Category Archives: Thảo luận chung

12 điều Y ĐỨC

Quy Định về y Đức (Tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế) (Ban hành kèm theo quyết định số: 20881BYT-QĐ ngày 06 tháng 11 nǎm 1996 của Bộ trưởng Bộ Y tế) Y đức là phẩm chất tốt đẹp của người làm công tác y tế, được biểu hiện ở tinh thần trách nhiệm cao, tận tuỵ phục vụ, hết lòng thương yêu chǎm sóc người bệnh, coi họ đau đớn như mình đau đớn, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Lương y phải như từ mẫu”. Phải thật thà đoàn kết, khắc phục khó khǎn, học tập vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ, toàn tâm toàn ý xây dựng nền Y học Việt Nam. Y đức phải thể hiện qua những tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo đức được xã hội thừa nhận.

1. Chǎm sóc sức khoẻ cho mọi người là nghề cao quý. Khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ y tế phải nghiêm túc thực hiện lời dạy của Bác Hồ. Phải có lương tâm và trách nhiệm cao, hết lòng yêu nghề, luôn rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức của thầy thuốc. Không ngừng học tập và tích cực nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn. Sẵn sàng vượt qua mọi khó khǎn gian khổ vì sự nghiệp chǎm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.

2. Tôn trọng pháp luật và thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên môn. Không được sử dụng người bệnh làm thực nghiệm cho những phương pháp chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu khoa học khi chưa được phép của Bộ Y tế và sự chấp nhận của người bệnh.

3. Tôn trọng quyền được khám bệnh, chữa bệnh của nhân dân. Tôn trọng những bí mật riêng tư của người bệnh; khi thǎm khám, chǎm sóc cần bảo đảm kín đáo và lịch sự. Quan tâm đến những người bệnh trong diện chính sách ưu đãi xã hội. Không được phân biệt đối xử với người bệnh. Không được có thái độ ban ơn, lạm dụng nghề nghiệp và gây phiền hà cho người bệnh. Phải trung thực khi thanh toán các chi phí khám bệnh, chữa bệnh.

4. Khi tiếp xúc với người bệnh và gia đình họ, luôn có thái độ niềm nở, tận tình; trang phục phải chỉnh tề, sạch sẽ để tạo niềm tin cho người bệnh. Phải giải thích tình hình bệnh tật cho người bệnh và gia đình họ hiểu để cùng hợp tác điều trị; phổ biến cho họ về chế độ, chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của người bệnh; động viên an ủi, khuyến khích người bệnh điều trị, tập luyện để chóng hồi phục. Trong trường hợp bệnh nặng hoặc tiên lượng xấu cũng phải hết lòng cứu chữa và chǎm sóc đến cùng, đồng thời thông báo cho gia đình người bệnh biết.
5. Khi cấp cứu phải khẩn trương chẩn đoán, xử trí kịp thời không được đùn đẩy người bệnh.

6. Kê đơn phải phù hợp với chẩn đoán và bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý an toàn; không vì lợi ích cá nhân mà giao cho người bệnh thuốc kém phẩm chất, thuốc không đúng với yêu cầu và mức độ bệnh.

7. Không được rời bỏ vị trí trong khi làm nhiệm vụ, theo dõi và xử trí kịp thời các diễn biến của người bệnh.

8. Khi người bệnh ra viện phải dặn dò chu đáo, hướng dẫn họ tiếp tục điều trị, tự chǎm sóc và giữ gìn sức khỏe.

9. Khi người bệnh tử vong, phải thông cảm sâu sắc, chia buồn và hướng dẫn, giúp đỡ gia đình họ làm các thủ tục cần thiết.

10. Thật thà, đoàn kết tôn trọng đồng nghiệp, kính trọng các bậc thầy, sẵn sàng truyền thụ kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau.

11. Khi bản thân có thiếu sót, phải tự giác nhận trách nhiệm về mình không đổ lỗi cho đồng nghiệp, cho tuyến trước.

12. Hăng hái tham gia công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe, phòng chống dịch bệnh, cứu chữa người bị nạn, ốm đau tại cộng đồng; gương mẫu thực hiện nếp sống vệ sinh, giữ gìn môi trường trong sạch.

Hồi ức 45 ngày kinh hoàng chống dịch SARS

Hồi ức 45 ngày kinh hoàng chống dịch SARS

Ở một góc khiêm nhường tại Bệnh viện Việt Pháp (Hà Nội) có ngôi miếu thờ 6 y bác sĩ đã chết trong cuộc chiến chống dịch SARS. 10 năm trước, bệnh viện này từng phải cách ly, đóng cửa, các hành lang vắng vẻ chỉ có vải trắng phất phơ.

Trong khuôn viên cây cối um tùm, ngôi miếu thờ lặng lẽ yên tĩnh trái ngược với sự ồn ào của khu vực khám chữa bệnh. Trên tấm bia tưởng niệm ghi tên 6 người đã mất trong cuộc chiến chống dịch SARS – Hội chứng hô hấp cấp tính nặng, theo thứ tự thời gian họ ra đi: Y tá Nguyễn Thị Lượng 15/3/2003; bác sĩ Jean – Paul Dirosier 19/3/2003; y tá Phạm Thị Uyên 24/3/2003; bác sĩ Nguyễn Thế Phương 24/3/2003; bác sĩ Nguyễn Hữu Bội 12/4/2003; bác sĩ Jacque 7/2003 (chết sau khi về Pháp).

Ngày 26/2/2003, ông Chung Cheng, người Hong Kong nhập viện Việt Pháp, với các triệu chứng giống cúm nhưng diễn tiến rất lạ, sốt, ho nhiều và khó thở. Các bác sĩ, y tá vẫn thăm khám và điều trị cho bệnh nhân này như với bệnh cúm thông thường khác. Vài ngày sau, tình trạng bệnh nhân xấu đi rất nhanh, gia đình ông đã thuê chuyên cơ đưa về nước, để lại sau lưng Bệnh viện Việt Pháp có hơn 5 y tá sốt với biểu hiện giống Chung Cheng.
Y tá trưởng Bùi Thanh Xuân nhớ lại, lúc đó không ai biết về độ nguy hiểm của bệnh, họ không đeo khẩu trang, không đồ bảo hộ và vẫn còn trêu đùa nhau. “Tôi còn nhớ bác sĩ Tấn kiếm đâu được túi gạo nhờ tôi đánh lưng cho anh ấy. Bác sĩ Phương nằm giường bên cạnh còn đùa cợt cách làm ấy không hiệu quả, nói là bệnh cúm đâu có đáng sợ như thế. Vậy mà chỉ vài ngày sau anh Phương đã ra đi”.
bv6-jpg-1364701138-1364701807_500x0.jpg
Nhân viên y tế chăm sóc bệnh nhân SARS. Ảnh: Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương cung cấp.

 

Là một trong 3 bác sĩ điều trị chính cho các bệnh nhân khi đó, bác sĩ Nguyễn Ngọc Thọ cho hay, SARS lây lan từ người sang người rất nhanh nhưng mức độ bệnh có vẻ như giảm dần qua mỗi lần lây lan. Không hẳn ai tiếp xúc với người bệnh là sẽ lây nhưng xác suất gây bệnh rất cao, tùy thuộc vào kháng thể của từng người. “Lúc khám cho ông Chung Cheng tôi không có gì bảo vệ, vẫn khám bệnh, hỏi han và động viên ông ấy cỡ 20 phút mà không sao, nhưng vài y tá khác tiếp xúc với ông ấy thì lây bệnh rất nhanh”, bác sĩ Thọ hồi tưởng.
Lo lắng trước căn bệnh lạ, bác sĩ Carline – người Pháp công tác tại Bệnh viện Việt Pháp – tìm hiểu trên Internet thấy ở phía nam Trung Quốc đang có một bệnh dịch lạ với biểu hiện sốt, ho. Ông chột dạ nghĩ tới tình hình của bệnh viện và lập tức báo cáo lên Tổ chức Y tế thế giới (WHO). Ít hôm sau, đại diện WHO – bác sĩ Carlo Ubani đã sang Việt Nam trực tiếp nắm bắt tình hình dịch bệnh.
“Tôi lờ mờ nhận thấy dịch ngày càng bùng lên nguy hiểm, hôm đó đi chợ mua rất nhiều đồ, dặn chồng nấu nướng và chăm sóc các con. Quả nhiên, tối hôm ấy (5/3/2003) bệnh viện phát lệnh đóng cửa, toàn bộ nhân viên ở lại viện”, y tá Xuân nhớ lại. Lúc đó chị không biết rằng sẽ buộc phải xa gia đình đúng một tháng trời và chứng kiến sự ra đi trong đau đớn của nhiều đồng nghiệp.
Ngày 15/3, y tá Lượng là người đầu tiên ra đi, sau đó cứ vài ngày lại có thêm người tử vong. Số nhân viên mắc bệnh không ngừng gia tăng. Lúc cao điểm, có quá nửa nhân viên bệnh viện đổ bệnh. Để bảo vệ sự an toàn của cộng đồng, bệnh viện đã tự cách ly, toàn bộ nhân viên không được về nhà. “Sau khi tôi bị lây SARS, cứ cách 2 ngày nhà tôi lại có người đến phun thuốc chống dịch. Chồng tôi được cho nghỉ việc vẫn hưởng lương, các con cháu tôi nghỉ học, em chồng thì khóc lóc đòi chuyển nhà đi lánh nạn”, chị Xuân chia sẻ.
Cùng lúc này, ở Hong Kong, Singapore, Canada đều có người mắc bệnh. Dịch SARS lan ra toàn thế giới. Tất cả đều có mối liên quan trực tiếp, gián tiếp với chuyến bay cuối cùng về nước của bệnh nhân Chung Cheng – người được xác định là bệnh nhân SARS đầu tiên ở Việt Nam.
Tin người chết, người lây bệnh, tin dịch bùng nổ ra toàn cầu khiến mọi người lo sợ. Dọc đường Phương Mai trước cổng viện vắng tanh, thậm chí mọi người phải đi sát lề đường bên kia để tránh. Quán xá khu vực này đều hạn chế mở cửa, không ai bán đồ ăn cho bệnh viện. Lãnh đạo bệnh viện phải liên hệ nhờ những khách sạn lớn viện trợ thức ăn. Bác sĩ Thọ trầm ngâm: “Họ rất nhiệt tình, cung cấp toàn đồ ăn ngon với một điều kiện không được tiết lộ khách sạn họ viện trợ cho vùng dịch. Thời điểm đó, nói đến Việt Pháp là ai cũng sợ như thảm họa diệt vong”.
Bị cô lập, nhân lực và trang thiết bị không đủ cho một tình huống đặc biệt khó khăn mà giới y học chưa hề gặp trước đó, Bệnh viện Việt Pháp đã phải “mượn trộm” hai chiếc máy thở ở Bệnh viện Bạch Mai. Về sau, Bộ Y tế làm việc với Bạch Mai và chính thức cho Việt Pháp mượn một chiếc máy nữa.
“5 ngày sau, Pháp cử 4 bác sĩ và các kỹ thuật viên cùng 5 chiếc máy thở sang. Chúng tôi cảm giác như người sắp chết đuối vớ được cọc, vừa có người giúp, vừa có thêm trang thiết bị hiện đại. Những ngày tiếp theo, Bộ Y tế chỉ đạo chuyển bệnh nhân sang Bệnh viện Nhiệt đới, gánh nặng cũng bớt đi”, bác sĩ Thọ cho biết thêm.
Cảnh thường thấy ở bệnh viện khi đó là những bệnh nhân tập thổi bóng bay, chạy uỳnh uỵch buổi sáng. Không phải là trò thư giãn, mà là biện pháp tập thở để tránh nguy cơ xẹp phổi.
“Lúc bệnh nhân được chuyển hết sang Viện Nhiệt đới, nơi này chỉ còn là một màu tang thương. Khắp các hành lang không có một bóng người, vải trắng bay phất phơ. Bệnh nhân cuối cùng ra đi khiến chúng tôi bị sốc nặng. Chúng tôi âm thầm gói ghém anh ấy lại, rải nhiều lớp khử trùng, lặng lẽ mang xuống Văn Điển hỏa táng trong vội vã”, bác sĩ Thọ nhớ lại thời điểm “không bao giờ quên” ấy.
Dịch SARS đã khiến khoảng 44 y tá, bác sĩ của Bệnh viện Việt Pháp lây bệnh, 6 người (trong và ngoài nước) đã chết. Ngoài ra, có 2 người liên quan cũng tử vong là bệnh nhân đầu tiên Chung Cheng và bác sĩ đại diện WHO – Carlo Ubani. Bệnh viện Việt Pháp phải khử trùng, đóng cửa, toàn bộ nhân viên được nghỉ gần nửa năm. Tháng 11 năm đó, bệnh viện bắt đầu gây dựng lại. “Chúng tôi đi học, dọn dẹp, xây dựng lại bệnh viện từ đống tro tàn”, bác sĩ Thọ chia sẻ.
Giáo sư Đào Xuân Tích – khoa Chấn Thương, bệnh viện Việt Pháp nói: “Trong lịch sử, chưa từng có bệnh viện nào phải chịu tổn thất về người và của như chúng tôi trong trận dịch SARS”.
Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới trung ương lúc đó là Viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới (thuộc Bệnh viện Bạch Mai) là đơn vị thứ hai tham gia cuộc chiến chống SARS. Phó giám đốc bệnh viện Nguyễn Hồng Hà cho hay, họ đã vào cuộc ở giai đoạn dồn dập nhất của dịch khi 10 bệnh nhân cuối cùng của Bệnh viện Việt Pháp chuyển sang.
“Chiến trường” của bệnh viện là toàn bộ tầng 2, 3 của tòa nhà 6 tầng. “Hội chứng này lần đầu xuất hiện, chưa có tiền lệ, cái gì mới cũng khó, chẩn đoán như thế nào, đường lây như thế nào… Không biết dựa vào đâu nên chúng tôi cứ vừa làm vừa mò cách chống dịch”, bác sĩ Hà nói, lúc ấy ông là trưởng phòng cấp cứu, đơn vị trực tiếp điều trị bệnh nhân SARS.

bsha1-jpg[1336088675].jpg

Bác sĩ Nguyễn Hồng Hà, Phó giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương. Ảnh: N.P.

 

Theo bác sĩ Hà, quyết định mở cửa thông thoáng buồng bệnh là một yếu tố quan trọng giúp giảm dịch. Ý nghĩ này xuất phát khi ông được mời sang Bệnh viện Việt Pháp hội chẩn, thấy bệnh viện này đóng kín toàn bộ các cửa, một số chỗ dùng điều hòa. “Lúc đấy tôi nghĩ ‘mình mà làm thế này thì gay lắm, bức bách, khó chịu, bí, thiếu sự lưu thông khí’. Vì thế, khi tiếp nhận ca bệnh đầu tiên, chúng tôi đã thống nhất cứ mở thông thoáng buồng bệnh”.
Một vài chuyên gia WHO cũng khuyên nên đóng hết các cửa phòng bệnh. “Chúng tôi nhận định bất kỳ bệnh truyền nhiễm nào cũng có một ngưỡng nồng độ mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể thì mới nhiễm. Khi mở cửa thông thoáng, nồng độ virus được phân tán ra không trung, gió thổi bay, bị loãng đi. Cách làm này lại hiệu quả, suốt 2 tuần không nhân viên nào bị sốt, nhiễm trùng hô hấp”, bác sĩ Hà cho hay.
Cũng theo vị bác sĩ này, với bệnh nhân SARS, mấu chốt là hỗ trợ hô hấp tốt nhất. Nhưng trong điều kiện ngành y lúc đó thì yêu cầu này rất khó khăn. Không có máy thở, đến khi có lại không phải máy chuyên dụng để thở không xâm nhập, nên phải sáng tạo khi sử dụng. “Chúng tôi tìm dụng cụ về chế thành mặt nạ, cắt dây cao su săm xe đạp, đục lỗ, móc rồi chụp vào. Mask không có thì lấy đâu khẩu trang N95”, bác sĩ Hà nói. Vài ngày sau họ mới có đủ trang bị y tế cần thiết.
Nhân viên y tế đã vất vả, nhưng bệnh nhân SARS mới thật thương. Họ hầu như không nằm mà thở được, bao nhiêu ngày bệnh là bấy nhiêu ngày ngồi gục bên đống chăn gối, cố mà thở. Đa phần đều rất lo lắng, có người thậm chí yêu cầu nhân viên y tế đứng bên cạnh, cứ ra khỏi buồng là hốt hoảng. Cứ bỏ mask thở ôxy ra là bệnh nhân tím tái, ăn cũng khó, vì thế mỗi lần cho ăn là y tá phải rất kỳ công, có khi đứng hàng tiếng, mở mask ra bón một miếng xong lại úp vào. Mọi việc chăm sóc cho bệnh nhân đều do nhân viên thực hiện, từ việc tắm rửa, gội đầu, đánh răng, thay quần áo…
ytadung1-jpg-1364700192-1364700249_500x0
Chị Phạm Thị Ngọc Dung, y tá trưởng Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương còn lưu giữ những bức ảnh ghi lại gần 2 tháng chống dịch SARS. Ảnh: N.P.

 

Hơn một tháng sau, thế giới mới xác định được chủng virus cấp tính corona gây bệnh SARS. Từ đó, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương kết hợp với Viện Y học nhiệt đới cùng chống dịch. Việc phòng chống cũng diễn ra ở các cửa khẩu biên giới, sân bay… Chính phủ đầu tư hàng trăm tỷ mua thêm trang thiết bị, lắp đặt máy thở tại bệnh viện, máy đo nhiệt độ tại sân bay…
Theo Giáo sư Hoàng Thủy Long, nguyên giám đốc Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương, khi ấy là Phó ban phòng chống dịch bệnh hô hấp, Việt Nam khống chế tốt dịch một phần do có mạng lưới y tế dự phòng tốt, cộng với việc điều trị tích cực hiệu quả, nhưng cũng một phần do may mắn. Đó là vì bệnh nhân đầu tiên là ở Bệnh viện Việt Pháp. Đây là bệnh viện nhỏ, nằm riêng biệt nên dễ dàng bao vây. Thêm nữa, dịch ập đến khi nước ta đã có sự giao lưu quốc tế, có sự trao đổi thông tin, sự hỗ trợ của quốc tế.
“Trước đó, có những thời kỳ chúng ta không công bố thông tin, ngay cả tên dịch bệnh cũng không được gọi. Dịch tả thì gọi là ‘4 không’, dịch bọ chét thì gọi là ‘BC'”, ông nói. Giáo sư cũng cho biết, sau dịch SARS, bài học lớn nhất là phải đề cao công tác phòng bệnh.
Việt Nam là một trong 25 nước hứng chịu dịch bệnh bệnh SARS, 65 người đã bị bệnh, 5 người tử vong.  Ngày 28/4/2003, Việt Nam được WHO công nhận là nước đầu tiên khống chế được đại dịch, kết thúc chuỗi 45 ngày kinh hoàng chống SARS.
Những mốc dịch SARS lây lan ở Việt Nam:

– Ngày 23/2/2003: Bệnh nhân Chung Cheng từ Hong Kong nhập cảnh Việt Nam, mang theo các triệu chứng bệnh cúm lạ.

– Ngày 26/2/2003: Chung Cheng nhập viện Việt Pháp, là người đầu tiên tại Việt Nam được xác định mắc bệnh SARS.

– Ngày 5/3/2003: Bệnh viện Việt Pháp được cách ly.

– Ngày 13/3/2003: Viện Y học lâm sàng tiếp nhận bệnh nhân SARS đầu tiên.

– Ngày 15/3/2003: Người Việt Nam đầu tiên chết vì SARS, là y tá Bệnh viện Việt Pháp. Sau đó là 4 y bác sĩ khác của bệnh viện này lần lượt tử vong.

– Từ ngày 8/4/2003 trở đi: Việt Nam không ghi nhận thêm ca mắc mới nào.

– Ngày 28/4/2003: Việt Nam được WHO công nhận là quốc gia đầu tiên trên thế giới khống chế thành công dịch SARS.

Nhóm phóng viên – VNEXPRESS

Học – Dịch Sinh lý học DSYS

Học – Dịch Sinh lý học DSYS

Sinh lý học là môn học nền tảng về mặt chức năng của Y khoa. Ý thức được tầm quan trọng của môn học này, diễn đàn của chúng ta tiếp tục mở ra cuộc thi “Học – Dịch Sinh lý học – DSYS” để tạo ra một sân chơi và cũng là điều kiện để chúng ta có thể thảo luận nhiều hơn về môn học này.

[IMG]

Thể lệ:

Đăng kí theo đội – nhóm – cá nhân đều được ngay tại dưới bài viết này. Cuộc thi vẫn sẽ diễn ra dù có 1 người đăng kí.

Mỗi một đợt (3 – 4 tuần) các bạn cần hoàn thành tất cả các bài dịch (và sẽ tốt hơn nếu có bài tóm lược) của chủ đề được giao.

Bài dự thi phải được trình bày sáng sủa, tiếng Việt chuẩn và chấm, phẩy phù hợp.

Phần thưởng:

Một quyển Ebook khó tìm hoặc thuộc hàng “top” do Ban quản trị trao tặng. Các bạn có thể xem thêm danh sách ebook tại đây.

Thành quả của các bạn sẽ được đăng lên trang chủ DSYS để chia sẻ với tất cả mọi người. Tên để từng cá nhân hoặc theo nhóm nếu các bạn thích.

 

Xem thêm thông tin và cách thức dự thi tại đây.

Lưng luôn thẳng thì đời mới vui – thoát vị đĩa đệm

Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng là một loại bệnh lý rất thường gặp, tuy không làm chết người nhưng có thể gây đau và tàn phế, ảnh hưởng đến sinh hoạt, lao động và giao tiếp xã hội.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thoát vị đĩa đệm cột sống vùng thắt lưng như lao động nặng lâu ngày, nhấc một vật nặng quá đột ngột và sai tư thế, gây tác động mạnh đến vòng xơ bao quanh đĩa đệm (khi vòng xơ bị vỡ, nhân đệm lồi ra sau chèn ép rễ thần kinh); cũng có khi nhân nhày chui qua các khe hở dây chằng dọc sau vào trong ống sống, chèn ép rễ thần kinh và chùm đuôi ngựa làm rối loạn vận động và cảm giác, đôi khi ảnh hưởng đến cơ vòng gây tiểu khó, triệu chứng thường gặp trong các thoát vị đĩa đệm chui vào trong ống sống chèn ép chùm đuôi ngựa như một giả u (trường hợp này phải mổ cấp cứu).

Chẩn đoán

Trong toàn bộ cột sống, thoát vị đĩa đệm vùng thắt lưng chiếm vị trí hàng đầu, kế đến là vùng cổ. Thoát vị đĩa đệm cột sống vùng thắt lưng, thường gặp nhất là L4-L5 và L5-S1. Đau rễ thần kinh L4, L5 và S1 thường do thoát vị đĩa đệm vùng thắt lưng. Ngoài ra, cũng có một số trường hợp đau các rễ L4, L5 và S1 do hẹp ống sống, điều này có thể chứng minh rõ trên cộng hưởng từ (MRI). Đa số những trường hợp này do lỗ thần kinh bị hẹp chèn ép rễ thần kinh L4, L5 hoặc S1, lỗ thần kinh hẹp thường do phì đại mặt khớp trên, dày dây chằng vàng, đôi khi có lồi nhẹ đĩa đệm hoặc có chồi xương, thường liên quan đến những bệnh nhân thoái hoá cột sống trong nhiều năm. Nói chung, khi có đau vùng thắt lưng lan xuống hai chân hoặc một chân, đôi khi kèm theo tê hoặc không tê chân thì nên làm cộng hưởng từ (MRI) để chẩn đoán chính xác, rồi từ đó thầy thuốc chuyên khoa tư vấn phương pháp điều trị hợp lý nhất.

Khi nào cần phẫu thuật?

Điều trị thoát vị đĩa đệm vùng thắt lưng không phải lúc nào cũng áp dụng phương pháp ngoại khoa (mổ). Đa số các trường hợp phải được điều trị nội khoa (dùng thuốc) từ 3 – 4 tuần, nếu trong thời gian điều trị nội khoa đáp ứng trên 50% là có thể chấp nhận tiếp tục dùng thuốc, nhưng không nên dùng nhiều loại thuốc giảm đau ảnh hưởng đến bao tử và giữ nước làm cho người trở nên mập. Ngoại khoa chỉ được chỉ định sau khi điều trị thuốc không hiệu quả.

Quyết định can thiệp phẫu thuật phải dựa vào hai yếu tố chính: trên lâm sàng có dấu hiệu đau rễ thần kinh điển hình; cộng hưởng từ (MRI) có dấu hiệu rõ ràng của thoát vị đĩa đệm. Các chỉ định phẫu thuật trong trường hợp thoát vị đĩa đệm thắt lưng bao gồm: thoát vị đĩa đệm thắt lưng kèm đau rễ điển hình (đau một hoặc hai chân); thoát vị đĩa đệm thắt lưng kèm teo cơ cẳng chân và tê ở bàn chân – ngón chân; nhân đệm nằm trong ống sống như một khối u; hẹp lỗ thần kinh nặng biểu hiện rõ trên cộng hưởng từ kèm đau rễ và tê chân điển hình. Cho đến nay, hai phương pháp ngoại khoa được áp dụng rất phổ biến trên thế giới để điều trị thoát vị đĩa đệm vùng thắt lưng mang lại kết quả rất tốt là vi phẫu thuật loại bỏ nhân đệm và lấy nhân đệm qua nội soi.

Phòng ngừa

Đau vùng thắt lưng xảy ra thường xuyên ở người trên 40 tuổi, khi cột sống dễ bị thoái hoá, các khối cơ dọc cột sống ở phía sau rất dễ bị kích thích làm đau vùng thắt lưng, thậm chí đau lan đến vùng lưng gây ra khó khăn trong đi lại hoặc khi nằm nghỉ, hoặc đau tăng lên khi làm việc lâu ngày hoặc ngồi lâu tại bàn làm việc. Đối với những người có cột sống bị thoái hoá, dân gian thường cho là cột sống mọc gai hoặc mặt khớp của đốt sống bị viêm làm ảnh hưởng đến lao động chân tay hoặc làm việc ở văn phòng. Đôi khi những người này ngồi lâu trên bàn làm việc cũng bị đau vùng thắt lưng. Những trường hợp đau này nếu đứng dậy đi lại tới lui trong vòng 10 – 15 phút cho các cơ cạnh cột sống không bị co thắt thì cơn đau sẽ giảm và có thể tiếp tục công việc trở lại.

Người lớn tuổi luôn phải giữ khối cơ cạnh cột sống trong tình trạng tối ưu như căng giãn khối cơ này một cách chậm chạp và điều hoà, không có những động tác quá đột ngột làm cho khối cơ đó quá kích thích dẫn đến co thắt dữ dội gây đau. Nên tập thể dục mỗi ngày như bơi lội, đi bộ tốc độ hơi nhanh, cũng có thể chạy bộ. Buổi sáng là thời gian lý tưởng nhất để vận động bởi lưng người lớn tuổi sau một đêm nằm ngủ không hoạt động thì các khối cơ cạnh cột sống trở nên cứng, đó là lý do nhiều người than phiền khi ngủ dậy không thể ngồi hay đứng lên ngay được, phải ngồi dậy và đứng lên từ từ để các khối cơ vùng thắt lưng hoạt động trở lại và mềm mại hơn (thông thường phải mất 15 – 30 phút). Người ta ước tính áp lực bên trong đĩa đệm sẽ tăng 200% khi chuyển từ tư thế nằm nghiêng sang đứng, và giảm nhanh 400% khi ngồi ở ghế với tư thế thoải mái. Cho nên, biết chọn tư thế ngồi đúng và dễ chịu sẽ làm giảm áp lực trong đĩa đệm, từ đó tránh được đau lưng và gây lồi đĩa đệm.

Khi chúng ta nhấc một vật nặng, nếu để lưng và thắt lưng cong (gập lại), sau đó có thể bị đau vùng thắt lưng, thậm chí bị thoát vị đĩa đệm vùng thắt lưng. Đối với người đã bị đau vùng thắt lưng mãn tính, động tác sai tư thế như trên thậm chí có thể làm đĩa đệm chui vào trong ống sống gây chèn ép nặng rễ thần kinh và chùm đuôi ngựa, đôi khi không thể đi lại được hoặc đau dữ dội với bất cứ tư thế nào. Những trường hợp này cần phải được các thầy thuốc chuyên khoa ngoại thần kinh và cột sống tư vấn sau khi chẩn đoán xác định bằng cộng hưởng từ (MRI), phương tiện chẩn đoán chính xác loại bệnh lý này.

PGS.TS.BS VÕ VĂN NHO

Học tiếng Pháp cùng DSYS – Manquer

Học tiếng Pháp cùng DSYS – Manquer

Động từ manquer . Ý nghĩa đầu tiên của manquer là ” thiếu , hụt, ”
Ví dụ :
1-Il manque de courage = anh ấy thiếu can đảm .
2- Il arrive en retard, il manque le début du film. = anh ấy tới trễ, anh ấy hụt mất đoạn đầu cuốn phim.
3- Il manque l’autobus = anh ấy lỡ chuyến xe bus.
Ngoài ra động từ manquer còn một ý nghĩa khác, là ” nhớ nhung ”
Ví dụ :
Tu me manquerais = tôi nhớ bạn lắm.
Je te manque ? = bạn có nhớ tôi không.
Il me manque énormément mais je ne sais pas si je lui manque ou non = tôi nhớ anh ấy kinh khủng nhưng tôi không biết anh ấy có nhớ tôi hay không.
Ở đây cách dùng dễ làm người học nhầm lẫn về ngôi đại từ, do vậy mod dịch các ngôi thứ nhất và thứ hai bằng “tôi, bạn “,chứ không dịch ” anh,em hay em, anh ” , dù chữ je và tu là dùng rất thân mật như ” anh, em ” trong tiếng Việt.
Ngoài ra đễ dịch động từ ” nhớ ” trong tiếng Việt, ta có ” se souvenir de + nom hay là se rappeler ”
Ví dụ : Il se souviens de ce voyage = anh ấy nhớ về chuyến đi này.
Nous nous rappelons ce moment = chúng thôi nhớ khoảng khắc ấy.
Je me suis rappelé de lui téléphoner = Tôi đã nhớ gọi điện cho anh ấy ( ở đây dùng một infinitif thì se rappeler de + infinitif ).
Có một tình huống khác khi dùng chữ ” nhớ ” .
” Anh còn nhớ tôi không ? “/ ” Cô có nhớ tôi không ?. Ở đây chỉ là ” Anh có nhận ra tôi không ?” / Cô có nhận ra tôi không ?. = Vous me reconnaissez ?.

Xem thêm tại đây.

Hỏi đáp sinh lý học – Tế bào thần kinh

Hỏi đáp Sinh lý học – tế bào thần kinh.

A 5 year boy is brought to his physician after his parents noticed he had difficulty moving his legs and arms after a soccer game. After a physical exam, he was diagnosed with elevated blood K+- induced paralysis. He was advised to avoid high potassium foods, strenuous exercise, and fasting. What is the effect of increased extracellular K+ on the resting cell membrane potential of a neuron?

An increase in the ECF potassium concentration (hyperkalemia) will cause the resting membrane potential to move towards threshold (depolarize). This makes opening the voltage gated Na+ channels to trigger an action potential easier. Neurons become hyper-excitable.

What is responsible for the repolarization phase of an action potential in a nerve?

Opening of the voltage gated potassium channel with the exiting of potassium and inactivation of the voltage gated sodium channels leads to repolarization.

Define EPSP, IPSP, and threshold.

Excitatory postsynaptic potential (EPSP) is a depolarizing graded potential in the postsynaptic neuron in response to activation of excitatory synapse.
Inhibitory postsynaptic potential (IPSP) is a hyperpolarizing graded potential that decreases the likelihood the postsynaptic neuron will fire an action potential (or decreases frequency of existing action potentials).
Threshold is the membrane potential at and above which an excitable cell fires an action potential.

Why does nitrous oxide, a gas, affect both the pre and post synaptic cells?

They are gases which diffuse across the synapse and enter both the pre and postsynaptic cells.

 

Bướu trán – Frontal bossing

Bướu trán

(Frontal bossing)

Nguyễn Phước Long – Nguyễn Thiện Luân

Mô tả triệu chứng

Đây là một tình trạng trán lồi lên (prominence) bất thường.

Tình trạng đi kèm

Phổ biến

–         Bệnh to cực (còn gọi là to đầu chi) – Rất thường xuất hiện cùng nhau, nhưng bản thân bệnh to cực là một rối loạn hormone hiếm gặp.

–         Hội chứng NST X dễ gãy – nguyên nhân thường gặp của chậm phát triển tâm thần ở nam, hộp sọ lớn có trán dồ (prominent forehead).

–         Sự tạo máu ngoại tủy (extramedullary haematopoiesis) – Xem thêm mô tả về “gương mặt sóc chuột (chipmunk facies)” ở chương 4, phần dấu hiệu ung bướu/huyết học.

Ít phổ biến

–         Hội chứng tích tụ hắc bào lớp đáy (basal cell naevus syndrome) hay còn gọi là hội chứng Gorlin – một tình trạng di truyền trội NST thường hiếm gặp. Ngoài triệu chứng bướu trán, bệnh nhân còn có thể có hàm nhỏ (small jaw), hóc mắt gian xa (ocular hypertelorism), u nang vùng họng.

Hình Mô tả một bệnh nhân nam 67 tuổi với hội chứng Gorlin (do người dịch cung cấp).

–         Giang mai bẩm sinh.

–          Cleidocranial dysostosis (tạo xương sọ – đòn bất toàn) – Một tình trạng rối loạn di truyền trội trên NST thường hiếm gặp. Đặc trưng bởi sự khiếm khuyết một phần hay toàn bộ xương đòn, khiếm khuyết cốt hóa sọ (defective ossification of the skull) và lệch diện khớp răng (faulty occlusion) do thiếu răng, răng mọc sai chỗ hoặc dư răng (supernumerary teeth).

Hình mô tả gương mặt, răng và xương đòn của bệnh nhân mắc cleidocranial dysostosis (do người dịch cung cấp).

–         Hội chứng Crouzon (Crouzon syndrome, hay branchial arch, hay pharyneal syndrome) là một rối loại di truyền do đột biến gene FGFR2 và FGFR3 (gene mã hóa cho Fibroblast growth factor receptor 2 và 3 – protein chịu trách nhiệm biến các tế bào chưa trưởng thành biệt hóa thành tế bào xương trong giai đoạn phát triển phôi). Rối loạn này gây ảnh hưởng đến sự hợp nhất sớm bất thường của các xương sọ (craniosynostosis). Điều này làm cho cấu trúc hộp sọ phát triển không bình thường, gây nên biến dạng đầu – mặt.

–          Hội chứng Hurler (mucopolysaccharidosis I, MPS-I) thường xảy ra ở trẻ từ 3 – 8 tuổi. Biến dạng mặt xảy ra trong khoảng 2 năm đầu đời. Đây là một tình trạng rối loạn chuyển hóa di truyền hiếm gặp. Nguyên nhân là do cơ thể không tạo được lysosomal α-L-iduronidase – một enzyme có tính cơ hữu toàn cơ thể, đặc biệt là ở dịch nhầy do tế bào đài tiết ra (có chức năng bảo vệ và hỗ trợ hoạt động cho các cơ quan, như phổi, hệ tiêu hóa, sinh dục…) và dịch quanh khớp. Điều này làm cho cơ thể không thể phân giải glycosaminoglycan (GAGs, hay còn gọi là mucopolysaccharides), gây tích tụ và làm tổn thương các cơ quan (đặc biệt là tim, phổi, xương). Lưu ý là cơ thể cần GAGs để tạo xương và mô.

GAGs được chia làm 4 nhóm: (1) Heparin/Heparan sulfate (HSGAGs) – tác nhân chống đông máu (2) Chondroitin/dermatan sulfate (CSGAGs) – thành phần dịch khớp; cả 2 được sản xuất ở bộ Golgi. (3) Keratan sulfate quan trọng trong tạo cầu nối N-glycosyl hay O-glycosyl của các proteoglycan. (4) Hyaluronic acid – thành phần chính của dịch ngoại bào, góp phần chính vào việc tăng sinh và kết tập của tế bào.

–         Hội chứng Pleiffer (tên gọi khác là acrocephalosyndactyly type 5, Craniofacial – skeletal – dermatologic dysplasia hay Noack syndrome) – có phần nào sự chồng lấp với hội chứng Crouzon. Đây là một rối loạn di truyền do sự hợp nhất sớm các xương sọ (craniosynostosis), gây biến dạng đầu mặt. Về cơ chế, nó là hậu quả của đột biến geneFGFR1 và FGFR2, cùng có vai trò biến tế bào chưa trưởng thành biệt hóa thành tế bào xương ở giai đoạn phát triển phôi. Sự đột biến này làm lộ trình tín hiệu của FGFR1và/hoặc FGFR2 kéo dài, gây hợp nhất sớm không chỉ ở xương sọ mà còn ở tay và chân.

–          Hội chứng Rubinstein – Taybi – Người bệnh có gương mặt đặc biệt, dáng người thấp, trí thông minh bị suy giảm từ mức trung bình đến nặng, khiếm khuyết mắt – tim – thận – răng và béo phì. Ung thư mô tạo máu (leukemia) thường xảy ra ở những người có hội chứng này.

Các đột biến trên gene CREBBP (mã hóa CREB), EP300, đột biến mất chất liệu di truyền trên NST 16 là các thay đổi di truyền liên quan đến hội chứng Rubinstein – Taybi.

–          Hội chứng Russell – Silver là một rối loạn chậm tăng trưởng trước và sau sinh. Trẻ em có tình trạng này thường có cân nặng lúc sinh thấp và thường không thể tăng cân như tỉ lệ trông đợi. Về gương mặt, chúng có gương mặt hình tam giác (triangular face) với trán dồ, cằm nhọn (narrow chin), hàm nhỏ,… Các rối loạn cũng có thể xảy ra ở một số phần của cơ thể như bất thường hệ tiêu hóa, chậm hiểu và chậm phát triển nhận thức.

Tới 40% số trường hợp không xác định được nguyên nhân nhưng hội chứng Russell – Silver có nguyên nhân di truyền phức tạp. Các nghiên cứu được tiến hành chú trọng đến các vùng đặc biệt của NST số 7 và số 11. Cần lưu ý rằng, người ta chỉ ra rằng ít nhất 1/3 số nguyên nhân liên quan tới hiện tượng methyl hóa DNA, đặc biệt là methyl hóa gene H19 và IGF2 ở NST 11. Khoảng 7 – 10% là do trẻ mắc bệnh nhận cả 2 NST số 7 từ mẹ (maternal uniparental disomy, UPD).

Cơ chế

Nhìn chung, triệu chứng bướu trán (frontal bossing) này liên quan tới các rối loạn thăng bằng của các hormone tăng trưởng ảnh hưởng tới mô cơ thể, nhất là mô xương.

Trong bệnh to cực, quá nhiều hormone tăng trưởng tuần hoàn gây ra sự tăng trưởng quá mức của hộp sọ và đặc biệt ở vùng trán.

Xem thêm các hội chứng phía trên để hiểu rõ từng trường hợp cụ thể.

Các câu hỏi, ý kiến thảo luận cũng như đóng góp cho bài viết vui lòng gửi về diễn đàn docsachysinh.com:

http://www.docsachysinh.com/forum/ hoặc

http://www.docsachysinh.com/forum/index.php?forums/noi-tiet-hoc-endocrinology.96/

Bệnh lý võng mạc do đái tháo đường

Bệnh lý võng mạc do đái tháo đường

(Diabetes retinopathy)

Nguyễn Thiện Luân – Nguyễn Phước Long

 

A. Các đốm xuất huyết nhỏ, vi phình mạch, các mảng xuất tiết nặng (mảng lipid), bệnh lý võng mạc hình vòng (circinate retinopathy), bất thường vi mạch trong võng mạc, và phù hoàng điểm. B. Chụp mạch huỳnh quang (fluorescein angiography) của mắt ở hình A. Vi phình mạch dưới dạng các đốm bắt huỳnh quang sáng hơn, tuy nhiên các đốm xuất huyết lại không bắt huỳnh quang. Vùng vô mạch rộng hơn.

Chỉnh sửa dưới sự cho phép từ Yanoff M, Duker JS, Ophthalmology, 3rd edn, London: Mosby, 2008: Fig 6-19-1.

 

Hình ảnh bệnh võng mạc không tăng sinh với các vết xuất huyết, mảng xuất huyết và xuất tiết dạng bông.

Chỉnh sửa với sự cho phép từ Yanoff M, Duker JS, Ophthalmology, 3rd edn, London: Mosby, 2008: Fig 6-19-2.

 

Bệnh võng mạc tăng sinh nặng do đái tháo đường với các hình ảnh xuất tiết dạng bông, bất thường vi mạch trong võng mạc và chảy máu tĩnh mạch.

Chỉnh sửa với sự cho phép từ Goldman L, Ausiello D, Cecil Medicine, 23rd edn, Philadelphia: Saunders, 2007: Fig 449-16.

Mô tả triệu chứng

“Bệnh lý võng mạc do đái tháo đường” là một thuật ngữ mang tính khái quát (umbrella term) mô tả những biến đổi đặc trưng ở mắt trong bệnh cảnh đái tháo đường. Một số thuật ngữ và nguyên nhân có sự trùng lắp với bệnh lý võng mạc do tăng huyết áp (hypertensive retinopathy) và có chung một số con đường đích (final pathways). Xem thêm mục “Bệnh lý võng mạc do tăng huyết áp” ở Chương 3, “Các triệu chứng tim mạch” (“Cardiovascular signs”).

Bệnh võng mạc do đái tháo đường có thể được phân thành một số nhóm như ở bảng 7-1.

Đọc bài đầy đủ  tại đây.

Học như thế nào?

Tôi rất hay được các em học sinh, sinh viên và các bậc phụ huynh hỏi về “bí quyết học tập”. Tôi thường trả lời “Không có bí quyết gì cả. Quan trọng là niềm say mê.” Trả lời như vậy là một cách né tránh. Không sai nhưng cũng không đầy đủ. Tôi bắt buộc phải trả lời như thế khi mình chưa bao giờ suy nghĩ về vấn đề này một cách thấu đáo. Nhưng không thể nào né tránh được mãi câu hỏi này. Cũng không thể nào trút hết trách nhiệm lên đầu người khác bằng cách nói: “đây là chuyện chuyên môn của những người làm công tác nghiên cứu khoa học giáo dục”.

Điểm lại cuộc đời mình, tôi thấy cho đến thời điểm này mình không làm gì khác ngoài việc đi học, sau đó dạy học và nghiên cứu khoa học. Trong quá trình ấy, chắc tôi cũng đã từng có những suy nghĩ riêng. Chỉ có điều những suy nghĩ đó chưa bao giờ được được sắp xếp lại một cách hệ thống và được diễn đạt một cách mạch lạc. Chuẩn bị cho buổi nói chuyện này là cơ hội rất tốt để tôi làm việc này, cái việc mà phải thú thật là rất vất vả nhưng hy vọng là có ích.

Tôi xin cảm ơn International Peace Foundation và trường Đại học bách khoa đã cùng tổ chức sự kiện này. Cảm ơn tất cả các quí vị, các bạn sinh viên, học sinh đã đến dự buổi nói chuyện ngày hôm nay. Sự quan tâm của quí vị là động cơ mạnh để tôi hoàn thành bài trao đổi này.

Dàn bài của tôi dựa vào ba câu hỏi. Thứ nhất: cái gì là động cơ căn bản cho việc học tập. Thứ hai: học chữ hay học làm người? Thú thực là tôi không thích câu hỏi này, vì nó rất mập mờ và đa nghĩa. Nhưng tôi sử dụng chính tính đa nghĩa của nó để triển khai thành các câu hỏi nhỏ xung quanh việc học cái gìCâu hỏi cuối cùnglàm thành nhan đề của bài nói chuyện này: học như thế nào? Tôi không có tham vọng đưa ra câu trả lời thấu đáo, đầy đủ cho cả ba câu hỏi trên, mà chỉ có ý định sắp xếp lại những suy nghĩ tản mạn của mình thành những câu trả lời không cầu toàn. Tôi hy vọng rằng vào cuối buổi nói chuyện, chúng ta sẽ còn thời gian để trao đổi thêm.

Về sự hướng thượng và hướng thiện

Sách Tam Tự Kinh mà các cụ học ngày xưa bắt đầu bằng câu “Nhân chi sơ, tính bản thiện”. Con người được sinh ra có bản tính vốn là hiền lành. Liệu có đúng không nhỉ ? Tin tức hàng ngày dễ làm cho người ta nghi ngờ cái “tính bản thiện” của “nhân chi sơ”. Đầu tháng Một ở Ấn độ, một cô gái 23 tuổi bị sáu người đàn ông hãm hiếp đến chết trên một chiếc xe buýt. Cuối tháng Một, ở Bắc Ninh, người ta nô nức, chen lấn nhau tham gia lễ hội chém lợn. Con lợn bị nhát đao xẻ làm hai mảnh lăn quay trong vũng máu lênh láng và trong tiếng hò reo của những người trảy hội. Đây là những hiện tượng dị biệt, không tiêu biểu cho cuộc sống của người dân Ấn độ và Việt nam. Tôi nêu chúng ra như ví dụ vì chúng cùng phản ánh sự độc ác của con người một cách vô cùng rõ nét. Xét cho cùng, giết lợn cũng chỉ là việc giết động vật để ăn thịt, cái mà con người buộc phải làm để duy trì cuộc sống của chính mình. Hãm hiếp cũng nảy sinh từ một bản năng cơ bản của con người là bản năng duy trì nòi giống. Phải chăng, con người được sinh ra với hai bản năng cơ bản duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống, cái mà ở trong đó đã có sẵn mầm mống của cái ác, của cái ác khủng khiếp. Nếu chỉ dừng lại đây thì quả khó mà tin được vào cái “Nhân chi sơ tính bản thiện”.

Nếu con người được sinh ra chỉ có hai bản năng nói trên thì chắc rằng hai sự việc kể trên sẽ không phải là những hiện tượng dị biệt, mà ngược lại, là phổ biến, đến mức không làm chúng ta kinh ngạc hay xúc động nữa. Có thể tôi còn là một người lạc quan, nhưng tôi tin rằng con người được sinh ra còn có một bản năng khác nữa: đó là bản năng hướng thượng, hướng thiện. Nhìn vào một đứa trẻ sơ sinh, xinh xắn như một thiên thần ta có thể nghĩ rằng đó là hiện thân của sự tốt đẹp. Nhưng cái kiểm soát mọi hành động của đứa trẻ là chỉ đơn thuần bản năng sinh tồn của nó. Tôi nghĩ rằng, trong đứa trẻ không có sẵn một tâm hồn cao thượng, nhưng đã có sẵn tiềm năng để xây dựng nên từ đó cái tâm hồn ấy. Theo tôi, nếu có “tính bản thiện” của “nhân chi sơ”, thì nó chính là cái tiềm năng ấy.

Cái tiềm năng ấy được triển khai trong học tập và là động cơ chính cho việc học tập. Có thể có người không đồng ý với quan điểm này và cho rằng học là để sau này có một cuộc sống tử tế, để sau này có một vị trí tốt trong xã hội. Tôi cho rằng cách suy nghĩ như vậy là phiến diện. Thứ nhất, để có một cuộc sống tử tế, đó cũng chính là biểu hiện của sự hướng thượng, hướng thiện – tất nhiên một khi nó đã biến thái để nhắm tới cái đích là hưởng thụ một cuộc sống an nhàn nhờ vào sức lao động của người khác, thì cái động cơ hướng thượng hướng thiện đó đã bị tha hoá nghiêm trọng. Thứ hai, tôi tin rằng đa số người ta thực ra không có khả năng phấn đấu vì một cái gì xảy ra trong một tương lai quá xa, phần lớn người ta học chỉ vì đó là cách hoàn thiện bản thân mình, tức là học với một động cơ hướng thượng thuần khiết nhất. Vì vậy, nhiều khi chính quan niệm xã hội lại làm tha hoá một động cơ mà bản chất là thuần khiết.

Cần lưu ý là quan niệm xã hội không phải là cái duy nhất làm cho sự hướng thượng hướng thiện bị tha hoá. Tôn thờ cá nhân, có thể là lãnh tụ, danh thủ bóng đá, hay là ca sĩ Hàn quốc, là một hình thức tha hoá của sự hướng thượng. Bản năng hướng thượng, hướng thiện luôn phải vật lộn với hàng loạt bản năng xấu: tính lười biếng, tính đố kỵ, tính gian dối, tính hiếu thắng, tự phụ. Bị tha hóa, nó không còn mấy cơ hội để làm động cơ cho việc học tập.

Học chữ hay học làm người?

Gần đây, trên báo chí có khá nhiều người ở đặt ra câu hỏi “Cần học chữ hay học làm người?” Hoặc giữa hai cái, cần học cái nào trước. Câu hỏi này thực ra tối nghĩa. Học chữ, là tiếp thu kiến thức. Còn học làm người là như thế nào, hẳn có nhiều cách hiểu khác nhau. Có thể hiểu theo nghĩa hẹp: học làm người như học kỹ năng sống, học nghệ thuật sống, tóm lại là học những hành vi văn minh. Cũng có thể hiểu học làm người theo nghĩa rộng tức là học những gì làm nên cốt cách của một con người – như vậy thì lại quá rộng, và bao hàm nốt cả học chữ rồi. Có lẽ vì ý nghĩa của câu hỏi không được phân tích rạch ròi mà nhiều cuộc thảo luận trên báo chí về đề tài có cái vẻ gì đó hơi luẩn quẩn.

Trong cái nghĩa hẹp, có thể đặt lại câu hỏi trên khác đi, và làm cho nó rõ nghĩa hơn: “Trường học phải dạy chữ hay dạy kỹ năng sống, nghệ thuật sống?” Có vẻ như càng ngày càng có nhiều người ngả về quan điểm hiện đại “Trường học phải dạy cho trẻ kỹ năng sống”. Quan điểm cổ điển được nhà triết học Đức Hannah Arendt phát biểu rành rọt trong bài viết “Khủng hoảng trong giáo dục” như thế này: “Chức năng của nhà trường là dạy cho trẻ thế nào là thế giới, chứ không phải là rèn cho chúng nghệ thuật sống”. Tôi đồng ý với quan điểm này, và trong phần tiếp theo của bài viết quan điểm này sẽ được làm rõ hơn lên.

Ẩn trong câu nói của bà Hannah Arendt, có cả câu trả lời cho câu hỏi học làm người theo nghĩa rộng. Học làm người là học về thế giới, trong đó có thế giới tự nhiên và thế giới con người, để mỗi cá nhân nhận thức được vị trí của mình ở trong đó, nhận thức hết các tương tác giữa cá nhân mình với những người khác, để triển khai mọi tiềm năng của mình, để hoàn thiện mình và đồng thời làm cho thế giới xung quanh trở nên một nơi an toàn hơn, thân thiện hơn cho cuộc sống.

Để trẻ có kỹ năng sống, người lớn phải là tấm gương

Tôi từng nghe người ta kể chuyện một đứa bé sơ sinh bị sói tha đi. Sau này người ta tìm lại được đứa bé. Tuy vẫn còn hình hài của một con người, tính nết của nó là tính nết của loài sói. Ở đây, chính cái “tiềm năng hướng thượng, hướng thiện” đã biến nó thành người sói. Đối với nó, cái đại diện cho sự tốt đẹp chính là mẹ sói của nó. Mẹ sói cho nó bú, tha mồi về cho nó ăn. Đứa trẻ lớn lên giữa bày sói tất trở thành một con sói, cái nó coi là tốt là cái tốt của loài sói. Kể ra nếu nó tiếp tục sống trong rừng cùng với bày sói thì như thế cũng không sao. Bi kịch đến với nó vào cái ngày mà người ta buộc nó quay lại sống với con người.

Ở Lào, ở Thái Lan có phong tục gửi trẻ nhỏ vào sống ở trong chùa một thời gian, từ ba ngày, ba tuần, ba tháng cho đến ba năm. Ở trong chùa, ngoài việc học kinh kệ, trẻ còn học yêu quí cuộc sống thanh đạm, ngăn nắp của người tu hành. Khi đi thăm Lào và Thái Lan, người ta luôn cảm thấy ngạc nhiên về sự sạch sẽ, ngăn nắp của làng quê, kể cả ở những nơi nghèo nhất.

Tôi xin phép dẫn thêm một ví dụ cá nhân, nhỏ nhặt và tầm thường thôi. Vợ chồng tôi ít xem vô tuyến, hầu như không xem bao giờ. Có lẽ vì thế mà mấy đứa con của chúng tôi hoàn toàn không có sở thích xem truyền hình, bố mẹ không cần cấm đoán hay hạn chế gì cả. Nếu có thời gian, chúng nó thích đọc sách hơn. Nhiều khi tôi muốn xem phim cùng với đám trẻ con, tôi lại phải mặc cả với chúng.

Những ví dụ này nhắc nhở chúng ta, những người có bổn phận làm người lớn, đừng bao giờ quên rằng dù muốn hay không muốn, chúng ta luôn là tấm gương để cho trẻ soi vào. Ngoài trách nhiệm cho trẻ một mái nhà, cung cấp thức ăn cho đủ no, quần áo cho đủ mặc, người làm cha mẹ luôn phải tâm niệm rằng mình cư xử ngày hôm nay như thế nào, ngày mai trẻ sẽ cư xử giống như thế. Đó là bài học của chuyện cái máng gỗ mà chắc các bạn đều biết cả.

Cái tôi muốn nói là nếu người lớn biết cư xử đúng mực thì trẻ con không cần đi học những lớp kỹ năng sống nữa. Và người có trách nhiệm chính trong việc giáo dục hành vi cho trẻ là cha mẹ, gia đình, chứ không phải nhà trường. Những bài lên lớp của thầy cô giáo không có cùng tác dụng nhiều lên hành vi của đứa trẻ như chính hành vi của cha mẹ nó.

Tất nhiên tôi không muốn nói rằng trường học hoàn toàn không có chức năng giáo dục hành vi cho trẻ nhỏ. Trong tâm hồn trẻ nhỏ, thầy cô giáo có một vị trí thiêng liêng, có lẽ thiêng liêng hơn bố mẹ, vì thế nên cách ứng xử của các thầy cô trong cuộc sống nhà trường sẽ ảnh hưởng trực tiếp hành vi của học sinh. Nhưng không vì thế mà cha mẹ có thể trút toàn bộ trách nhiệm giáo dục hành vi của trẻ lên vai thầy cô giáo.

Vai trò của giáo dục nhân văn trong sự hình thành nhân cách

Khi đứa bé mới ra đời, bản năng sinh tồn điều khiển mọi hoạt động của nó. Đối với nó, toàn bộ thế giới là bầu sữa mẹ. Khi lớn lên, nó có thêm nhận thức về thế giới xung quanh, về những con người khác. Dần dần nó hiểu rằng không chỉ có nó cần sinh tồn, mà cả những người khác cũng cần sinh tồn như nó. Điều này thoạt nghe thật hiển nhiên, nhưng đó là một bước chuyển hoá vĩ đại của tư duy, đứa trẻ đã chấp nhận sự tồn tại của khách thể, của người khác, như một lực lượng đối lập với bản thân nó.

Chấp nhận sự tồn tại của khách thể là điều kiện để phân biệt giữa cái thiện và cái ác. Cái thiện là sung sướng trong sự hạnh phúc của người khác, đau khổ trong sự bất hạnh của người khác, còn ngược lại cái ác là sung sướng trong sự bất hạnh của người khác, đau khổ với sự hạnh phúc của người khác. Như vậy, khi đứa trẻ còn chưa nhận thức về người khác, theo nghĩa ở trên, các khái niệm thiện và ác chưa thể áp dụng vào nó. Thêm nữa, khái niệm “người khác” không nhất thiết phải là người. Đó có thể là con ong, cái kiến. Đó cũng có thể là con lợn ở Bắc Ninh. Cái cảm giác phấn khích, hân hoan của con người trong cái chết tức tưởi của con lợn biểu đạt cái ác ở trạng thái thuần tuý nhất của nó.

Việc học, theo Hannah Arendt, đó là cố gắng để hiểu thế giới xung quang, trong đó có thế giới tự nhiên và thế giới con người. Nó bắt người ta phải nhận thức về sự tồn tại của người khác, cái là điều kiện để phân biệt giữa thiện và ác. Chỉ biết phân biệt thiện và ác thôi không đủ. Có một câu ngạn ngữ nói rằng “Đường đến địa ngục lát bằng thiện tâm”. Biết phân biệt rành rọt giữa thiện và ác là cần thiết nhưng sẽ thật thiếu sót, thậm chí nguy hiểm, nếu coi việc hình thành nhân cách chỉ đơn giản là phân biệt giữa thiện và ác. Trong phần lớn các trường hợp, vấn đề không phải là ở chỗ phân biện giữa thiện và ác.

Để nhận thức được vị trí của mình trong thế giới, mỗi người phải tự đặt ra cho mình những câu hỏi căn bản nhất về thân phận con người, phải tự tìm ra câu trả lời của mình cho những câu hỏi đó, hoặc ít ra cũng biết về những câu trả lời mà tiền bối đã từng đưa ra. Việc phân biệt giữa cái thiện và cái ác là một trong những câu hỏi như thế, nhưng nó không phải là câu hỏi duy nhất và có lẽ cũng không phải là câu hỏi quan trọng nhất.

Có những câu hỏi thoạt nghe thì có vẻ ngây thơ ví dụ “Những cái gì là nhu cầu căn bản của con người? Tự do và công bằng có phải là như cầu căn bản của con người hay không”. Con người có cả nhu cầu sống trong cộng đồng, trong xã hội, vì mỗi người không thể làm ra được hết tất cả những gì mình cần. Nếu tự do và công bằng cũng là nhu cầu căn bản thì xã hội phải được thiết kế thế nào để cho tự do của mỗi người và sự công bằng giữa người này và người khác được bảo đảm? Triển khai câu hỏi đến đây thì ta thấy câu hỏi này phức tạp hơn nhiều so với câu hỏi phân biệt giữa cái thiện và cái ác, và có lẽ cũng quan trọng hơn.

Trả lời cho câu hỏi về vai trò của giáo dục nhân văn nói chung vượt ra ngoài khuôn khổ của bài nói chuyện này và khả năng của tôi. Trong phần tiếp theo, tôi muốn thu hẹp câu hỏi lại và trao đổi kỹ hơn về vai trò của giáo dục nhân văn trong sự hình thành nhân cách.

Cơ chế căn bản cho việc hình thành nhân cách là chiêm nghiệm về một sự việc cụ thể đã xảy ra trong một hoàn cảnh cụ thể, ngẫm xem người ta đã quyết định như thế nào, đã làm gì, và hậu quả, ảnh hưởng của việc đó lên cuộc sống của người khác và của chính người đó như thế nào. Có thể thấy rằng con người chiêm nghiệm bằng xúc cảm nhiều hơn là bằng tư duy.
Người ta chiêm nghiệm sâu sắc nhất về những gì xảy ra với chính mình, hoặc là xảy ra với người thân của mình, vì những trải nghiệm đó để lại những xúc cảm mạnh nhất. Nhưng nói chung, trải nghiệm của một người trẻ, kể cả những trải nghiệm được gia đình chia sẻ, không đủ phong phú để người đó hình thành một nhân cách vững vàng. Vốn trải nghiệm của anh ta sẽ giàu có hơn nhiều, nếu anh ta biết đặt mình vào trong lịch sử, nơi những câu chuyện của quá khứ được ghi lại một cách trung thực, hoặc là trong văn học, nơi có những câu chuyện lớn, tuy có thể là được hư cấu, nhưng luôn xuất phát từ sự trải nghiệm chân thực của nhà văn.
Trong một bài viết trên blog cá nhân, đặt tên là Giữ ký ức, tôi có kể câu chuyện về học sinh phổ thông ở Đức học về tội ác của chế độ quốc xã lên người Do thái như thế nào. Học sinh Đức học ở trong sách vở, đọc nhật ký của cô bé Anne Frank viết khi trong thời gian hai năm trốn trong góc tủ để rồi cuối cùng cũng bị bắt rồi bị giết. Họ đi tham quan trại tập trung Buchenwald. Nhưng đáng ngạc nhiên hơn cả là học sinh Đức còn phải tự đi điều tra xem xung quanh nơi mình ở, trước đây đã từng có người Do thái nào sống, họ tên là gì, họ đã bị bắt trong hoàn cảnh nào, đã bị giết chết như thế nào. Làm như thế để cho những trải nghiệm trở nên gần gũi nhất. Một vài tháng sau khi viết bài này, tôi có nói về chuyện với một nhiếp ảnh gia người Đức, ông ấy nói người Đức phải làm như thế vì nếu không họ sẽ lại phạm lại đúng những sai lầm khủng khiếp nhất trong quá khứ. Giáo sư Hà Huy Khoái cũng bình luận như thế này: “Người Đức khôn thật, họ cho học sinh học thuộc bài lịch sử! Dân tộc nào không làm điều đó, chắc chắn phải học đi học lại nhiều lần. Chưa thuộc bài nào, lịch sử sẽ bắt học lại bài đó. Mà mỗi lần học lại, thi lại đều phải trả giá đắt hơn trước. Giá ở đây có thể là máu, không chỉ là tiền như sinh viên thi lại!”.

Tôi nghĩ về câu chuyện này từ một khía cạnh khác. Trải nghiệm chân thực về những sự thật dù đau đớn đến mấy cũng làm cho cốt cách con người trở nên mạnh mẽ, trái với những sự dối trá, có thể ngọt lịm, nhưng luôn làm tha hoá tâm hồn con người. Chức năng của giáo dục nhân văn không phải là ngợi ca cái thiện, phê bình cái ác mà là giúp con người tìm đến sự thực và để cảnh giác với sự dối trá của người khác và của chính mình. Cảnh giác với bản năng lười nhác, ích kỷ và hèn nhát, những cái rất giỏi ngụy trang trong tấm áo thiện tâm để dắt tay con người đi về địa ngục, cái không phải là gì khác mà chính là sự tha hóa hoàn toàn của tâm hồn con người. Giáo dục nhân văn nghiêm túc rèn cho chúng ta thái độ nỗ lực không mệt mỏi trong cố gắng đi tìm sự thật cùng với khả năng chiêm nghiệm bằng tư duy vì nếu chỉ chiêm nghiệm bằng xúc cảm, con người rất dễ bị đánh lừa.

Tôi đã nhắc đến chuyện bản năng hướng thượng hướng thiện của con người rất dễ bị tha hoá để trở thành hiện tượng sùng bái cá nhân, có thể xuất hiện dưới dạng là sùng bái lãnh tụ hoặc ca sĩ Hàn quốc. Vai trò của giáo dục nhân văn là dắt tay con người đi theo “tấm biển chỉ đường của trí tuệ” để đi về với cái chân thiện, chân mỹ.

Ngôn ngữ và thái độ khoa học

Nếu bản năng hướng thượng, hướng thiện là động cơ của học tập, nó không phải là công cụ. Con người biểu đạt sự hiểu biết về thế giới khách quan bằng lời. Con người thụ hưởng vốn hiểu biết mà nhân loại tích tụ được thông qua ngôn ngữ. Có hai thái độ ứng xử với ngôn ngữ đối lập nhau, dẫn đến hai phương pháp tư duy đối lập nhau: một bên là thái độ tôn giáo, coi ngôn từ như đối tượng để tôn thờ, một bên là thái độ khoa học, coi ngôn từ như một công cụ để định hình tư tưởng.

Định nghĩa chữ Đạo trong Đạo Đức Kinh là điển hình của thái độ tôn giáo đối với ngôn từ. Đạo được mô tả như thế này, như thế kia, Đạo không phải là thế này, không phải là thế kia, nhưng không một lần Đạo được định nghĩa là cái gì. Đạo là một từ đại diện cho một khái niệm linh thiêng không định nghĩa được, người ta chỉ có thể biết thuộc tính của nó là như thế này, như thế kia, cùng lắm là biết nó không phải là cái gì, tức là hạn chế khái niệm bằng phủ định, chứ không thể nói nó là cái gì, tức là định nghĩa khái niệm bằng khẳng định. Tính linh thiêng của chữ Đạo nằm chính ở chỗ ta không thể định hình được nó.

Tôi dẫn ví dụ Đạo Đức Kinh không với ý muốn đánh giá thấp giá trị triết học của tác phẩm này. Tôi chỉ muốn chỉ ra sự đối lập với giữa thái độ tôn giáo của nó đối với ngôn ngữ và thái độ khoa học. Thái độ tôn giáo với ngôn ngữ đưa đến những luận điểm bao quát, trong bất kỳ hoàn cảnh nào của cuộc sống, con người cũng có thể vận dụng chúng để diễn giải những gì xảy ra với mình, và tự an ủi mình. Mà trên đời này, ai là người không cần được an ủi.

Đóng góp lớn nhất của văn hoá Hy lạp cổ đại cho tư duy loài người có lẽ là sự phát minh ra thái độ khoa học với ngôn ngữ mà điển hình là sách Cơ sở của Euclid. Để nói về hình tròn, người ta không nói nó là cái gì đó giống mặt trời, hay mặt trăng vào thời kỳ trăng tròn, mà người ta định nghĩa đường tròn là tập hợp các điểm có một khoảng cách cho trước đến một điểm cho trước, gọi là tâm của đường tròn. Cái đáng lưu ý nhất là khái niệm luôn được xây dựng trên cơ sở khẳng định: nó là cái gì, chứ không phải trên cơ sở phủ định: nó không phải là cái gì.

Cũng cần lưu ý là ở đây đường tròn không được gán cho bất kỳ một thuộc tính thiêng liêng nào cả, nó chỉ là cái tên đưa ra để định hình khái niệm tập hợp các điểm có khoảng cách cho trước đến một điểm cho trước. Thậm chí trong thực tế, không có cái gì chính xác là hình tròn cả, chỉ có những hình tròn gần đúng mà thôi. Các định nghĩa của Euclid chỉ có giá trị giới hạn trong phạm vi của hình học. Theo một nghĩa nào đó, hình học là một sản phẩm thuần tuý của trí tuệ, là một trò chơi của tư duy. Giá trị lớn nhất của trò chơi này nằm ở ngay trong sự hạn chế của nó. Vì luật chơi bao gồm một số tiên đề, và một số phép suy luận được quy định trước, một phát biểu hình học chỉ có thể hoặc là đúng, hoặc là sai, một chứng minh chỉ có thể là đầy đủ chặt chẽ hoặc là thiếu sót ngộ nhận. Đây là cuộc chơi mà tư duy logic của con người được tha hồ thi thố. Cho đến bây giờ nó vẫn giữ nguyên ý nghĩa đó. Để cho trẻ học được phương pháp lập luận chặt chẽ, không có gì tốt hơn là học hình học Euclid.

Ưu điểm của trò chơi tư duy mà trong các luật chơi được cố định trước là trong phạm vi của cuộc chơi này, mọi cái đúng cái sai đều rõ ràng. Ưu điểm quan trọng khác là con người có thể rút ra kết luận rõ ràng chi tiết từ hệ thống tiên đề và khái niệm, để rồi đem nó ra kiểm chứng, đối chiếu với quan sát thực tế.

Ở điểm này, thiên hướng của khoa học khiêm tốn hơn nhiều so với thiên hướng của tôn giáo. Những luận điểm của tôn giáo thường có tính khái quát cao, nhưng không có tính chi tiết để có thể kiểm chứng đối chiếu được qua các quan sát thực tế. Trong mọi trường hợp tôn giáo yêu cầu người ta phải tin và phải chấp hành. Ngược lại, lý thuyết khoa học đưa ra những luận điểm đủ cụ thể để có thể kiểm chứng với thực tế và dành cho thực tế quyền phán xét cuối cùng. Sự khiêm tốn, luôn đặt mình vào vị trí để cho thực tế phán xét, hoặc khẳng định, hoặc phủ nhận, theo Karl Popper chính là thuộc tính đặc trưng của khoa học, đối lập với tín điều.

Sự khiêm tốn này cũng chính là cái làm nên sức sống của khoa học. Tôn giáo sẽ chết khi con người không còn đặt lòng tin vào tín điều nữa. Còn trong bản chất của mình, luận điểm khoa học chấp nhận sự phủ định, nó như chỉ chờ được thực tế phủ định để hồi sinh, lột xác thành một lý thuyết khoa học mới, phức tạp hơn, có phạm vi ứng dụng rộng hơn lý thuyết cũ.

Trong bản chất, mọi lý thuyết khoa học chỉ mô tả được một phạm vi nào đó của thế giới, lý thuyết càng thô sơ thì phạm vi áp dụng của nó càng hẹp. Đi ra ngoài phạm vi đó là bắt đầu một cuộc chơi mới, con người lại phải sáng tạo một hệ thống ngôn ngữ, khái niệm mới, tìm ra một luật chơi mới. Nhưng không phải vì thế mà lý thuyết cũ nhất thiết phải bị thủ tiêu khi một lý thuyết mới ra đời. Trong phạm vi cuộc sống hàng ngày, khi các vật thể chuyện động chậm hơn nhiều so với ánh sáng, cơ học Newton vẫn đúng.

Người đi tìm hiểu thế giới gần như bắt buộc phải đi lại gần như toàn bộ hành trình tìm hiểu thế giới của loài người. Đây là cái khó khăn rất lớn. Đã có một số quan điểm sai lầm trong giáo dục muốn bỏ qua những lý thuyết khoa học trước đây để đưa học sinh đến với những lý thuyết tiên tiến nhất. Ở phương tây những vào những năm 70 đã có trào lưu xây dựng lại toàn bộ giáo trình toán học dựa theo cách trình bày toán học hiện đại của nhóm Bourbaki. Kết quả của thí nghiệm đại trà này không tốt. Cảm nhận chung là trình độ toán học của học sinh tốt nghiệp phổ thông kém đi nhiều.

Gần đây, con lắc cực đoan có vẻ như bị văng theo hướng ngược lại. Người ta muốn lược đi khỏi chương trình tất cả những gì được coi là không cần thiết cho cuộc sống hàng ngày. Tôi vô cùng ngạc nhiên bởi ý kiến của một vị Giáo sư cho rằng học sinh không cần học vi phân, tích phân vì hàng ngày có ai cần dùng đến vi phân, tích phân đâu. Nhưng chính là nhờ vào thiên tài của Newton và Leibnitz, các hiện tượng tự nhiên được mô tả một cách tường minh dưới dạng phương trình vi phân. Loại bỏ đi đạo hàm tích phân có khác gì tự nguyện quay lại với tư duy mơ hồ của siêu hình trung cổ.

Vấn đề không phải đem những kiến thức khoa học tiên tiến nhất đến cho học sinh, vì có muốn cũng không làm được. Vấn đề cũng không phải là tập trung rèn luyện cho học sinh kỹ năng tính toán để phục vụ cho những nhu cầu hàng ngày. Cái cần làm trang bị cho học sinh phương pháp tư duy khoa học: định hình rõ nét khái niệm, liên hệ những khái niệm đó với thế giới khách quan, biết lập luận, biết tính toán để đưa ra những luận điểm cụ thể, kiểm chứng những luận điểm đó với thế giới khách quan.

Còn một thuộc tính khác của một khoa học có sức sống là khả năng đem đến sự bất ngờ. Hình học Euclid không còn khả năng đưa ra những khẳng định bất ngờ nào nữa và theo nghĩa này, nó là một môn khoa học chết. Nó chỉ còn là một trò chơi trí tuệ để học sinh rèn luyện khả năng tư duy logic. Nhận định của Einstein rằng tia sáng bị uốn cong khi đến gần các vật thể có khối lượng lớn nhờ vào những tính toán trong lý thuyết tương đối là một bất ngờ khi trong hình dung của chúng ta, đường thẳng là đường truyền của ánh sáng. Sức sống của một bộ môn khoa học thể hiện ở chỗ từ một hệ thống khái niệm, tiên đề chấp nhận được, bằng tính toán và lập luận, người ta có thể đưa ra những giải thích chưa biết cho những hiện tượng đã biết, hoặc là tiên đoán về những hiện tượng chưa được biết đến.

Khi khoa học “nhận nhiệm vụ” diễn giải, chứng minh cho một luận điểm cho trước, để phục vụ một mục đích chính trị hoặc tôn giáo, bất kể mục đích đó tốt hay xấu, về mặt thực chất khoa học đã mất đi cái làm nên sức sống của nó. Vấn đề “nhận nhiệm vụ” ảnh hưởng nhiều đến khoa học xã hội hơn là khoa học tự nhiên. Như một số người đã nhận xét, ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ, các ngành khoa học tự nhiên có thể rất phát triển trong khi các ngành khoa học xã hội để lại rất ít dấu ấn vào văn minh nhân loại. GS Hà Huy Khoái có lần phát biểu nửa đùa nửa thật “Thực chất, ở Việt Nam chưa có khoa học xã hội”. Phát biểu của ông đã gây ra những phản ứng khá dữ dội. Nói một cách khách quan hơn, nó có đấy, nhưng nó yếm khí và thiếu sức sống.

Học như thế nào?

Ngày xưa để học được chữ thánh hiền, cái quan trọng nhất là cần có chí. Cái chí để đi bắt đom đóm bỏ vào lọ làm đèn mà đọc sách thâu đêm. Trong công việc học tập bây giờ, trong việc tiếp thu kiến thức khoa học của nhân loại tưởng như vô hạn, chỉ có chí thôi chắc là không đủ.

Như tôi vừa trình bày ở trên, khoa học không bị cái bệnh tự phụ coi những luận điểm của mình đúng một cách tuyệt đối, đúng một cách phổ quát. Mỗi lý thuyết khoa học được khai triển bằng tính toán, bằng lập luận từ một số nhỏ khái niệm, một số tiên đề cơ sở. Mỗi lý thuyết có logic nội tại của nó, nó không tự mâu thuẫn, nhưng những kết luận mà người ta rút ra từ nó chỉ khớp với thực tế khách quan trong một phạm vi nào đó. Theo một nghĩa nào đó, mỗi lý thuyết là một trò chơi trí tuệ, với luật chơi được xác định rõ ràng mà trong đó người chơi có thể triển khai khả năng tư duy của mình để đi đến những kết quả nhiều khi nằm ngoài sự mong đợi ban đầu.

Rất ít khi người ta chơi trò gì một mình. Để cho cuộc chơi thực sự cuốn hút, để cho người chơi có thể thực sự triển khai mọi tiềm năng tư duy của mình để đi đến những kết quả bất ngờ, đi đến sáng tạo, cuộc chơi phải có bạn chơi và phải có trọng tài. Để minh hoạ quan điểm này, tôi xin đưa ra một gợi ý nhỏ, nhưng rất nghiêm túc.

Nhờ vào internet, hiện tại người ta có thể tìm được miễn phí rất nhiều tài liệu học tập miễn phí ở trên mạng. Một số trường đại học có tên tuổi như MIT, Stanford còn tổ chức công bố miễn phí hầu hết các tư liệu học tập. Thay bằng việc phải bỏ ra 50 ngàn đô-la một năm để đến đó học, mà không phải cứ có 50 ngàn đô-la là đã được nhận vào học, bạn có thể truy cập miễn phí các tư liệu học tập, theo dõi các bài giảng video. Vậy có đúng là bạn cứ ngồi ở Hà nội, hay Sài gòn, là cũng có thể học như sinh viên ở MIT hay ở Stanford hay không.

Tôi nghĩ rằng trừ khi bạn có một ý chí sắt đá, dù có được cung cấp tất cả mọi tài liệu trên đời, dù dược theo dõi miễn phí các bài giảng, ở nhà một mình bạn vẫn không thể học được. Bởi vì ngồi theo dõi bài giảng trên mạng một mình không phải là một cuộc chơi thú vị: không có địch thủ, không có đồng đội, không có lộ trình, không thấy mục tiêu, không thấy giải thưởng. Đó là những thứ không liên quan trực tiếp đến nội dung khoa học của bài giảng nhưng đó là cái mà người đi học cần để phấn đấu liên tục. Học một mình, bạn có thể tập trung cao độ trong một hai ngày cho đến một tuần. Nhưng bạn cần có tập thể, có lớp học, có thầy giáo để duy trì nỗ lực học tập.

Gợi ý của tôi là tại sao các bạn không tự tổ chức cùng học theo giáo trình được cung cấp trên mạng. Tại sao không thể dùng trực tiếp bài giảng, tư liệu học tập cung cấp miễn phí trên mạng trong các lớp học chính khoá. Các thầy không nhất thiết phải giảng cả buổi nữa, mà có thể cho sinh viên xem bài giảng trên mạng, có thể làm trước phụ đề tiếng việt, sau đó dành thời gian để giải thích thêm, trả lời câu hỏi của sinh viên, và hướng dẫn làm bài tập. Và cuối cùng là tổ chức thi cử nghiêm túc. Tất nhiên gợi ý thì dễ, mà làm thì khó, nhưng tôi không tin là việc này không thể làm được. Kinh phí để tổ chức lớp học như thế có lẽ là không nhiều lắm, nếu so sánh với học phí 50 ngàn đô la một năm ở MIT hay Stanford.

Với gợi ý có tính suy tưởng này, tôi hy vọng làm nổi lên được sự quan trọng của việc tổ chức học tập. Học tập là một hoạt động tập thể và có tổ chức. Như đã nêu ở trên, thiếu một tập thể có tổ chức, con người nói chung không có khả năng duy trì nỗ lực của mình trong một thời gian dài. Thiếu tranh biện con người nhanh chóng lạc vào con đường chủ quan, con đường luôn dẫn đến cái đích là sự bế tắc. Bản tính con người là hiếu thắng, cái cần thiết để tạo ra sự sôi động trong tranh luận, những cũng là cái làm hỏng cuộc tranh luận, biến nó thành chiến trường để người này đè bẹp người kia. Vì vậy trong mọi cuộc chơi tập thể cần có một luật chơi lành mạnh để cho sự cạnh tranh chỉ tạo ra nỗ lực để mỗi người vượt lên chính mình, chứ không phải là cái cớ để thỏa mãn bản năng hiếu thắng. Và cuộc chơi cần một người trọng tài, nắm vững luật lệ và có thẩm quyền điều khiển cuộc chơi. Ngoài ra, chính những ràng buộc của luật chơi bắt người chơi phải vươn tới sự sáng tạo thực sự.

Tôi để ý thấy người ta phá bỏ luật chơi dễ dàng quá. Tôi xin dẫn một ví dụ nhỏ là việc viết thư giới thiệu. Viết thư giới thiệu là một công việc khá vất vả mà lại không thể mong đợi phần thưởng gì khác ngoài cảm giác hoàn thành bổn phận. Để giới thiệu cho một đồng nghiệp vào một vị trí phó giáo sư, hay giáo sư, thường thì người giới thiệu phải tìm hiểu kỹ công trình của người mình giới thiệu để chỉ ra chỗ nào hay, chỗ nào đặc sắc, chỗ nào thì cũng chỉ bình thường, và nêu ra ý nghĩa chung của công trình. Không viết được đầy đủ nội dung như vậy, thì lá thư giới thiệu không có mấy trọng lượng, mà người viết thư giới thiệu lại có thể bị đánh giá, hoặc là về sự nghiêm túc, hoặc là về trình độ. Viết thư là một việc rất vất vả, mà không có ai khen ông này ông kia viết thư giới thiệu rất hay, vì trên nguyên tắc thư giới thiệu được giữ bí mật. Tóm lại, viết thư giới thiệu là một việc vất vả, không có bổng lộc, nhưng lại cần phải làm để ủng hộ một người đồng nghiệp xứng đáng, hoặc chỉ đơn thuần là để thực hiện bổn phận của mình. Viết thư giới thiệu cho sinh viên cũng mất công, nhưng không vất vả như viết thư giới thiệu cho đồng nghiệp.

Có một lần, một sinh viên mà tôi đã từng dạy ở Hà nội nhờ tôi viết thư giới thiệu. Khi tôi còn đang do dự vì tôi đánh giá bạn ấy không thực sự xuất sắc, thì anh ta gửi cho tôi một bức thư giới thiệu soạn sẵn để tôi chỉ việc ký vào đó. Khi tôi tỏ ra vô cùng ngạc nhiên về cách làm này, thì bạn ấy trình bày là các thầy giáo khác yêu cầu bạn ấy làm như thế. Một số người có thể coi đây là việc nhỏ, nhưng tôi nghĩ chính từ những chuyện nhỏ như thế sẽ làm tha hoá cả hệ thống.

Khi chuẩn bị bài nói chuyện này, ý định của tôi là chia sẻ những suy nghĩ tản mạn của mình về việc học tập, chứ không định phê bình ai cả, càng không có ý định phê bình nền giáo dục ở nước ta. Đã có nhiều người chỉ ra rất nhiều bất cập, tôi không thấy cần thiết phải hoà thêm tiếng nói của mình vào đó. Nhưng nếu chỉ nêu ra một vấn đề, vấn đề lớn nhất, thì theo tôi đó là mức độ tha hóa của hệ thống.

Xin quay lại sự kiện Đồi ngô mà các bạn đều đã biết cả. Đây là một sự kiện vô cùng đặc biệt, vì chuyện thí sinh quay phim giám thị vi phạm qui chế thi là điều chưa từng có tiền lệ trong lịch sử nhân loại. Đây là một câu chuyện rất buồn, nó phải là tiếng chuông cảnh tình về mức độ tha hoá của hệ thống. Hãy khoan quy trách nhiệm cho một cơ quan, một cá nhân nào mà hãy bình tâm suy nghĩ. Để cho một việc như vậy xảy ra, phải có nhiều người từ trung ương đến địa phương, ở trong và ngoài ngành giáo dục, đã không tôn trọng luật chơi. Kết quả là kỳ thi tốt nghiệp, cái đáng ra phải là một thủ tục mang tính nghiêm cẩn, phải là một cái mốc thiêng liêng cho cả quá trình lao động học tập của học sinh, lại trở thành một trò đùa, một trò đùa làm chúng ta muốn khóc.

Nước Mỹ có thể tự hào về những trường đại học của mình. Các đại học ở Mỹ thường là tương đối trẻ, trường đại học Chicago nơi tôi làm việc cũng mới khoảng 100 tuổi, đồng niên với Đại học quốc gia Hà nội. Có lẽ cũng phải trả lời câu hỏi, cái gì là “bí quyết thành công” của họ. Vào thời điểm hiện tại thì ta có thể nói rằng lý do thành công của họ là họ rất giàu, có nhiều giáo sư giỏi, có cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại. Nhưng nói như thế là nhầm lẫn giữa kết quả và nguyên nhân. Ban đầu, họ không giàu, mà cũng không có nhiều người thực sự xuất sắc nếu so với cái trường đại học ở châu Âu vào cùng thời. Tuy không có một câu trả lời duy nhất, nhưng một nguyên nhân chắc chắn được nhắc đến là tinh thần fair-play, mọi hành vi ăn gian đều bị trừng trị một cách vô cùng nghiêm khắc.

Tôi cho rằng sự trung thực là một hành vi khó mà học được từ trong sách vở. Để trẻ học được tính trung thực, trước hết người lớn cũng phải học tính trung thực, để tự biết mà làm gương.

Tôi đã nói nhiều về sự cần thiết của việc tổ chức học tập, tính kỷ luật và tính trung thực. Nhưng bạn có thể thắc mắc rằng tại sao tôi nói về trường học mà cứ như là nói về doanh trại quân đội.

Tính kỷ luật và trung thực tất nhiên là không đủ. Cái còn thiếu chính là “niềm say mê” mà tôi nhắc đến lúc bắt đầu. Say mê đi tìm cái mới, cái chưa biết, tìm lời giải thích cho những gì còn chưa hiểu. Niềm say mê đi từ đâu đến? Thú thực là tôi không biết chắc chắn, và vì thế mà tôi giả sử rằng con người sinh ra với một bản năng hướng thượng, nói cách khác là đã có sẵn trong mình mầm mống của niềm ham mê. Tôi nghĩ rằng thực ra câu hỏi niềm ham mê sinh ra từ đâu không quan trọng bằng làm thế nào để gìn giữ niềm ham mê, và không để cho nó bị tha hoá. Niềm đam mê, tính hướng thượng hướng thiện là động cơ cho việc học tập, và chính việc học tập đích thực là cái nuôi dưỡng sự hướng thượng hướng thiện bởi những giá trị nhân văn chân thiện, chân mỹ, bởi tình yêu sự thật, và bởi niềm hạnh phúc của sự khám phá, để vượt qua biên giới giữa những gì đã biết và những gì chưa biết.

Một người bạn tôi có góp ý với tôi rằng bên cạnh niềm ham mê, đừng quên bổ sung sự quả cảm. Sự quả cảm là cái bạn cần để không để lười biếng, hèn nhát dụ dỗ mà quay lưng lại với sự thật. Sự quả cảm cũng là cái bạn rất cần khi đi tìm cái mới. Bạn có tập thể, có đồng đội để cùng học tập, tiến bộ. Nhưng dựa vào kinh nghiệm cá nhân, tôi thấy rằng khi đã vượt qua biên giới của những gì đã biết để thực sự đuổi theo cái chưa biết, bạn rất cần tính quả cảm vì đi tìm cái mới thường là một hành trình cô đơn, và nó có thể kéo dài nhiều năm.

Lời cảm ơn

Xin chân thành cảm ơn các ông Bùi Đức Lại, Nguyễn Xuân Long, Hoàng Hồng Minh và Nguyễn Phương Văn về những góp ý quí báu.

Tài liệu tham khảo
1. Hannah Arendt: La crise de l’éducation: http://www.meirieu.com/COURSPHILO/textephilo4.pdf
2. Ngô Bảo Châu: Giữ ký ức: thichhoctoan.net/2013/01/16/giu-ky-uc/
3. Hà Huy Khoái: Muốn có ứng dụng, phải có lý thuyết: vnn.vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2006/04/562806/

Ngô Bảo Châuc

Dấu Chvostek trong hạ calci máu

Dấu Chvostek

(Chvostek’s sign)

Nguyễn Phước Long – Nguyễn Thiện Luân

Mô tả triệu chứng

Người khám dùng búa gõ vào má bệnh nhân ở vị trí trước tai và vừa dưới xương gò má. Mục đích của động tác này là để kích thích thần kinh mặt, gây co các cơ mặt cùng bên. Dấu dương tính khi cơ co như hình minh họa. Về mặt ý nghĩa, dấu Chvostek gợi ý tình trạng tetany tiềm ẩn và tăng kích thích thần kinh cơ (neuromuscular excitability).

 

Hình: Dấu Chvotek dương tính. Ảnh được người dịch cung cấp.

Xem thêm dấu Trousseau.

Tình trạng đi kèm

Phổ biến

Hạ calci máu (hypocalcaemia) bởi một trong các nguyên nhân sau:

–          Nhược tuyến cận giáp (hypoparathyroidism) – Đặc trưng bởi tình trạng thiếu hormone tuyến giáp trong cơ thể.

–         Giảm vitamin D.

–          Giả nhược tuyến cận giáp (pseudohypoparathyroidism) – Một rối loạn di truyền với biểu hiện lâm sàng của bệnh lý nhược tuyến cận giáp nhưng khác ở chỗ nó là hậu quả của việc cơ thể không có khả năng đáp ứng lại khi được kích thích bởi hormone tuyến cận giáp.

–         Viêm tụy (pancreatitis).

–         Tăng thông khí/kiềm hô hấp.

Ít phổ biến

–         Hạ magne (Mg2+) máu.

Cơ chế

Tất cả các bệnh nhân có dấu Chvostek dương tính đều ở tình trạng tăng kích thích thần kinh (cơ). Khi thần kinh mặt bị kích hoạt, nó sẽ làm co cơ mạnh một cách bất thường. Có 3 con đường chính như sau.

–         Hạ calci máu: Ion calci rất cần thiết để duy trì tính thấm màng tế bào thần kinh do có khả năng khóa kênh Natri màng. Khi nồng độ calci ngoại bào thấp và/hoặc không hiện diện để làm chức năng của nó, tính thấm của kênh Natri tăng lên, Natri sẽ đi vào tế bào nhiều hơn, tế bào trở nên kém phân cực và dễ bị kích thích đạt ngưỡng điện thế hoạt động.

–         Tăng thông khí và kiềm hô hấp sẽ làm giảm nồng độ ion calci hoạt động (active ionised calcium) do đã bị gắn kết vào protein huyết tương, chủ yếu là AlbuminAlbumin ở pH kiềm sẽ tạo thành một “ổ” điện tích âm do các amino acid thành phần đã bị mất H+, vì vậy có khả năng tạo liên kết có bản chất ion với các ion, đặc biệt là các ion nguyên tố hóa trị II.

Cơ chế được mô tả ở hình dưới đây:

 

Sơ đồ mô tả quá trình tăng không khí – kiềm hô hấp và tăng kích thích thần kinh.

Kiềm hô hấp rất thường xảy ra khi bệnh nhân tăng thông khí vì lượng CO2 bị đào thải liên tục. Cơ chế hóa học với nguyên lý chuyển dời cân bằng và phương trình Henderson – Hasselbach sẽ làm chiều phản ứng ưu tiên về hướng sản xuất lại CO2 thay thế cho lượng mất đi. Cơ chế bù trừ này làm giảm nồng độ H+, gây kiềm hóa máu. Cần lưu ý rằng, nồng độ ion calci tự do lại rất lệ thuộc vào thay đổi pH. Sự kiềm hóa làm giảm ion calci ngoại bào, kênh Natri không bị khóa và sự ổn định điện thế màng không còn được tôn trọng.

–         Hạ Magne máu: Bản thân vai trò của ion Magne trong cơ thể sinh học vẫn còn đang được nghiên cứu, do vậy vai trò của tình trạng hạ Magne máu gây tetany vẫn chưa được hiểu rõ. Tuy nhiên chúng ta đều biết rằng, Magne rất thiết yếu cho việc duy trì, điều hòa kênh và tải ion ở các mô có hoạt động điện mạnh (thần kinh, cơ,…), ảnh hưởng đến hoạt động điện thế màng tế bào.

Một số quá trình tế bào chịu tác dụng bởi Magne cần chú ý bao gồm:

o   Hoạt động Na+/ATPase – Nồng độ Magne thấp làm giảm hoạt tính của nó.

o   Khóa kênh K+ màng tế bào – Nồng độ Magne thấp gây mất nhiều K+ nội bào.

o   Nồng độ Magne thấp ức chế hormone cận giáp và gây hạ Calci máu, góp phần gây tetany.

o   Hoạt động của kênh Ca2+.

Giá trị triệu chứng

Có rất ít bằng chứng về giá trị của một dấu Chvostek dương tính. Tuy nhiên, nó vẫn được chấp nhận là một bằng chứng sơ khởi của hạ calci máu và tăng kích thích thần kinh. Cần lưu ý rằng, độ chuyên của dấu Chovostek chỉ vào khoảng 25% – nghĩa là những người có nồng độ calci máu bình thường vẫn có thể có dấu Chvostek dương tính.

Các câu hỏi, ý kiến thảo luận cũng như đóng góp cho bài viết vui lòng gửi về diễn đàn docsachysinh.com:

http://www.docsachysinh.com/forum/ hoặc

http://www.docsachysinh.com/forum/index.php?forums/noi-tiet-hoc-endocrinology.96/