gan B. Phân tích chi tiết nguyên nhân tử vong cho thấy có 12 trường hợp chết do đột tử (sudden infant death syndrome hay SIDS), ba trường hợp do nhiễm trùng, một trường hợp do xuất huyết não, còn lại không rõ nguyên nhân.

Trang thông tin chính thức của trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) khẳng định: “kể từ khi áp dụng vào năm 1982, đã có hơn 100 triệu lượt người được chích và hoàn toàn không ghi nhận được tác dụng phụ nghiêm trọng nào. Tác dụng phụ chủ yếu là đau chỗ tiêm chích” (http://www.cdc.gov/hepatitis/B/bFAQ.htm#bFAQ38)

Dựa vào những con số thống kê này, y học hoàn toàn không ghi nhận được trường hợp tử vong nào có liên quan trực tiếp, nhân quả với tiêm ngừa vắcxin VGSV B, nếu nó được bào chế đúng chuẩn, bảo quản đúng quy cách. Vắcxin này tiêm bắp thịt, nên nếu việc tiêm thuốc không đúng quy cách thì bất quá là không gây miễn dịch cho trẻ, không thể làm chết người được. Do đó, vắcxin ngừa VGSV B vẫn được tiếp tục sử dụng ở mức độ chương trình tiêm chủng toàn quốc ở hơn 150 quốc gia (bộ Y tế Mỹ từ năm 1991 đã áp dụng chương trình này cho toàn bộ trẻ sơ sinh).

Thông tin từ y văn và thế giới là vậy! Nhưng như nhiều chuyện đáng buồn khác, tình hình nước ta có những “đặc thù” riêng (?). Với tư cách một thầy thuốc và một người làm cha mẹ, tôi cũng đang chờ câu trả lời minh bạch, trung thực từ bộ Y tế.

Trong lúc chờ đợi, tôi vẫn khuyên bệnh nhân của mình đi chích ngừa VGSV B. Dĩ nhiên, với một loại vắcxin tin cậy (mặc dù chúng không có huy chương hay giải thưởng): Engerix-B (GSK), Recombivax HB (Merck) hay Twinrix (vắcxin phối hợp ngừa VGSV A và B, GSK). Xin đừng trách tôi “sính ngoại”: it nhất, tôi có quyền tin rằng bệnh nhân của mình sẽ không chết thảm, như nhiều em bé vô tội vừa qua.

BS LÊ ĐÌNH PHƯƠNG

SGTT

Ngừng toàn bộ việc tiêm phòng lô vắcxin viêm gan B ở Quảng Trị

Ngày 21.7, sau vụ ba trẻ sơ sinh tử vong ngay sau khi tiêm vắcxin phòng viêm gan B tại bệnh viện đa khoa huyện Hướng Hoá, Quảng Trị, Công an Quảng Trị đã vào cuộc tìm nguyên nhân cái chết. Trong khi đó, ông Trần Văn Thành, giám đốc sở Y tế tỉnh Quảng Trị cho biết, vắcxin tiêm cho ba trẻ sơ sinh nói trên sản xuất tại Việt Nam thuộc lô V-GB 020812E, nhằm phục vụ chương trình Tiêm chủng quốc gia, hoàn toàn miễn phí. Lô vắcxin được sản xuất năm 2012 và có hạn dùng đến năm 2015, do công ty Vắcxin sinh phẩm số 1 sản xuất. Bệnh viện đa khoa huyện Hướng Hoá vừa tiếp nhận lô vắcxin nói trên chiều 18.7.2013, từ trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Quảng Trị. Trước sự việc này, tỉnh Quảng Trị đã cho niêm phong toàn bộ vỏ vắcxin đã tiêm cho ba trẻ nói trên và niêm phong 29 lọ vắcxin còn lại để gửi cơ quan chức năng. Nói rõ hơn với báo giới, ông Nguyễn Xuân Tường, giám đốc trung tâm Y tế dự phòng Quảng Trị cho biết, lô vắcxin trên do viện Pasteur Nha Trang – bộ Y tế cung cấp.

Theo lãnh đạo sở Y tế Quảng Trị, ngày 21.7, bộ trưởng bộ Y tế Trần Thị Kim Tiến đã vào đến Quảng Trị. Theo bộ trưởng, nếu đội ngũ y, bác sĩ bệnh viện Hướng Hoá của kíp trực làm đúng quy trình thì bộ Y tế phải làm rõ trách nhiệm của đơn vị cung cấp số vắcxin và nguồn gốc lô vắcxin này. Ngược lại, nếu kíp trực tiêm vắcxin viêm gan B không thực hiện đúng theo quy trình thì phải bị xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật. Tỉnh Quảng Trị cũng đã giao cơ quan chức năng kiểm tra toàn bộ quy trình chuyên môn của đội ngũ y, bác sĩ trực để xem có sai sót gì không.

Ông Nguyễn Đức Chính, phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị cho biết, nhận định ban đầu từ phía các cơ quan chức năng địa phương qua việc khám nghiệm ban đầu, có thể ba trẻ tử vong do sốc phản vệ. Tuy nhiên, các cơ quan chức năng vẫn chưa thể khẳng định nguyên nhân cuối cùng. Hiện tỉnh Quảng Trị đã thông báo về toàn tuyến y tế cơ sở dừng việc tiêm chủng lô vắcxin nói trên.

Quốc Nam

Các tác nhân sinh học gây bệnh ung thư: Ngăn chặn cách gì?

4 loại virut liên quan đến cơ chế sinh bệnh ung thư

Virut Epstein – Barr: Loại ung thư này đầu tiên thấy có mặt ở bệnh ung thư hàm dưới của trẻ em vùng Uganda (loại bệnh này do Epstein và Barr phân lập nên virut này được mang tên virut Epstein – Barr). Về sau người ta còn phân lập được loại virut này ở trong các khối ung thư vòm mũi họng, bệnh có nhiều ở các nước ven Thái Bình Dương đặc biệt là ở Quảng Đông, Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Ở nhiều bệnh ung thư vòm còn thấy kháng thể chống lại kháng nguyên của virut Epstein – Barr. Tuy nhiên, người ta chưa khẳng định vai trò gây bệnh trực tiếp của virut Epstein – Barr đối với ung thư vòm mũi họng. Trong dân chúng tỷ lệ nhiễm loại virut này tương đối cao nhưng số trường hợp ung thư vòm không phải là nhiều. Hướng nghiên cứu về virut Epstein – Barr đang còn tiếp tục và đặc biệt ứng dụng phản ứng IgA kháng VCA để tìm người có nguy cơ cao nhằm chủ động phát hiện sớm ung thư vòm mũi họng.

Ngăn chặn cách gì? 1
 Hình ảnh virut Epstein – Barr gây ung thư vòm mũi họng.

Virut viêm gan B: Gây ung thư gan nguyên phát hay gặp ở châu Phi và châu Á trong đó có Việt Nam. Virut này khi thâm nhập cơ thể gây viêm gan cấp, kể cả nhiều trường hợp thoáng qua. Tiếp theo là một thời kỳ dài viêm gan mạn tiến triển không có triệu chứng. Tổn thương này qua một thời gian dài sẽ dẫn đến hai biến chứng đó là xơ gan toàn bộ và ung thư tế bào gan. Điều này phần nào giải thích sự xuất hiện nhiều ổ nhỏ trong ung thư gan và tính chất tái phát sớm sau cắt gan. Ngoài ra, xơ gan đã làm cho tiên lượng của bệnh ung thư gan xấu đi rất nhiều. Việc khẳng định virut viêm gan B gây ung thư gan giữ vai trò rất quan trọng. Nó mở ra một hướng phòng bệnh tốt bằng cách tiêm chủng chống viêm gan B. Phát hiện người mang virut bằng xét nghiệm HBsAg (+) và những người này nên dùng vaccin.

Virut gây u nhú thường truyền qua đường sinh dục: Loại này được coi là có liên quan đến các ung thư vùng âm hộ, âm đạo và cổ tử cung, các nghiên cứu đang tiếp tục.

Virut HTLV1 là loại virut (Retro virut) liên quan đến gây bệnh bạch cầu tế bào T gặp ở Nhật Bản và vùng Caribê.

Ký sinh trùng và vi khuẩn có liên quan đến ung thư

Khuyến cáo của thầy thuốcLoại trừ tác nhân sinh học liên quan đến ung thư bằng lối sống khoa học; vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường tốt.

Cần đến thầy thuốc khi đau ốm để được điều trị đúng, sớm và triệt để, loại trừ các yếu tố nguy cơ gây ung thư.

Chỉ một loại ký sinh trùng được coi là nguyên nhân gây ung thư, đó là sán Schistosoma. Loại sán này thường có mặt với ung thư bàng quang và một số ít ung thư niệu quản ở những người Ảrập vùng Trung Đông, kể cả người Ảrập di cư. Cơ chế sinh ung thư của loại sán này hiện chưa được giải thích rõ.

Loại vi khuẩn đang được đề cập đến vai trò gây viêm dạ dày mạn tính và ung thư dạ dày là vi khuẩn Helicobacter Pylori. Các nghiên cứu đang được tiếp tục nhằm mục đích hạ thấp tác hại Helicobacter Pylori và giảm tần số ung thư dạ dày, đặc biệt là ở các nước châu Á.

Dự án PCUTQG, Bệnh viện K TW – SKDS

Giải mã chất làm trái cây chín mau, tươi lâu

Việc xử lý trái cây sau thu hoạch bằng hóa chất được nhiều nước trên thế giới áp dụng nhằm tạo sản phẩm có độ chín đồng đều cao, chín đồng loạt, mẫu mã hàng hóa bóng đẹp, bắt mắt người tiêu dùng, có số lượng trái chín lớn đáp ứng trong kinh doanh. Trái cây qua xử lý bảo quản được lâu hơn, bảo đảm được chất lượng, giảm tỷ lệ hao hụt, đặc biệt có thể điều tiết sản phẩm trên thị trường để có được giá bán tốt hơn.

Trong xử lý trái cây sau thu hoạch có rất nhiều công đoạn và phương pháp khác nhau. Trong bài viết này chúng tôi quan tâm đến hai công đoạn có sử dụng hóa chất để xử lý trái cây mà hiện nay thương lái thu mua trái cây đang thực hiện rộng rãi ở nước ta. Một số trái cây nhập khẩu từ Trung Quốc vào nước ta có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) cao quá liều cho phép mà cơ quan bảo vệ thực vật và vệ sinh an toàn thực phẩm kiểm tra đã phát hiện, gây nên nỗi lo ngộ độc cho người tiêu dùng.

Một số trái cây nhập khẩu từ Trung Quốc vào nước ta có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cao quá liều cho phép (ảnh chỉ mang tính minh họa).

Chất giúp trái cây mau chín

Ở nước ta là nước nhiệt đới chủng loại trái cây rất phong phú. Công việc xử lý, bảo quản trái cây chưa được thực hiện nhiều. Các doanh nghiệp xuất khẩu có điều kiện bảo quản tốt, có sử dụng hóa chất xử lý trái cây ở các công đoạn sau thu hoạch nên tỷ lệ hư hỏng ít. Đa phần trái cây còn lại chưa được xử lý nên tỷ lệ hư hỏng rất cao có đánh giá đến 25%. Một số hóa chất xử lý trái chín đang trôi nổi trên thị trường nước ta có nguồn gốc từ Trung Quốc hoặc một số hãng của nước ngoài có đăng ký ở Việt Nam được bộ NN&PTNT chấp nhận và một số công ty của Việt Nam đã nhập về dạng nguyên liệu đóng gói, đóng chai để bán. Các thuốc lấy tên khác nhau như “Hoa quả thúc chín tố” (Trung Quốc), “Trái chín” (Việt Nam),… nhưng thành phần chính vẫn là ethrel.

Nguyên nhân làm trái cây chín đã được các nhà khoa học phát hiện từ lâu, một trong những chất tham gia vào quá trình làm chín trái cây trong tự nhiên đó là ethylen (C2H4). Ethylen là một hormon thực vật ở dạng khí, hormon sinh trưởng tự nhiên này được hình thành ngay từ trong cây, với vai trò chính kích thích gây chín, làm già hóa và rụng hoa quả.

Ở một số loại quả khi đã lìa khỏi cây nhưng vẫn tiếp tục chín, bởi loại quả này hô hấp rất mạnh, tạo ra ethylen. Lợi dụng đặc tính thúc đẩy quá trình chín của ethylen người ta sản xuất chất ethylen nhân tạo để xử lý làm cho trái cây mau chín.

Người ta thường dùng ethylen ở dạng khí để xử lý trái cây cho mau chín. Mới đây giáo sư Bhesh Bhandari và các cộng sự tại trường đại học Queenland Úc đã biến khí ethylen thành dạng bột cho phép làm chín trái cây trong quá trình vận chuyển về siêu thị. Với 40g bột ethylen đủ để làm chín khoảng 20 tấn xoài. Ethylen bột an toàn, ổn định, có giá thành hạ hơn ethylen dạng khí. Ethylen có ảnh hưởng đến hệ thần kinh, làm xót mắt, da, phổi, trí nhớ, có thể đưa đến tình trạng thiếu oxy trong cơ thể.

Chất khác là Ethephon (tên chung Ethephon, tên hóa học 2 Chloroethyl phosphonic acid, được viết tắt CEPA hoặc ACEP). Hay tên khác là Ethrel, Bromeflor, Arvest… trong thương mại có rất nhiều tên khác nhau tùy theo hãng sản xuất. Ethephon dạng lỏng, không màu đến hổ phách nhạt, tan dễ dàng trong nước được xếp vào nhóm hóa chất điều hòa sinh trưởng thực vật. Hiện nay ethephon được sử dụng rộng rãi để xử lý các loại trái cây mau chín.

Trong thực vật, ethephon kết hợp với nước sẽ chuyển hóa thành khí ethylen. Chất ethylen thúc đẩy quá trình chín nhanh của quả, kích thích mủ cao su… Cơ quan Quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) cho phép sử dụng ethrel với liều lượng thích hợp để thúc chín trái cây như cà chua, dâu, táo… Úc, New Zealand và Hà Lan cũng cho phép tương tự nhằm rút ngắn thời gian chín và giảm tổn thất sau thu hoạch. Cục Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (US-EPA) đã xác định ethrel đi vào cơ thể qua thực phẩm chỉ an toàn nếu liều lượng mỗi ngày không vượt quá mức cho phép 0,05mg/kg cân nặng cơ thể. Ethrel có những độc tính nhất định và chỉ xếp vào loại chất độc nhẹ, không phải là một chất “cực độc” hay “cực nguy hiểm” như một số thông tin đã đưa…

Chất LD50 cấp tính qua đường miệng đối với chuột là 3.400-4.229mg/kg thể trọng, LD50 tiếp xúc qua da lớn hơn 5g/kg thể trọng, LC50 qua đường hô hấp lớn hơn 5mg/lít không khí. (chú thích LD50 Các nhà sản xuất thuốc BVTV luôn ghi rõ độc tính của từng loại. Đơn vị đo lường được biểu thị dưới dạng LD50 (Lethal Dose 50) và tính bằng mg/kg thể trọng. LD50 là lượng hoạt chất ít nhất gây chết 50% cá thể trên các động vật thí nghiệm như chuột, thỏ, chó, chim hoặc cá, chỉ số LD50 càng cao thì tính độc càng thấp). Các nghiên cứu trên người về độc tính của ethrel cho thấy: đối với mắt, ethrel gây kích ứng, xót mắt, gây đỏ mắt; với da, nếu tiếp xúc trực tiếp sẽ có hiện tượng ăn mòn, gây sưng đỏ. Khi dùng ethrel cần đeo găng tay và đeo kính để tránh tác hại cho cơ thể.

Trước đây bà con nông dân thường dùng đất đèn để dú trái cây. Khi đất đèn gặp nước sẽ sản sinh khí Acetylen (C2H2) giúp trái cây mau chín. Tuy nhiên trong đất đèn có chứa Arsenic và phosphorus độc, khi gặp nước đất đèn tạo mùi hôi khó chịu, dễ cháy, nổ. Đất đèn cũng gây ảnh hưởng đến hệ thần kinh, nhức đầu, chóng mặt… nên nhiều nước cấm sử dụng…

Hoá chất kéo dài tuổi thọ trái cây

Bên cạnh việc xử lý trái cây mau chín, chín đều, đồng loạt. Việc xử lý bằng hóa chất nhằm kéo dài thời gian bảo quản trái cây có thể hàng tháng đến hàng năm mà trái cây không bị hư. Người ta sử dụng các thuốc BVTV) để chống côn trùng, vi khuẩn, nấm mốc xâm nhiễn giữ trái cây lâu hư. Các chất này có thể được dùng để phòng trừ sâu bệnh trước khi thu hoạch mà chưa hết thời gian cách ly khi sử dụng thuốc hoặc đã xử lý trong quá trình bảo quản nên khi kiểm tra dư lượng thuốc BVTV trên sản phẩm vẫn còn tồn tại. Có những loại thuốc rất độc bị các nước trên thế giới cấm sử dụng, với nồng độ thuốc rất cao cực kỳ nguy hiểm có thể gây ngộ độc cấp tính với liều lượng chất độc lớn, nếu liều lượng chất độc thấp hơn thì chất độc có thể tích lũy dần trong cơ thể và gây độc mạn tính, ung thư, sẩy thai…

Cục Bảo vệ thực vật đã kiểm tra một số trái cây nhập từ Trung Quốc được bày bán ở Việt Nam và phát hiện một số hoá chất, gồm: Carbendazim, Tebuconazole, Aldicarb sulfone, 2,4D , Agri-fos 400. Trong đó, Carbendazim thuộc nhóm hóa học benzimidazol, thuốc diệt nấm nội hấp, phổ rộng. Hoạt chất carbendazim, tên hóa học 2-(methyoxyl carbolamino)-benzimidazol. Tên thương mại khác carbendazol, mecarzol, derosal, vicarben, carosal, carbenzim… Nhóm độc IV, LD50 qua miệng 15.000mg/kg, LD50 qua da 2.000mg/kg

Trong khi đó, Tebuconazole là thuốc diệt nấm nhóm Triazole. Nhóm độc III, , LD50 qua miệng 1.700mg/kg, LD50 qua da >2.000mg/kg, LC50 qua hô hấp>0,82mg/l. Cục Bảo vệ Thực vật, bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cho biết, qua các mẫu nho, mận và lựu nhập khẩu từ Trung Quốc kiểm nghiệm cũng phát hiện chứa carbendazim và chất tebuconazole với dư lượng vượt mức cho phép từ 1,5 – 5 lần. Carbendazim và tebuconazole đều là hóa chất diệt nấm trên rau, củ, quả. Carbendazim là một chuyển hóa chất của benomyl được sử dụng rộng rãi như một loại thuốc diệt nấm. Có trường hợp nông dân dùng carbendazim pha nước sền sệt bôi vào cuống trái sầu riêng để bảo quản, đây là việc làm không đúng thuốc có thể thấm sâu vào trái sầu riêng không tốt cho sức khỏe người tiêu dùng.

Nếu tiếp xúc thời gian dài với hai hóa chất trên theo cục Quản lý dược và thực phẩm Mỹ xác định có thể gây ra rủi ro với liều dùng cao, gây hại cho gan và đặc biệt kích ứng mắt, rất độc khi bị nhiễm qua đường miệng và mắt. Riêng Thuốc diệt nấm tebuconazole được cục Quản lý Dược và Thực phẩm Hoa Kỳ xác định có thể gây ra rủi ro với liều dùng cao, gây hại cho gan và đặc biệt kích ứng mắt, khá độc khi bị nhiễm qua đường miệng và mắt. Đồng thời, văn phòng cơ quan Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ cho rằng, tebuconazole được liệt kê như là một chất gây ung thư có trong danh sách thuốc trừ sâu chứa chất gây ung thư với đánh giá thuộc loại C.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới phân loại độc tính, tebuconazole được liệt kê thuộc độc tính nhóm III. Do khả năng tác dụng phá vỡ nội tiết của tebuconazole, nên hóa chất này được xem xét loại bỏ ra khỏi thị trường châu Âu.

Một số chất khác như Aldicarb sulfone thuộc nhóm Carbamate (các tên khác Aldoxycarb, sulfocarb) trong khoa học còn có tên gọi khác là Methyl-2-(methyl-sulfonyl)propa-nal-O-[(methylamino)carbonyl)]oxime. Là thuốc trừ sâu và tuyến trùng nội hấp, là chất kết tinh màu trắng, rất độc – nhóm độc I, LD50 qua đường miệng 25mg/kg, LD50 qua da 200mg/kg. Theo liên minh châu Âu aldicarb được coi là chất cực độc, nguy hiểm với môi trường và sức khỏe con người. Thuốc được dùng để trừ sâu, tuyến trùng và xử lý đất trồng. Ở Việt Nam vừa qua aldicarb được phát hiện trên củ gừng nhập khẩu từ Trung Quốc.

Chất 2,4D là loại thuốc diệt cỏ nội hấp, chọn lọc, có tác dụng kích thích sự phát triển quá mức của tế bào, làm cho cây cỏ chết ở nồng độ cao, nhưng ở nồng độ thấp lại là chất kích thích sinh trưởng. Tên thương mại khác: Zico, AK, Amine, Anco, Co, Desormorne, OK. Thuộc nhóm độc II, LD 50 qua miệng =800 mg/kg. Thời gian cách ly 20-40 ngày. Thuốc trừ cỏ hoạt chất 2,4 D thường sử dụng ở dạng muối Natri (Na), amine và ester. Muối 2,4 D-dimethyl amine độc với mắt, xếp vào nhóm độc I, các 2,4 D khác xếp vào nhóm độc II. Về độ độc cấp tính đối với động vật máu nóng, trị số LD50 của acid 2,4 D là 699mg/kg; muối Na là 500-805 mg/kg; muối dimethyl amine là 949 mg/kg; các ester khác là 896 mg/kg. Dư lượng tối đa cho phép của 2,4 D mà không gây hại đến cơ thể người và vật nuôi khi ăn hạt lúa là 0,5 mg/kg. Thời gian cách ly của 2,4 D được quy định từ ngày phun thuốc lần cuối đến ngày thu hoạch đối với hạt lúa là 42 ngày.

Agri-fos 400 là thuốc diệt nấm nội hấp thế hệ mới. Thuốc ít độc LD50 >5000mg/kg. Dung dịch có màu xanh nhạt. Hoạt chất: Phosphorus acid

Dùng hoá chất sao cho đúng?

Đối với hóa chất làm chín trái cây như các chất đã nêu trên là có thể sử dụng được nhưng phải tuân thủ các điều kiện cụ thể.

Thu hoạch trái cây đạt độ chín công nghiệp (trái cây chưa chín hoàn toàn để dễ vận chuyển đến nơi bảo quản, tiêu thụ và khi xử lý trái chín công nghiệp không làm thay đổi nhiều chất lượng trái so với trái cây để chín tự nhiên), tránh thu hoạch trái non. Phải nghiêm ngặt trong việc sử dụng thuốc: thuốc phải được Cục Bảo vệ Thực vật cho phép, sử dụng đúng nồng độ, liều lượng được hướng dẫn trên bao bì. Không sử dụng thuốc trôi nổi, không rõ nguồn gốc, nhãn mác, không rõ chất phụ gia trong thuốc…Phải bảo đảm thời gian cách ly sau khi sử dụng thuốc.

Đối với bảo quản trái cây không nên sử dụng hóa chất diệt nấm bệnh đặc biệt là thuốc lưu dẫn, thuốc thuộc nhóm độc, phân hủy chậm, có nguy cơ gây quái thai, ung thư, vô sinh… Hiện nay có rất nhiều phương pháp bảo quản trái cây không dùng hóa chất như: bảo quản điều kiện lạnh, thay đổi thành phần không khí, xử lý bằng hơi nước nóng, chiếu xạ, bao bọc bằng màng sinh học, xử lý bằng chất chitosan,…Phải nghiêm túc trong quy trình canh tác, xử lý hóa chất phòng trừ dịch bệnh trong quá trình canh tác phải bảo đảm thời gian cách ly, tránh để dư lượng thuốc BVTV vượt quá ngưỡng cho phép.

Để có được trái cây an toàn vệ sinh thực phẩm đặc biệt là trái cây có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nhà nước nên nhập hàng chính ngạch, đặt ra hàng rào kỹ thuật. Hạn chế, ngăn chặn nhập theo đường tiểu ngạch và phải chống buôn lậu có hiệu quả. Đối với nông dân trong nước, các thương lái Việt Nam và Trung Quốc đang kinh doanh phải tăng cường công tác quản lý. Các cơ quan nhà nước cấp địa phương phải phối hợp làm việc tích cực. Với nông dân hướng dẫn họ sản xuất trái cây theo hướng GAP, phải kiểm tra thuốc và thương lái sử dụng hóa chất xử lý trái cây.

THS. NGUYỄN VĂN HẾT

BAN QUẢN LÝ KHU NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO TP.HCM

SGTT