Category Archives: Nghiên cứu khoa học

[Thống Kê Căn Bản] Bài 3: Trung vị – Định nghĩa, cách tính và ý nghĩa thống kê (Lý thuyết)

[Thống Kê Căn Bản] Bài 3: Trung vị – Định nghĩa, cách tính và ý nghĩa thống kê (Lý thuyết)

Ở thời đại ngày nay, thống kê là một công cụ đắc lực của các nhà Khoa học trong rất nhiều lĩnh vực, Y Sinh học không là ngoại lệ. Những hiểu biết về thống kê sẽ giúp chúng ta khảo sát và đưa ra được các kết luận đúng đắn để có thể vận dụng vào thực tiễn. Do đó, Biomedera Education quyết định xây dựng loạt bài giảng về lý thuyết và thực hành trên các phần mềm thống kê hiện đại nhằm giúp các bạn tiếp cận và sử dụng thành thạo công cụ này trong học tập, làm việc và nghiên cứu khoa học.

Video được thực hiện bởi Nguyễn Thị Huyền Trang – Sinh viên ngành Y học Dự phòng niên Khóa 2009-2015, Đại học Y Dược Huế.

[Thống Kê Căn Bản] Bài 1: Các loại biến số trong thống kê (Lý thuyết)

[Thống Kê Căn Bản] Bài 1: Các loại biến số trong thống kê (Lý thuyết)

[Thống Kê Căn Bản] Bài 1: Các loại biến số trong thống kê (Lý thuyết)

Ở thời đại ngày nay, thống kê là một công cụ đắc lực của các nhà Khoa học trong rất nhiều lĩnh vực, Y Sinh học không là ngoại lệ. Những hiểu biết về thống kê sẽ giúp chúng ta khảo sát và đưa ra được các kết luận đúng đắn để có thể vận dụng vào thực tiễn. Do đó, Biomedera Education quyết định xây dựng loạt bài giảng về lý thuyết và thực hành trên các phần mềm thống kê hiện đại nhằm giúp các bạn tiếp cận và sử dụng thành thạo công cụ này trong học tập, làm việc và nghiên cứu khoa học.

Video được thực hiện bởi Nguyễn Thị Huyền Trang – Sinh viên ngành Y học Dự phòng niên Khóa 2009-2015, Đại học Y Dược Huế.
———————-

Workshop “Meeting on Neurodegenerative Diseases” – Saturday, 8AM 14.06.2014

Workshop “Meeting on Neurodegenerative Diseases” – Saturday, 8AM 14.06.2014 at Room I23, HCMUS 227 Nguyen Van Cu, Dist. 5, HCMC.
Registration: https://sites.google.com/site/cocmdec12/registration

In case of student, do you want to discuss personally with the speakers after the meeting?

The discussion will take place during lunch after the meeting with limited participants. If you would like to join, please send your CV in pdf file to nhhchuong@hcmus.edu.vn. Only the selected participants will be informed via your provided email.

Neurodegenerative disease is an umbrella term for a range of conditions which primarily affect the neurons in the human brain.

Neurons are the building blocks of the nervous system which includes the brain and spinal cord. Neurons normally don’t reproduce or replace themselves, so when they become damaged or die they cannot be replaced by the body. Examples of neurodegenerative diseases include Parkinson’s, Alzheimer’s, and Huntington’s disease.

Neurodegenerative diseases are incurable and debilitating conditions that result in progressive degeneration and / or death of nerve cells. This causes problems with movement (called ataxias), or mental functioning (called dementias).

Dementias are responsible for the greatest burden of disease with Alzheimer’s representing approximately 60-70% of cases. 

The scope of this meeting is to foster interactions and collaborations between scientists involved in neurodegenerative diseases from Europe/USA and scientists/students fromuniversities at Ho Chi Minh City. 

 
This meeting is the satellite event of 5th International Conference on Biomedical Engineering in Vietnam:

Thụ thể 5-HT­­2C – Béo phì và triển vọng

Thụ thể 5-HT­­2C – Béo phì và triển vọng

Ngày nay béo phì đang ngày càng trở thành một vấn đề lớn đối với thế giới, đặc biệt là đối với các nước phát triển như Mỹ. Béo phì thường được đặc trưng bởi việc đo chỉ số khối của cơ thể (body-mass index- BMI). Đối với chỉ số BMI dành cho người châu Âu, một người với chỉ số BMI bằng hoặc cao hơn 30 thì được gọi là béo phì (obese), ngược lại một người có chỉ số từ 25-30 thì được gọi là thừa cân (overweight). Những bệnh như tiểu đường (diabetes), cao huyết áp (hypertension), bệnh động mạch vành (cononary atery disease), sỏi mật (cholelithiasis) có liên quan mật thiết đến sự tăng cao chỉ số BMI.

Định nghĩa béo phì theo WHO thì  “béo phì là tình trạng tích trữ mỡ quá mức và không bình thường tại một số vùng hay toàn bộ cơ thể có ảnh hưởng đến sức khỏe”. Hay đơn giản hơn béo phí là kết quả của tình trạng mất cân bằng giữa lượng kilocalories hấp thụ  vào và sự sử dụng năng lượng cho các hoạt động tiêu thụ năng lượng.  Mặc dù kiểm soát khối lượng cơ thể là một khái niệm đơn giản bằng cách giảm hấp thụ lượng lượng calo và tăng cường các hoạt động sử dụng nhiều năng lượng tuy nhiên rất nhiều người không thể làm được điều này. Vì vậy thuốc có lẽ là phương pháp có thể giúp đỡ cho một số người trong việc kiểm soát cân nặng của mình cũng như chữa béo phì.

R1 300x159 Thụ thể 5 HT­­2C   Béo phì và triển vọng

Hình 1. Béo phì đang là vấn đề trên thế giới

Fenfluramine và dexfenfluramine là 2 loại thuốc có tác dụng kiểm soát khối lượng cơ thể hay chống béo phì (anti-obesity). Tác dụng của 2 loại thuốc này thông qua sự hoạt hóa một thụ thể là 5-HT­­2C (5-HT­­2C receptor).

Fenfluramine Thụ thể 5 HT­­2C   Béo phì và triển vọng

Hình 2. Fenfluramine

I. Vậy thụ thể 5-HT­­2C ­là gì? Và nó có tác dụng gì trong việc kiểm soát cân nặng của một người?

Đề tìm hiểu về 5-HT­­2C ta hãy nói qua về serotonin.

Serotonin hay  5-hydroxytryptamine (5-HT) là một chất dẫn truyền thần kinh đơn amine  (monoamine neurotransmitter). Serotonin được tìm thấy chủ yếu trong hệ tiêu hóa (gastrointestinal tract- GI tract) , trong tiểu cầu (platelets) và hệ thần kinh trung ương (central nervous system– CNS) . Serotonin trong hệ thần kinh trung ương có một vai trò rất quan trọng trong việc điều hòa hành vi và có một vai trò liên quan trong các bệnh lý về hành vi như suy nhược (depression), tâm thần phân liệt (schizophrenia) hay  sự lạm dụng thuốc (drug abuse). Serotonin hoạt động trong hệ thần kinh trung ương bằng cách gắn lên các thụ thể trên bề mặt các neuron. Các thụ thể của serotonin (serotonin receptor also known as 5-HT receptor) là những thụ thể kết hợp với protein G (G-protein couple receptor- GPCR) và các kênh ion do phối tử điều hành (ligand-gate ion channel) được tìm thấy ở hệ thần kinh trung ương và hệ thần kinh ngoại biên (peripheral nervous systemPNS)

Thụ thể 5-HT­­2C ­­là một thụ thể trong nhóm thụ thể 5-HT. Nó là một thụ thể kết hợp với protein G (G-protein couple receptor- GPCR). Ở người gene mã hóa cho các thụ thể này nằm trên nhiễm sắc thể X (Xchromosome).

R6 300x235 Thụ thể 5 HT­­2C   Béo phì và triển vọng

Hình 3. Thụ thể 5-HT2C

II. Chức năng của  5-HT­­2C là gì ?

Thụ thể 5-HT­­2C là một trong rất nhiều vị trí gắn của serotonin. Chúng được hoạt hóa bởi serotonin, có tác dụng ức chế dopamine vànorepeniphine tiết ra ở một số vùng của não. Thụ thể 5-HT­­2C  cần thiết trong việc phát các tín hiệu điều hòa tâm trạng (mood), lo lắng (anxiety), ăn uống và hoạt động sinh sản. Thụ thể 5-HT­­2C có tác dụng điều hòa sự tiết dopamine trong thể vân (corpus statium), vỏ trán trước (prefonttal cortex), vùng hạ đồi (hypothalamus), hồi hải mã (hippocampus) và một số vùng khác.

Serotonin có liên quan đến sự điều hòa cơ bản và điều hòa stress gây ra bởi hormones vùng hạ đồi (hypothalamus) và tuyến yên (pituitary gland). Thụ thể 5-HT­­2C là một tín hiệu điều biến của trục hạ đồi tuyến yên thượng thận (hypothalamus-pituitary-adrenal axis-HPA axis). Trục hạ đồi tuyến yên thượng thận có vai trò chính trong việc kiểm soát đáp ứng căng thẳng liên quan đến đáp ứng chiến đấu hay bỏ chạy (fight or flight respone). Vì vậy kéo dài hoạt động và sự rối loạn của trục HPA góp phần gây ra các triệu trứng suy nhược hay lo lắng có thể thấy trong các tình trạng bệnh về tâm lý (psychopathological).

R3 300x195 Thụ thể 5 HT­­2C   Béo phì và triển vọng

Hình 4. Cơ chế hoạt động của 5-HT2C

III. Thụ thể 5-HT­­2C kiểm soát sự thèm ăn (appetide control)

Thụ thể 5-HT­­2C  là trung gian tác động của nhiều loại thuốc sản sinh serotonin lên hành vi ăn uống. Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng hoạt hóa thụ thể 5-HT­­2C sẽ điều hòa sự thèm ăn, tiêu thụ thức ăn bằng cách thúc đẩy sự no. Ngăn chặn sự thèm ăn bằng cách hoạt hóa thụ thể 5-HT­­2C, vì vậy các tác nhân chọn lọc có ái lực cao đối với thụ thể 5-HT­­2C hơn các thụ thể 5-HT­­2A và 5-HT­­2B đang được phát triển để chữa béo phì.

Ngoài ra các chất đồng vận với thụ thể 5-HT­­2C (5-HT2C receptor agonists cũng rất thích hợp trong điều trị các bệnh về tâm lý. Các chất đồng vận thụ thể 5-HT­­2C được hy vọng sẽ làm giảm các triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt bằng cách giảm  dopamine (reduce dopamine release).

R5 297x300 Thụ thể 5 HT­­2C   Béo phì và triển vọng

Hình 5. Cơ chế tác động của một thuốc lên thụ thể 5-HT2C

IV. Kết luận

  • Béo phì là tình trạng tích trữ mỡ quá mức và không bình thường tại một số vùng hay toàn bộ cơ thể có ảnh hưởng đên sức khỏe. Đây là một vấn ngày càng phổ biến ở hầu hết các nước đặc biệt là các nước phát triển.

  • Thụ thể 5-HT­­2C ­là một thụ thể của serotonin, là thụ thể kết hợp với protein G và có gen mã hóa nằm trên nhiễm sắc thể X

  • Thụ thể 5-HT­­2C có nhiều chức năng quan trọng trong điều khiển hành vi, hay liên quan đến các bệnh tâm lý, nội tiết hay sinh dục.

  • Ngày này các loại thuốc đồng vận với thụ thể 5-HT­­2C được phát triển nhằm chữa các về béo phì và các bệnh về tâm lý.

Anh Nguyễn

http://www.anhvanykhoa.com – Anh Văn Y Khoa

Phức hợp phản ứng Enzyme – Cơ chất hình thành như thế nào?

Đại cương

Enzyme thực hiện vai trò xúc tác bằng cách làm cho năng lượng hoạt hóa của phản ứng sinh hóa xảy ra trong cơ thể thấp hơn so với bình thường. Cơ chế của quá trình này thường rất phức tạp, bao gồm nhiều tương tác hai chiều và các điều kiện nghiêm ngặt. Các tác giả tiên phong cũng đã nhận ra được tầm quan trọng của yếu tố lập thể giữa enzyme và cơ chất của nó, từ đó hình thành nên học thuyết “chìa khóa & ổ khóa” – mô hình được chấp nhận rộng rãi từ khi được giới thiệu lần đầu tiên bởi E. FISCHER. Tuy vậy, cần phải luôn nhớ rằng enzyme và cơ chất luôn luôn vận động, do vậy ta cũng phải dùng quan điểm động để hiểu đúng mô hình học thuyết trên.

Tính chất linh động (flexibility) và dễ biến đổi (mobility) của vùng hoạt động trên enzyme chính là mục tiêu nghiên cứu hàng đầu để có thể hiểu được đầy đủ tiến trình xúc tác. Ái lực của enzyme quyết định số gia các trạng thái chuyển đổi của cơ chất so với bản thân cơ chất và do vậy nó là một yếu tố nhiệt động lực học quan trọng.

Chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu từng thành phần một trong cơ chế xúc tác của enzyme. Từ quá trình hình thành phức hợp enzyme – cơ chất đến cơ chế phản ứng xảy ra và sản phẩm tạo thành.

Các lực tự nhiên hình thành nên phức hợp Enzyme – cơ chất

Các lực tạo nên sự liên kết giữa enzyme và cơ chất của nó cùng bản chất với các lực hiện diện trong bất kì một phân tử cơ bản nào trong tự nhiên. Tuy nhiên, sự phức tạp của cấu trúc enzyme với nhiều nhóm hóa học khác nhau dẫn đến sự hiện diện của nhiều loại lực cùng thực hiện tương tác. Hơn nữa, do enzyme hoạt động trong môi trường sinh vật, nghĩa là luôn có dung môi (như dung dịch nước chẳng hạn) do vậy, kết lại ta có các loại lực cơ bản sau:

–          Lực tĩnh điện được tạo ra giữa nguyên tố hay nhóm nguyên tố có sự hiện diện thường trực (permanent) của điện thế. Nó bao gồm tương tác giữa 2 ion, giữa ion và một lưỡng cực hay thậm chí giữa 2 lưỡng cực với nhau.

  • Tương tác giữa 2 ion (tương tác Coulomb).
  • Lực tĩnh điện của một ion được xác định theo phương trình sau:

rong đó q là điện tích, r là khoảng cách từ điện tích đến điểm tính lực, Z là hóa trị của ion và e là điện tích của electron. Trong nước hằng số điện môi (D) vào khoảng 74.1 ở 37.5oC.

Xem toàn bộ bài viết tại đây.

Google

CÁC LỘ TRÌNH TÍN HIỆU TẾ BÀO CHÍNH

CÁC LỘ TRÌNH TÍN HIỆU TẾ BÀO CHÍNH

Trọng tâm sinh học phân tử tế bào

Nguyễn Phước Long – Phùng Trung Hùng

Đại cương

Tế bào điều hòa hoạt động của nó thông qua các lộ trình tín hiệu và phần lớn lộ trình trong số đó đã được biết cho đến hôm nay. Trong chương này, chúng ta sẽ cùng nhau thảo luận về các cơ chế điều hòa trong tế bào. Những con đường tín hiệu này được chia làm 2 nhóm chính dựa theo cách nó được hoạt hóa. Phần lớn trong số đó được hoạt hóa bởi các chất ngoại bào và có chức năng truyền tin từ bề mặt tế bào vào trong hệ thống tác hiệu. Tuy nhiên, một vài hệ thống đáp ứng thông tin xuất hiện trong lòng tế bào và thường ở dạng tín hiệu chuyển hóa (metabolic messengers). Trong tất cả các lộ trình tín hiệu, thông tin được vận chuyển thông qua sự tương tác trực tiếp giữa các protein với nhau hoặc  thông qua các phân tử truyền tin thứ hai (second messengers). Trong suôt quá trình phát triển, các loại tế bào khác nhau thường có một số lượng lộ trình tín hiệu riêng và sự tương tác chéo lẫn nhau giữa các lộ trình này là điều rất được quan tâm, cũng như các lộ trình này phải phù hợp với chức năng chuyên biệt của nó. Trong phần này, chúng ta sẽ tập trung vào các thuộc tính của các lộ trình tín hiệu nội bào quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động sống của tế bào.

Các lộ trình tín hiệu nội bào

Có rất nhiều con đường lộ trình tín hiệu chịu trách nhiệm truyền tin trong tế bào và chúng được chia làm 2 loại chính. Loại đáp ứng với các chất kích thích ngoại bào (neurotransmitter, hormone hoặc GF) nằm trên bề mặt của tế bào, nhận thông tin qua trung gian các thụ thể. Sau đó, các thụ thể này sẽ chuyển thông tin xuyên màng bằng nhiều chất truyền tin khác nhau để tạo thành các lộ trình tín hiệu khác nhau diễn ra bên trong tế bào sau đó (1-16). Hệ thống tín hiệu của phosphoinositide và Calcium được xếp cùng một nhóm bởi vì chúng có chứa một tập hợp các lộ trình thường có sự tương tác với nhau (2-6). Các nhóm lộ trình khác được kích hoạt bởi các tín hiệu phát sinh trong tế bào (17-18). Ngoài ra còn có một lượng lớn các tín hiệu chuyển hóa hoạt động trong tế bào kích thích một lượng lớn các lộ trình tín hiệu khác nhau.

Tất cả những lộ trình tín hiệu này sinh ra các thông tin nội bào và đáp ứng chuyển tiếp thông tin đến các phân tử đích (sensors) rồi sau đó nối kết với các phân tử tác hiệu để sinh ra các đáp ứng nội bào.

Các lộ trình được liệt kê sau đây:

  1. cAMP: Một trong những hệ thống tín hiệu đầu tiên được phân lập. Trong đó, cAMP đóng vai trò là chất truyền tin thứ hai và tham gia vào nhiều hệ thống truyền tin khác nhau. Theo quan niệm này, các chất kích thích ngoại bào được gọi là các chất truyền tin thứ nhất và chúng có vai trò biến đổi cấu trúc adenylyl cyclase (AC) để tạo ra cAMP – một phần của hệ thống tác hiệu theo kiểu thác đổ xuôi dòng (down-stream).

Hình 41.1: Mô phỏng các lộ trình tín hiệu chính yếu tham gia điều hòa quá trình sống của tế bào.

  1. Hệ thống cADP-ribose (cADPR)và nicotinic acid-adenine di nucleotide phosphate (NAADP) có chức năng trong hệ thống truyền tin của calcium thông qua sự đáp ứng của ADP-ribosyl cyclase (ADP-RC).
  2. Voltage-operated channels (VOCs) tham gia vào tín hiệu calcium bằng cách điều khiển dòng calcium nhập bào trong các tế bào dễ bị kích thích (excitable cells).
  3. Receptor-operated channels (ROCs) tham gia vào tín hiệu calcium bằng cách điều khiển dòng calcium nhập bào của cả các tế bào dễ bị kích thích và các tế bào khác (non-excitable).
  4. Hệ hoạt hóa phospholipase C (PLC) để thủy phân PtdIns4,5P2 (hay còn gọi là PIP2) để sinh ra một số các lộ trình tín hiệu sau:
    1. Inositol 1,4,5-trisphosphate (InsP3)/Ca2+
    2. Diacylglycerol (DAG)/protein kinase C (PKC)
    3. PtdIns4,5P2
    4. Hệ thống inositol polyphosphate đa năng (multipurpose).
  5. Hệ PtdIns 3-kinase có chức năng phosphoryl hóa PIP2 thành dạng chất truyền tin thứ hai là PtdIns3,4,5P3 (PIP3).
  6. NO/clyclic GMP: NOS (NO synthase) tạo ra NO hoạt động thông qua hệ thống cGMP và phản ứng nitrosyl hóa. NO đóng vai trò quan trọng trong việc điều biến hoạt động của các hệ thống tín hiệu khác, như của hệ Ca2+ chẳng hạn.
  7. Hệ thống Redox (oxi hóa khử). Rất nhiều thụ thể hoạt động thông qua NADPH oxidase (NOX) để hình thành nên nguyên tử Oxy hoạt hóa (như trong phân tử H2O2 chẳng hạn), có tác dụng điều hòa hoạt động của các loại protein tín hiệu đặc biệt như tyrosine phosphatases, yếu tố phiên mã và các kênh ion. Các nguyên tử Oxy hoạt hóa cũng tham gia trong phản ứng nitrosyl hóa trong hệ thống 7.
  8. Hệ thống MAPK. Nhóm này là ví dụ điển hình của dòng thác phosphoryl hóa các protein bắt đầu đa phần bởi Ras và bao gồm một số lượng các lộ trình tín hiệu song song nhau có vai trò điều khiển nhiều hoạt động của tế bào và liên quan đặc biệt tới sự tăng trưởng của tế bào, sự stress tế bào và apoptosis.
  9. Hệ thống NF-κB có vô số chức năng khác nhau. Nó đóng vai trò quan trọng trong các đáp ứng viêm của macrophages và neutrophils và như là một phần của các đáp ứng miễn dịch bẩm sinh chống lại các pathogen.
  10. Phospholipase D (PLD) là hệ thống tín hiệu phụ thuộc lipid có liên quan đến sự thủy phân của phosphatidylcholine để cho ra phosphatidic acid (PA), chất này đóng vai trò là chất truyền tin thứ hai trong các quá trình điều hòa của tế bào.
  11. Sphingomyelin được thủy phân bởi các yếu tố tăng trưởng (Growth factors) và cytokines để tạo các chất truyền tin thứ hai có các tác dụng đối lập nhau trong tế bào. Ceramide có vẻ như tham gia vào quá trình apoptosis, ngược lại sphingosine 1-phosphate (S1P) hoạt hóa sự tăng trưởng của tế bào. S1P cũng có thể giải phóng Ca2+ từ lưới nội bào chất hoặc đóng vai trò là tác chất có khả năng gắn vào thụ thể khi được giải phóng khỏi tế bào,… do vậy cơ chế hoạt động của nó cũng rất phức tạp.
  12. Janus kinase (JAK)/hoạt hóa tín hiệu và là chất kích thích của con đường phiên mã STAT. Đây là hệ thống truyền tin nhanh từ bề mặt tế bào vào trong nhân. JAKs là những tyrosine kinase có khả năng phosphoryl hóa dòng thác tín hiệu và hoạt hóa các yếu tố phiên mã (STATs).
  13. Hệ thống Smad. Lộ trình tín hiệu này đóng vai trò trung gian trong hoạt động của siêu họ TGF-β trong quá trình phiên mã thông qua các yếu tố phiên mã Smad.
  14. Lộ trình tín hiệu của Wnt có vai trò quan trọng trong cả sự tăng trưởng và phát triển của tế bào.
  15. Lộ trình tín hiệu Hedgehog tương đồng với lộ trình của Wnt và cũng có chức năng điều hòa sự tăng trưởng và phát triển của tế bào. Ligand của Hedgehog (Hh) hoạt động thông qua yếu tố phiên mã GLI.
  16. Notch là một lộ trình tín hiệu có tính bảo tồn cao, có vai trò quan trọng trong các quá trình phát triển liên quan tới việc quyết định số phận của tế bào trong các tế bào gốc. Các thụ thể Notch tạo ra các yếu tố phiên mã NICD (Notch intracellular domain).
  17. Tín hiệu của lưới nội chất trong các quá trình stress có vai trò chuyển thông tin đến nhân về tình trạng tổng hợp protein trong lưới nội chất hạt.
  18. Lộ trình tín hiệu của AMP được điều hòa bởi AMP đóng vai trò như một dạng tín hiệu chuyển hóa, có vai trò hoạt hóa các lộ trình quan trọng trong việc điều khiển sự biệt hóa của tế bào.

Ngoài ra còn một số lộ trình tín hiệu khác nữa có các chức năng chuyên biệt trong quá trình điều hòa các hoạt động chuyển hóa của tế bào, như là quá trình sinh tổng hợp cholesterol để điều chỉnh lượng cholesterol trong màng tế bào. Hoặc như lộ trình tín hiệu của NAD, NAD+ có vai trò điều hòa các quá trình nội bào như sự chuyển hóa năng lượng, sự phiên mã gene, sửa chữa DNA và các quá trình liên quan đến tuổi già.

Lộ trình tín hiệu của cAMP

Hình 41.2: Mô phỏng sơ khai hoạt động thông qua cAMP.

cAMP là một chất truyền tin thứ hai hiện diện ở tất cả các cơ quan trong cơ thể và tham gia vào vô số các quá trình điều hòa của tế bào. Sự hình thành cAMP thường phụ thuộc vào sự hoạt hóa protein G (G-protein coupled receptors – GPCRs).

Protein G là một dị trimer hóa protein, bao gồm một họ protein được phân loại dựa vào cách nó liên kết với màng tế bào và cơ chế hoạt hóa nó. Họ protein này giúp hoạt hóa enzyme adenylyl cyclase (AC). Có một vài chất tác hiệu tín hiệu cAMP (cAMP signalling effectors) như protein kinase A (PKA), exchange proteins activated by cyclic AMP (EPACs) có khả năng hoạt hóa GTP-binding protein Rap1 và cyclic nucleotide gated channels (CNGCs). Các chất tác hiệu này sau đó biến thông tin chức năng của cAMP thành các đáp ứng, như sự chuyển hóa năng lượng, sự phiên mã gene và hoạt động của các kênh ion. Trong nhiều trường hợp, những chức năng này được điều biến (modulation), cAMP sẽ hoạt động như một chất thiết lập hoạt động của các lộ trình tín hiệu khác và do vậy nó đóng vai trò trung tâm trong sự chồng lấp (cross-talk) giữa các lộ trình tín hiệu với nhau. Chức năng điều biến này cũng thể hiện rõ ở các chuỗi tín hiệu của Ca2+ trong cả tế bào thần kinh và tế bào cơ. Nhiều hoạt động của cAMP phụ thuộc vào vị trí chính xác của PKA, liên quan tới cả các chất tác hiệu ngược dòng (upstream) và xuôi dòng (downstream). Một họ A-kinase-anchoring protein (AKAPs) quyết định sự định cư trong tế bào của PKA cũng như là số lượng thành phần của lộ trình tín hiệu. Các phản ứng OFF – ngắt tín hiệu có vai trò giảm cAMP thông qua quá trình thủy phân cAMP hoặc đưa cAMP ra ngoài tế bào.

Bảng 41.1: AC từ 1 đến 9 được phân bố rộng rãi. Nó có nhiều trong não nhưng cũng phân bố trong nhiều loại tế bào khác. AC10 chỉ có mặt ở tinh hoàn. Hoạt động chức năng điều hòa của AC1-AC9 thông qua G proteins. Tất cả AC được kích hoạt bởi Gαs nhưng chỉ có một số bị bất hoạt bởi Gαi. Tiểu đơn vị βγ cũng có khả năng hoạt hóa vài loại AC và bất hoạt các AC còn lại.  Một vài AC được điều biến bởi một số lộ trình tín hiệu khác như của Ca2+ và PKC. Một vài lại bị bất hoạt bởi PKA do vậy tạo ra vòng tác hồi âm, khiến cho cAMP có thể ức chế chính sản phẩm của nó.

Sự hình thành cAMP

cAMP có thể được tạo thành từ sự kích thích của rất nhiều tác chất khác nhau, mà thông thường là neurotransmitter và hormones. Tất cả các chất kích thích đều tác động thông qua hệ thống GPCRs, có vai trò hoạt hóa hay ức chế enzyme adenylyl cyclase (AC). Trong trường hợp hoạt hóa AC, guanine nucleotide exchange factor (GEF) sẽ thay thế GDP bằng GTP tại tiểu đơn vị α, rồi phân ly tiểu đơn vị này khỏi phức hợp βγ, và tiểu đơn vị αs.GTP sẽ hoạt hóa AC (ngược lại, αi.GTP sẽ ức chế AC). Sau đó, GTPase trên tiểu đơn vị α sẽ thủy phân GTP thành GDP, protein được tái cấu trúc và quá trình hoạt hóa AC kết thúc.

Độc tố tả (cholera toxin) xúc tác đồng hóa trị sự biến thể của Gsα. ADP-ribose được chuyển từ NAD+ thành arginine tại vùng hoạt động của GTPase của Gsα. Sự ADP-ribosyl hóa ngăn sự thủy phân của GTP (prevents GTP hydrolysis) bởi Gsα. Do vậy stimulatory G-protein được hoạt hóa lâu dài.

Độc tố ho gà (whooping cough disease) xúc tác sự ADP-ribosyl tại cysteine của Giα làm nó không thể chuyển GDP thành GTP. Con đường inhibitory bị khóa.

Adenylyl cyclase (AC)

Họ AC bao gồm 10 loại: 9 loại trong số đó là các protein bám màng (1-9), loại thứ 10 tan trong bào tương. Cấu trúc domain của AC1-AC9 tương đối giống nhau. Hai domain lớn nằm trong bào tương là C1 và C2 có chứa vùng xúc tác, tạo thành cấu trúc dị dimer hóa và đồng tác dụng với nhau để chuyển ATP thành cAMP.

Hình 41.3: Cấu trúc domain của adenylyl cyclase (AC). AC1-AC9 có cấu trúc domain giống nhau. Một chuỗi peptide đơn tạo thành các domain xuyên màng (TM), trong đó TM1-TM6 được tập hợp lại cùng nhau, tương tự đối với TM7-TM12. Mỗi TM đều có đều có C1 và C2 – có chứa vùng xúc tác để chuyển ATP thành cAMP. Lưu ý là AC10 không có vùng xuyên màng nhưng vẫn có C1 và C2 nên vẫn có chức năng xúc tác.

Các chất tác hiệu thông tin cAMP

cAMP là một tín hiệu nội bào có sự linh hoạt cao và có khả năng hoạt hóa nhiều chất tác hiệu khác nhau. Một trong những ví dụ của các chất tác hiệu loại này là exchange proteins activated by cyclic AMP (EPACs), có vai trò hoạt hóa Rap. Một nhóm tác hiệu khác là cyclic nucleotide-gated channels (CNGCs) đóng vai trò quan trọng trong hệ thống cảm nhận mùi và vị giác. Tuy nhiên, hầu hết các hoạt động của cAMP đều thông quá protein kinase A (PKA).

Hình 41.4: Tổ chức và chức năng của lộ trình tín hiệu cAMP. cAMP được hình thành từ hệ thống AC bám màng tế bào và cả AC hòa tan nhạy cảm bicarbonate. Sự hình thành được điều hòa cả bởi các agonists hoạt hóa hoạt động thông qua tiểu đơn vị αs và cả agonist bất hoạt αi hay tiểu đơn vị βγ. Nồng độ cAMP gia tăng nhanh chóng và thực hiện chức năng thông qua ba hệ thống tác hiệu khác nhau. Trong đó, chức năng chính của cAMP là hoạt hóa PKA để phosphoryl hóa một lượng lớn các yếu tố trung gian thuận chiều. Một vài quá trình dẫn đến sự phiên mã gene thông qua hoạt động của cAMP respone element-binding protein (CREB) và hoạt hóa các kênh ion (như thụ thể AMPA và CFTR). Các yếu tố trung gian thuận chiều khác cũng có thể là cGMP phosphodiesterase (cGMP PDE), phospholamban (PLN) điều khiển sarco/endo-plasmic reticulum Ca2+-ATPase (SERCA),thụ thể ryanodine (RYR) vàkênh Ca2+ CaV1.1 and CaV1.2

Protein kinase A (PKA)

Nhiều hoạt động của cAMP cần sự tham gia của PKA – có chức năng phosphoryl hóa tại những vị trí đặc hiệu của quá trình tác hiệu xuôi dòng.

Protein kinase A (protein kinase phụ thuộc cAMP) chuyển gốc Pi từ ATP đến gốc hydroxyl của nhóm serine hoặc threonine, đây là phần đặc thù của trình tự 5-amino acid chuyên biệt. Protein kinase A tồn tại ở trạng thái tĩnh (resting state) ở cấu trúc như sau:

–          2 tiểu đơn vị điều hòa (R).

–          2 tiểu đơn vị thủy phân (C).

Đọc toàn bộ bài viết tại đây.

Đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam Phần cuối – Những bài luận văn dưới tầm

Theo một thống kê công bố trước đây, trong số 97 đề tài nghiên cứu tiến sĩ ở một trường đại học kinh tế, có đến 57 đề tài về giải pháp, không xứng tầm luận án tiến sĩ.

Chạy theo bằng cấp, học vị đang thành hư danh. Ảnh: TL

Vấn đề học thuật

Về đề tài nghiên cứu. Suốt năm này sang năm khác, báo chí đều nêu ra những trường hợp luận án tiến sĩ… vô bổ. Quả là tựa đề của nhiều luận án không khỏi làm người ta nêu câu hỏi liệu đó có phải là một đề tài nghiên cứu khoa học hay đề tài hành chính. Xin trích một nhận xét khác của GS Trần Văn Thọ: “Cách suy nghĩ về việc chọn đề tài ở Việt Nam chỉ làm cho luận án thiếu tính học thuật và phần lớn thiếu tính độc sáng. Nội dung, trình độ của luận án do đó còn rất xa mới đạt tiêu chuẩn tối thiểu của thế giới, và người được cấp bằng trong trường hợp đó khó có thể thảo luận khoa học với chuyên gia nước ngoài trong cùng ngành”.

Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận xét trên. Tôi đã có dịp đọc qua nhiều luận án trong ngành y từ Nam chí Bắc thì đại đa số chỉ là tập hợp hai hoặc ba báo cáo của một nghiên cứu duy nhất. Nội dung thì rất đơn giản, phần lớn chỉ mang tính kiểm kê lâm sàng (giống như làm bài tập thống kê, và đếm bao nhiêu ca bệnh). Có thể nói không ngoa rằng tuyệt đại đa số những luận án tôi xem qua chỉ xứng đáng luận án cử nhân danh dự hay cao học (thạc sĩ) mà thôi.

Về chuẩn mực đào tạo tiến sĩ. Ở Việt Nam, các đại học chưa có những chuẩn mực đào tạo tiến sĩ. Người ta chỉ nói chung chung rằng một luận án phải có “cái mới”, nhưng không nói rõ cái mới là gì, và dẫn đến tình trạng mỗi nơi hiểu một cách về văn bằng tiến sĩ. Vì thế chất lượng đào tạo không đồng đều nhau.

Trước đây, tôi đã đề nghị sáu tiêu chuẩn cho một luận án tiến sĩ (xem bảng). Để có được văn bằng tiến sĩ, ứng viên phải đạt hai điều kiện. Thứ nhất, ứng viên phải có kiến thức uyên bác và làm chủ kiến thức về một đề tài khoa học. Thứ hai, ứng viên phải mở rộng hay phát triển thêm tri thức về đề tài đó. Để làm chủ đề tài nghiên cứu, nghiên cứu sinh phải tìm đọc và cố gắng hiểu tất cả những gì đã viết hay công bố về đề tài đó. Không phải như bậc cử nhân, kiến thức thường có thể tìm thấy trong sách giáo khoa, đối với bậc tiến sĩ kiến thức thường được tìm trong các tập san khoa học. Để mở rộng kiến thức về một đề tài, nghiên cứu sinh phải làm nghiên cứu khoa học theo sự hướng dẫn của thầy cô. Chính phần nghiên cứu khoa học này phân biệt giữa tiến sĩ và các chương trình cử nhân hay thạc sĩ. Học tiến sĩ thực chất là làm nghiên cứu khoa học. Không có nghiên cứu khoa học thì không thể là tiến sĩ được.

Cũng cần nhấn mạnh rằng đề án nghiên cứu cấp tiến sĩ không nhất thiết phải mang tính ứng dụng thực tiễn (như nhiều người ngộ nhận), mà phải thể hiện một đóng góp mới vào tri thức chuyên ngành. “Tri thức mới” ở đây bao gồm việc phát hiện mới, khám phá mới, hay cách diễn giải mới cho một vấn đề cũ, hay ứng dụng một phương pháp mới để giải quyết một vấn đề cũ… Những tri thức như thế có thể không có khả năng ứng dụng trong tương lai gần, nhưng có thể góp phần thúc đẩy chuyên ngành phát triển một mức cao hơn. Xin nhớ rằng khám phá insulin phải đợi gần 50 năm sau mới được ứng dụng lâm sàng.

Học tiến sĩ không phải chỉ “làm luận án”

Có rất nhiều người tưởng rằng học tiến sĩ chủ yếu là hoàn tất một luận án, nhưng thực tế thì không phải như thế vì luận án chỉ là một phần của chương trình đào tạo. Luận án là một báo cáo có hệ thống những phương pháp và kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh. Do đó, luận án chỉ là một tiêu chuẩn (có thể quan trọng) trong các tiêu chuẩn để được cấp bằng tiến sĩ.

Một luận án khi hoàn tất mà chỉ để trên giá sách của thư viện trường cũng chỉ là một mớ tài liệu ít người biết đến. Vì ít người biết và nằm trong thư viện, nên chẳng có bao nhiêu người biết được luận án đó có gì mới hay xứng đáng với cấp tiến sĩ hay không. Do đó, nghiên cứu sinh cần phải công bố vài bài báo khoa học trên các tập san khoa học quốc tế trước khi viết luận án. Công bố quốc tế là một hình thức “thử lửa” tốt nhất cho nghiên cứu sinh, bởi qua đó đồng nghiệp khắp thế giới có thể thẩm định chất lượng của công trình nghiên cứu và luận án của nghiên cứu sinh.

Thật ra, công bố quốc tế là điều gần như tất yếu trong quá trình học tiến sĩ ở các đại học Âu, Mỹ và Úc, những nơi mà họ khuyến khích (có nơi gần như bắt buộc) nghiên cứu sinh công bố vài bài báo khoa học trước khi viết luận án tiến sĩ. Ở một số nước Bắc Âu, luận án tiến sĩ thực chất là tập hợp một số bài báo khoa học đã công bố trên các tập san quốc tế. Ngày nay, các đại học lớn ở Thái Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Philippines… cũng quy định tương tự.

Ở Việt Nam, người ta nghĩ rằng xong chương trình tiến sĩ là đạt đỉnh cao học thuật, không cần học gì thêm nữa. Quan điểm này hết sức sai lầm. Xong tiến sĩ có thể ví von như là xong học nghề. Người học cần phải trau dồi tay nghề mới có thể trở thành độc lập. Nhưng rất tiếc là đại đa số tiến sĩ được Việt Nam gửi ra ngoài đào tạo chưa qua chương trình hậu tiến sĩ, vì theo quy định họ phải về nước. Vì thế, phần lớn chưa có cơ hội thực tập sau tiến sĩ, và trình độ có khi cũng còn hạn chế. Còn ở trong nước thì không có chương trình hậu tiến sĩ. Theo tôi, cần phải gửi nghiên cứu sinh xong tiến sĩ ra ngoài theo đuổi chương trình hậu tiến sĩ để đào tạo những người này thành nhà khoa học chuyên nghiệp. Điều này có thể không dễ, vì xin được một suất học hậu tiến sĩ rất khó và cạnh tranh ác liệt. Nhưng nếu nghiên cứu sinh có công bố quốc tế trên các tập san tốt thì việc xin nghiên cứu hậu tiến sĩ cũng dễ dàng hơn.

Nước ta có chiến lược đào tạo 20.000 tiến sĩ từ nay đến năm 2020. Hiện nay, theo nhiều nguồn thống kê, Việt Nam đã có 24.000 tiến sĩ. Nhưng trong số này, chỉ có khoảng 7.300 người hay 30% làm việc tại các đại học (niên học 2011 – 2012). Chính con số này giải thích một phần lớn tại sao mức độ hoạt động nghiên cứu khoa học ở Việt Nam chỉ bằng 1/5 của Thái Lan và 1/8 của Singapore, trong khi hai nước đó có số tiến sĩ thấp hơn nước ta. Đã đến lúc phải chấn chỉnh các chương trình đào tạo tiến sĩ trên toàn quốc (chứ không phải chỉ vài nơi) để nâng cao uy tín học thuật nước nhà.

NGUYỄN VĂN TUẤN

Tiêu chuẩn đề nghị cho học vị tiến sĩ

Trong cuốn Chất lượng giáo dục đại học (nhà xuất bản Tổng Hợp, 2011), dựa vào tiêu chuẩn quốc tế và kinh nghiệm cá nhân, tôi đề nghị nghiên cứu sinh phải đáp ứng sáu tiêu chuẩn sau:

– Có kiến thức cơ bản về khoa học, và kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực nghiên cứu mà nghiên cứu sinh theo đuổi;

– Am hiểu các tài liệu nghiên cứu cần thiết về lĩnh vực chuyên môn mình theo đuổi, có khả năng cập nhật hoá kiến thức cũng như tất cả những phát triển mới liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu;

– Phải chứng tỏ kỹ năng phát hiện vấn đề hay đặt câu hỏi có ý nghĩa cho nghiên cứu chuyên ngành của mình;

– Làm chủ được phương pháp nghiên cứu khoa học hay phương pháp thí nghiệm cơ bản;

– Đạt được những kỹ năng về truyền đạt thông tin, kể cả trình bày kết quả nghiên cứu trong các diễn đàn khoa học quốc gia và quốc tế, khả năng viết báo cáo khoa học;

– Nắm vững kỹ năng thiết kế một công trình nghiên cứu và độc lập trong nghiên cứu.

Đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam: nhận thức và chất lượng

Đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam: nhận thức và chất lượng

LTS: Những lùm xùm trong việc đào tạo tiến sĩ, mới đây nhất là quyết định đóng cửa một số trung tâm đào tạo tiến sĩ lại chính là cơ hội lý tưởng để nhìn lại vấn đề nổi cộm và bức xúc nhất trong đào tạo tiến sĩ: chất lượng.

Kỳ 1: Dân không trọng, quốc tế không công nhận

SGTT.VN – Học vị tiến sĩ là văn bằng cao nhất trong hệ thống đại học phương Tây. Ở ta, từ cả ngàn năm trước, người đỗ tiến sĩ được xem như những ông nghè, là giới tinh hoa học thuật của nước nhà, do đó hệ thống đào tạo tiến sĩ được thiết lập rất chặt chẽ và nghiêm chỉnh.

Ông nghè về làng: một cách vinh danh sự học của triều Nguyễn. Ảnh: tư liệu

Thế nhưng ở Việt Nam ngày nay, văn bằng tiến sĩ có khi trở thành một đề tài cho công chúng đàm tiếu. Tại sao người dân khinh thường tiến sĩ như thế?

Nhận thức sai

Cách đây khoảng hai năm, Hà Nội đề ra chiến lược đến năm 2012 thành phố sẽ có 50% công chức khối chính quyền có bằng tiến sĩ, và đến năm 2020, 100% công chức diện thành phố quản lý (cấp chi cục trưởng và chi cục phó) có bằng tiến sĩ. Đó là một suy nghĩ rất lạ lùng.
Hà Nội không phải là trường hợp cá biệt với tư duy tiến sĩ hoá công chức như trên; các nơi khác cũng có những chính sách bất thành văn về việc bổ nhiệm cán bộ công nhân viên dựa vào bằng tiến sĩ. Ngày nay, để được đề bạt vào các chức vụ trưởng, giám đốc sở, trưởng khoa ở đại học… thì ứng viên phải có bằng tiến sĩ. Có trường hợp người ta bổ nhiệm nhân sự rồi, và tìm cách “hợp thức hoá” (tức kiếm bằng tiến sĩ cho họ). Văn bằng tiến sĩ không còn mang tính học thuật, mà là một phương tiện đạt được cứu cánh làm quan.

Nhận thức về bằng tiến sĩ như trên là một sai lầm. Có thể nói ngắn gọn rằng chương trình đào tạo tiến sĩ là để cung cấp cho xã hội những nhà khoa học chuyên nghiệp và giáo sư đại học tương lai. Văn bằng tiến sĩ có thể ví von là một “giấy thông hành” của nhà khoa học. Mục tiêu số một của chương trình học tiến sĩ là đào tạo các nhà khoa học chuyên nghiệp, những người am hiểu chuyên sâu một lĩnh vực nào đó, có khả năng phát hiện, thiết kế thí nghiệm hay nghiên cứu giải quyết vấn đề, có khả năng phân tích và diễn giải kết quả nghiên cứu, có khả năng truyền đạt kết quả nghiên cứu đến đồng nghiệp trong chuyên ngành và công chúng. Không phải nhà khoa học chuyên nghiệp nào cũng cần bằng tiến sĩ (vì người không có bằng tiến sĩ vẫn có thể là những nhà khoa học rất tốt), nhưng người có bằng tiến sĩ thường chỉ theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu khoa học.

Văn bằng tiến sĩ thường thích hợp cho những người muốn theo đuổi sự nghiệp khoa bảng, ở đây được hiểu là giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học. Cố nhiên, ở nhiều đại học phương Tây, vẫn có người có thể trở thành giáo sư dù không có học vị tiến sĩ, nhưng những trường hợp như thế ngày càng hiếm. Phần lớn giáo sư đại học có học vị tiến sĩ, nhưng chỉ một số rất ít người có bằng tiến sĩ có thể trở thành giáo sư.

Nhận thức không đúng về ý nghĩa và mục tiêu đào tạo tiến sĩ dẫn đến một vấn đề lớn hơn: chất lượng đào tạo. Ngoại trừ một số ít chương trình đào tạo nghiêm túc, ấn tượng chung là cách thức đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam còn tồn tại khá nhiều vấn đề mang tính cơ cấu, quy trình, và học thuật.

Cơ cấu và mô hình đào tạo

Thứ nhất là vấn đề liên quan người hướng dẫn nghiên cứu. Ở Việt Nam, có quy định đơn giản như người có bằng tiến sĩ ba năm trở lên có thể hướng dẫn luận án tiến sĩ. Nhưng trong thực tế, mới có bằng tiến sĩ ba hay năm năm thì cũng mới ở giai đoạn hậu tiến sĩ, làm sao có thể hướng dẫn tiến sĩ (ngoại trừ người đó là một thiên tài, hay tiến sĩ ngoại hạng). Và cho dù đã tốt nghiệp tiến sĩ mười năm hay 20 năm mà không nghiên cứu khoa học thì không thể có tư cách hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ.

Lại có quy định với chức danh phó giáo sư hay giáo sư thì đủ tư cách hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ. Trong thực tế, những người có tư cách hướng dẫn nghiên cứu sinh không chỉ cần có chuyên môn cao, có tên tuổi trong chuyên ngành (qua công bố quốc tế), mà còn phải có chương trình nghiên cứu riêng. Không có chương trình nghiên cứu riêng, nghiên cứu sinh chẳng khác gì người lang thang trong rừng khoa học, mất định hướng nghiên cứu, loay hoay với những đề tài mang tính “me too” (bắt chước người khác một cách máy móc), không xứng với luận án tiến sĩ.

Thứ hai là mô hình và thời gian đào tạo. Đại đa số các chương trình đào tạo tiến sĩ ở nước ngoài là theo “mô hình tập trung”, nghiên cứu sinh phải dành toàn thời gian cho nghiên cứu tại một trung tâm khoa học. Nhưng ở Việt Nam, phần lớn nghiên cứu sinh chỉ theo học bán thời gian. Họ làm việc toàn thời gian, và tiêu rất ít thì giờ cho việc nghiên cứu tại trung tâm họ ghi danh theo học! Điều này dẫn đến tình trạng có nhiều nghiên cứu sinh phải “tự bơi”, rất ít khi nhận được hỗ trợ trực tiếp và có ý nghĩa từ người hướng dẫn. Có khi người hướng dẫn chỉ đứng tên, mà chẳng có đóng góp đáng kể vào việc hỗ trợ khoa học cho nghiên cứu sinh. Trong nhiều ngành, phần lớn nghiên cứu sinh chỉ hệ thống hoá những gì họ đang làm thường ngày thành một… luận án!

Thời gian đào tạo một tiến sĩ thường tốn khoảng bốn năm. Ở Úc, nếu học bán thời gian (số này rất ít) phải tốn từ 5 – 6 năm. Thế nhưng ở Việt Nam, có quy định nghiên cứu sinh đã có bằng thạc sĩ chỉ cần tiêu ra hai năm học tiến sĩ. Với một thời gian ngắn như thế, rất khó có thể đào tạo một tiến sĩ theo chuẩn mực mà quốc tế công nhận.

NGUYỄN VĂN TUẤN – SGTT

(còn một kỳ)

Lịch sử văn bằng tiến sĩ

Tuy có danh chính thức là triết học (“doctor of philosophy” hay PhD) nhưng tiến sĩ không hẳn là người học về triết. Theo bộ luật La Mã, vào thời trung cổ, mỗi ngành nghề có quyền thành lập một hiệp hội gọi là “collegium”, và hiệp hội này bầu ra những người có danh hiệu “magistrates” (tạm dịch là “thầy”). Sau khi xong văn bằng bachelor, thí sinh có thể theo học tiếp chương trình master hay doctor. Và sau khi đã xong chương trình học khoảng tám năm, một hội đồng giám khảo sẽ duyệt xét thí sinh để kết nạp vào tổ chức được gọi là Universitas of Doctors. Sự kết nạp này cũng là một “chứng chỉ” được hành nghề dạy đại học. Lúc bấy giờ, những danh xưng như master, doctor và professor có cùng nghĩa và tương đương về giai cấp: hành nghề dạy học. Vào thế kỷ 13, những người dạy tại đại học Bologna, lúc đó là trung tâm huấn luyện về luật pháp bên Âu châu, được gọi là doctor. Trong khi đó ở đại học Paris, là trung tâm về văn học nghệ thuật, những người dạy học được gọi là master.

Ở Anh và Mỹ, văn bằng doctor sau này được đánh giá cao hơn master. Ở Anh, hai đại học Oxford và Cambridge được mô phỏng theo hệ thống tổ chức của đại học Paris, do đó các nhà khoa bảng các môn văn hoá nghệ thuật thường được gọi là master, trong khi các đồng nghiệp của họ trong các môn học như triết, thần học, y học, và luật được gọi là doctor. Ngày nay, các tên bằng cấp như Master of Arts và Doctor of Philosophy có nguồn gốc từ sự phân chia này.

Phương Đông có văn bằng tiến sĩ từ lâu. Vào năm 1313 (triều đại nhà Tống – Trung Hoa), một cuộc thi tuyển đặt dưới sự chủ toạ của vua được tổ chức. Qua kỳ thi này, có 300 thí sinh được cấp danh hiệu tiến sĩ.

HIV: 14 Patients Have ‘Functional’ Cure

Early and effective HIV therapy may – in a small fraction of patients — lead to a so-called functional cure, French researchers reported.

Fourteen patients who were treated within the first 2 months of infection were later able to stop combination antiretroviral therapy without an HIV rebound, according to Asier Sáez-Cirión, PhD, of the Institut Pasteur in Paris, and colleagues in the so-called VISCONTI study.

While all 14 still have HIV, in most cases it can only be detected with ultrasensitive laboratory tests and is undetectable by standard methods, Sáez-Cirión and colleagues reported online in PLoS Pathogens.

But in all cases, the infection appears to be under control without the use of drugs – the definition of a functional cure, which unlike a “sterilizing” cure does not completely get rid of HIV.

The report is the second in several days of what appears to be curative early treatment for HIV.

Researchers reported at the recent Conference on Retroviruses and Opportunistic Infections that combination antiretroviral treatment in the first few hours of life appears to have eliminated HIV infection in a baby.

Nonetheless, in general, stopping HIV treatment is not recommended, commented Michael Saag, MD, of the University of Alabama Birmingham.

“In my practice,” he told MedPage Today, “I would start everyone with acute infection on antiretroviral therapy, but in general I would just continue that therapy and not stop.”

Several studies of so-called treatment interruption have showed that for most people, stopping therapy leads to sharp and dangerous increases in HIV replication, Saag noted.

The difference in this group, the researchers suggested, is that they were treated very early, in what’s called primary or acute infection, and spent between a year and 7.6 years on therapy, with a median of 36.5 months.

Their reasons for stopping, Sáez-Cirión told MedPage Today in an email, included a desire to take a vacation from therapy and participation in a treatment-interruption study.

The 10 men and four women have now been off therapy for between 4 and 9.6 years. Their plasma viral loads are below 40 copies of HIV RNA per milliliter in all but three cases, and below five copies in five patients.

The virus is conventionally regarded as “undetectable” if the plasma viral load is below 50 copies per milliliter, although so-called single-copy assays – only rarely used outside the lab – can detect smaller amounts of HIV.

What Sáez-Cirión and colleagues are calling “post-treatment controllers” are not common, they noted.

When they looked at the French database of HIV patients from 1997 to 2011, they found just 756 patients who were treated within 6 months of infection and who maintained therapy for at least a year.

Of those who had a detectable viral load before therapy and an undetectable one afterward, just 70 stopped treatment and had subsequent viral load measurements.

Kaplan-Meier estimates of that population suggested the probability of maintaining viral control after a year was 15.3%.

That means, Saag noted, that about 85% of patients treated early will still face viral rebound if they stop treatment.

Although the phenomenon may not have immediate clinical implications, he said, it’s “proof of concept” that the immune system can control HIV in some circumstances.

It may also offer hope for a vaccine, he said. “It shows there is some immune response,” he said, “that can be stimulated not just to control infection but to prevent infection if that part of the immune system can be primed and activated.”

Indeed, the researchers argued that study of these patients and others like them could “open up new therapeutic perspectives” for people with HIV.

Among other things, they found that the immune systems of post-treatment controllers don’t resemble those of “elite controllers” – the 1% of the HIV-positive population that appears to have a natural ability to control the virus.

The elite controllers tend to have protective HLA class I alleles, but the 14 patients tended to have HLA variants associated with a higher risk of HIV progression, they reported.

As well, elite controllers have large numbers of highly efficient HIV-specific CD8-positive T cells; the post-treatment controllers have “very weak” and in some cases barely detectable HIV-specific CD8 responses.

On the other hand, there’s at least one important similarity: Both groups have small HIV “reservoirs” — groups of infected cells that give rise to new virus, leading to viral rebound when therapy is stopped.

The finding suggests that “limiting the pool of infected cells is crucial for the successful control of viral replication in the absence of therapy,” Sáez-Cirión and colleagues argued.

And, they concluded, early therapy, continued over a prolonged period, “likely played an important role in reducing the reservoirs.”

That said, it remains “unclear” what factors distinguish the patients who achieved control from those who did not.

Medscape

Same CVD Risk When Former Smokers Gain Weight

Same CVD Risk When Former Smokers Gain Weight

Weight gained after someone quits smoking has no effect on the cardiovascular benefits of butting out, at least among people without diabetes, researchers reported.

In a prospective community-based cohort with more than 20 years of data, former smokers had about half the risk of developing cardiovascular disease as smokers, according to Carole Clair, MD, of the University of Lausanne in Lausanne, Switzerland, and colleagues.

But adjusting those estimates for weight gained after stopping smoking had no significant effect, Clair and colleagues reported in the March 13 issue of the Journal of the American Medical Association.

The results, strictly speaking, apply only to participants without diabetes, Clair and colleagues reported, but estimates were similar among those with diabetes, although they did not reach statistical significance.

They concluded that the findings support “a net cardiovascular benefit of smoking cessation, despite subsequent weight gain.”

Indeed, “overall, the study supports the belief that smoking cessation is beneficial for smokers,” commented Michael Fiore, MD, and Timothy Baker, PhD, both of the University of Wisconsin School of Medicine and Public Health in Madison.

And importantly, they argued in an accompanying editorial, “no subpopulation has yet been identified that shows significantly reduced benefit from quitting, let alone harm.”

Clinicians, they concluded, can use the study to reassure smokers that any weight gain won’t take away the cardiovascular benefits of quitting tobacco. Although the knowledge may not assuage concerns about appearance, Fiore and Baker argued, it still might help tip the balance.

The researchers noted that cigarette smoking is the leading cause of preventable mortality in the U.S. and a major risk factor for cardiovascular disease. Quitting cuts the risk of cardiovascular disease, but it has not been clear what effect subsequent weight gain might have, since obesity is also a risk factor.

To try to clarify the issue, Clair and colleagues used data from the long-running Framingham Offspring Study, collected from 1984 through 2011 and involving 3,251 participants who were free of cardiovascular disease at the beginning of the analysis.

Participants had a physical examination every 4 years, and at each exam investigators categorized their self-reported smoking status as smoker, recent quitter (within the previous 4 years), long-term quitter (off tobacco for more than 4 years), and nonsmoker.

Clair and colleagues estimated the association between quitting smoking and incident cardiovascular disease, as well as testing whether post-quitting change in weight had any effect on that association.

As expected, quitting smoking led to weight gains, they found.

Among participants without diabetes, recent quitters gained a median of 5.9 lbs., significantly more than long-term quitters (at 1.9 lbs.), smokers (also at 1.9 lbs.), and nonsmokers (at 3.0 lbs.).

Among patients with diabetes, recent quitters also gained significantly more weight – a median of 7.9 lbs. — than smokers, long-term quitters, and nonsmokers, whose median gains were 1.9, 0, and 1.1 lbs., respectively.

After an average follow-up of 25 years, there were 631 cardiovascular disease events, Clair and colleagues reported.

Among participants without diabetes, the incidence rate – adjusted for age and sex — was 5.9 events per 100 person-examinations among smokers, compared with 3.2 in recent quitters, 3.1 in long-term quitters, and 2.4 in nonsmokers.

After the researchers adjusted for cardiovascular risk factors, recent quitters had a hazard ratio for cardiovascular disease (compared with smokers) of 0.47 (95% CI 0.23 to 0.94). For long-term quitters, the hazard ratio was 0.46 (95% CI 0.34 to 0.63).

The associations underwent “only a minimal change” after they were adjusted for changes in weight, Clair and colleagues reported.

The researchers cautioned that they did not use biochemical measures to verify smoking status. In addition, the participants were mostly white, so it’s not clear how widely the findings apply.

Medscape