Monthly Archives: May 2013

Chuyển hóa Calcium và Phosphate

(Nguyễn Văn Tiến trình bày)

Chuyển hóa Calcium và Phosphate
– 98-99% Calcium được tái hấp thu ở thận với khoảng 60% ở ống lượn gần và lượng còn lại hấp thu ở nhánh lên quai Henle và DCT, ống lượn xa hấp thu Ca++ qua TRPV6 (trước đây gọi là CaT1 hay ECaC2) biểu hiện bởi PTH hoặc dependent vitamin D.
1.png
– Phosphorus: Pi được lọc ở cầu thận và 85-90% được tái hấp thu. Sự hấp thu của Pi là chủ động thứ phát phụ thuộc Na+(Na+/Pi cotransporter) như NaPi-IIa và NaPi-IIc(tái hấp thu ở ruột non là NaPi-IIb). NaPi-IIb co-transport được ức chế mạnh mẽ bởi PTH→trực tiếp làm giảm tái hấp thu Pi
2.png
– Tia cực tím kích thích vận chuyển chủ động hấp thu Ca++ và PO43- từ ruột. 7-dehydrocholesterol→tiền vitamin D3 một cách nhanh chóng, sau đó previtamin D3 chuyển từ từ thành vitamin D3. Vitamin D3 và hydroxylated derivatives của nó gắn vào globulin huyết tương qua DBP(vitamin D-binding protein) và được hấp thu ở ruột. Sau đó vitamin D3 chuyển qua 25-hydroxycholecalciferol(calcidiol hay 25-OHD3) ở gan và sau đó 25-OHD3 chuyển thành dạng hoạt động hơn là 1,25-dihydroxycholecalciferol (calcitriol hay 1,25-(OH)3D3) ở tế bào ống lượn gần của thận. calcitriol tạo nên nhau thai (placenta), keratinocytes ở da và macrophages. Cuối cùng calcitriol chuyển thành 24,25-dihydroxycholecalciferol, là dạng có ít hoạt tính hơn.
3.png

– Điều hòa tạo calcidiol không nghiêm ngặt, tuy nhiên điều hòa tạo calcitriol ở thận xúc tác bởi 1α-dihydrocholecalciferol ở thận, là một kiểu phản hồi âm hoặc dương bởi Ca++ và PO4‑3- . Khi nồng độ Ca++ cao trong huyết tương, 1 ít calcitriol tạo ra và thận sản xuất chậm thụ động tương đối 24,25-dihydroxycholecalciferol thay thế. PTH tăng tiết khi nồng độ Ca++ thấp →1α-hydroxylase được kích thích→tăng tạo calcitriol. Sự tạo calcitriol được kích thích bởi nồng độ thấp Ca++ nhưng ức chế bởi nồng độ cao PO43-‑, do nó ức chế trực tiếp 1α-hydroxylase. Thêm vào đó, kiểm soát tạo calcitrol bởi phản hồi âm của 1α-hydroxylase và phản hồi dương của sự tạo 24,25-dihydroxycholecalciferol lên PTH tuyến cận giáp.
4.png

Xem thêm và thảo luận tại đây.

INCRETINS VÀ CHỨC NĂNG ĐIỀU HÒA ĐƯỜNG HUYẾT

INCRETINS VÀ CHỨC NĂNG ĐIỀU HÒA ĐƯỜNG HUYẾT

Phùng Trung Hùng – Nguyễn Phước Long

Đại cương

Sự khám phá ra incretins rất ngẫu nhiên khi người ta thấy một số thổ dân và du khách ở vùng Tây Bắc Mexico thì bị thiệt mạng do bị một loại thằn lằn cắn. Giống thằn lằncó tên khoa học là Heloderma suspectum hay còn được gọi là quái vật Gila (Gila monster). Sau đó người ta biết rằng, chính glucagon-like peptide-1 (GLP-1) trong nước bọt của loại thằn lằn này là thủ phạm gây hạ đường huyết.

Hình 35.1: Một con quái vật Gila.

Người ta giải mã chuỗi peptide này và nhận thấy nó cũng được tiết ra trong cơ thể người từ niêm mạc của đường tiêu hóa. Điều này là minh chứng rõ rệt cho một quan điểm đã có từ trước đó: “Hệ tiêu hóa cũng là hệ nội tiết.” Cũng từ đây, một hi vọng mới về phương pháp chữa trị bệnh tiểu đường týp 2 cũng dần được phát triển và mở ra nhiều triển vọng trong tương lai.

Hình 35.2: Sự xuất tiết incretins trong cơ thể người. Đường, amino acid và cả acid béo đều có khả năng kích thích sự phóng thích incretins từ niêm mạc ruột. Incretins tác động kích thích lên tế bào β gây ra sự phóng thích inslin. Thứ nữa, incretins sẽ hoạt động trên sự dẫn truyền thần kinh, dẫn đến sự ức chế tế bào α giảm giải phóng glucagon. Cũng như thức ăn, có khả năng ức chế gián tiếp tế bào α thông qua tế bào δ.

Hình 35.3: Các thụ thể vị giác trên lưỡi và trên tế bào ruột có khả năng điều khiển sự phóng thích incretins xuyên qua thần kinh X để vào hệ tuần hoàn đi đến tế bào đích. Điều này xảy ra  ngay trước khi quá trình tiêu hóa bắt đầu.

Incretins là (những) hormone có chức năng làm tăng sự chế tiết insulin. Nó được biết đến và  được nghiên cứu từ khi người ta nhận thấy các đáp ứng tiết insulin tăng lên khi glucose được thu nhận từ đường miệng so với đường tĩnh mạch. Người ta đề ra giả thuyết rằng, glucose trong hệ thống tiêu hóa đã hoạt hóa một cơ chế điều hòa tiến tới để tăng tiết insulin, trước cả khi nồng độ glucose trong máu tăng lên.

Có hai hormone incretin chính ở người: GIP (glucose-dependent insulinotropic peptide, thường được biết tới như là một peptide ức chế dạ dày) và GLP-1 (glucagon-like peptide-1). Cả hai hormone này được tiết ra từ các tế bào nội tiết ở tế bào biểu mô hồi tràng và kết tràng. Cơ chế tiết incretins được điều hòa bởi nhiều hormone đường tiêu hóa khác, đáp ứng xảy ra khi có sự gia tăng nồng độ thức ăn trong lòng ống. Ngoài ra, một số tài liệu còn nhắc đến vai trò của CCK (cholecystokinin).

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng đó không phải là cơ chế điều hòa duy nhất. Glucose trong ruột non kích hoạt sự chế tiết incretins, sau đó nó đi vào hệ tuần hoàn để đến các tế bào β tụy tạng. Incretins kích hoạt tế bào β và khiến chứng tiết ra nhiều insulin hơn so với đồng lượng glucose trong máu.

Hình 35.4: Minh họa Chức năng của incretins

Xem toàn bộ bài viết tại đây.

Nitric oxide và cơ thể sinh học

Tổng quan về Nitric oxide

cPhùng Trung Hùng – Nguyễn Phước Long

Từ lâu loài người đã tin rằng các tín hiệu giữ vai trò liên lạc giữa các tế bào với nhau là các phân tử phức tạp như protein hay peptide, lipid,… Ngày nay, đã có nhiều bằng chứng rõ ràng rằng có một nhóm phân tử tín hiệu khác, đơn giản hơn nhiều và tồn tại ở dạng khí đóng vai trò thông tin quan trọng trong hầu hết các loại mô của cơ thể.

Nhóm phân tử này bao gồm NO, CO và H2S. Các mục tiêu đặc hiệu của nhóm phân tử này là tế bào cơ trơn, neurons và hệ thống dạ dày ruột. Người ta tin rằng vẫn còn những phân tử tín hiệu khác trong nhóm này sẽ được tìm thấy. Tuy nhiên, khi các lộ trình tín hiệu của các phân tử khác còn đang bỏ ngỏ, cơ chế hoạt động của NO đã được nghiên cứu rất nhiều (hơn 100000 báo cáo riêng lẻ) và người ta đã biết rằng nó là một phân tử thông tin rất quan trọng trong cơ thể.

NO là một phân tử tín hiệu mới được phát hiện (1980s) trong hệ thống sinh học của cơ thể người. Các nhà khoa học phát hiện ra nó bao gồm R. Furchgott, L. Ignarro và F. Murad đã được giải Nobel sinh lý học năm 1998. Nó đóng vai trò quan trọng trong cơ chế cầm máu và trong tế bào cơ trơn (đặc biệt là cơ trơn mạch máu), neuron và hệ thống dạ dày ruột. Do vậy, NO tham gia hầu hết các quá trình sống của chúng ta như sự tỉnh thức, tiêu hóa, chức năng sinh dục, cảm giác đau, cảm giác hài lòng, gợi kí ức và giấc ngủ. Quan trọng hơn cả, cách thức hoạt động của nó sẽ quyết định đến quá trình lão hóa của chúng ta. Nó gần như đóng vai trò quan trọng trong các trường hợp chúng ta chết do bệnh tim mạch, đột quỵ, tiểu đường và ung thư. Các triển vọng mới trong khả năng kiểm soát khả năng của NO mang lại kì vọng cho khả năng nâng cao chất lượng sống của con người trong tương lai.

Hình 36.1: Minh họa sự liên hệ giữa cách hoạt động và nồng độ của NO.

Nhìn ngược lại quá khứ, các nghiên cứu về NO tập trung vào thuộc tính hóa học và hóa sinh học của nó trong cơ thể sống. Tuy nhiên, khi hiểu biết của loài người về hoạt động sinh học và sinh lý học của NO đạt được một số thành tựu, người ta đã xác định được rằng hoạt tính hóa học của NO trên các đáp ứng sinh học đặc hiệu phụ thuộc rất nhiều vào nồng độ của nó. Dựa vào sự kiểm tra nhiều protein được biết đến như là các chất điều biến post-translational bởi NO/RNS, người ta phát hiện ra rằng NO hoạt động theo nguyên tắc oxi hóa khử. Ví dụ, khi nồng độ NO vào khoảng 10-30 nM, nó hoạt động thông qua lộ trình tín hiệu cGMP của ERK trong cả MCF7 và tế bào nội mô. Ở nồng độ 30-60 nM, NO tham gia lộ trình tín hiệu phosphoryl hóa của Akt. Khi nồng độ lên đến khoảng 100 nM, nó làm cho hoạt tính của yếu tố hypoxia inducible factor (HIF-1α) ổn định. Ở nồng độ trên 400 nM, p53 có thể bị phosphoryl hóa và acetyl hóa. Khi nồng độ của NO vào khoảng đơn vị µM, các quá trình nitro hóa protein (như PARP, poly ADP-ribose polymerase) và các enzyme caspase xảy ra. Nồng độ NO cao như vậy sẽ ức chế hoạt động hô hấp của ti thể.

Yếu tố động học và sự tương tác với các phân tử đích

Hình 36.2: Sự tác động của yếu tố động học đến các hoạt động phụ thuộc vào nồng độ của NO

Có nhiều yếu tố khác nhau trong cơ thể điều hòa nồng độ của NO và vì vậy quyết định sự hoạt hóa các lộ trình tín hiệu khác nhau một cách chọn lọc. Nồng độ NO nội sinh dao động từ mức cơ sở như trong tế bào nội mô (<2 nM) đến mức hoạt hóa toàn bộ đại thực bào (> 1µM). Mức độ dao động nồng độ rộng và thuộc tính hóa học của NO khiến nó trở thành một tác nhân truyền tín hiệu rất linh động trong hệ thống tín hiệu của cơ thể. Trong các tác động phụ thuộc vào nồng độ, các yếu tố tế bào và yếu tố hóa sinh tham gia cùng lộ trình tín hiệu của NO cần phải được tìm hiểu nhiều hơn để có thể hiểu trọn vẹn sự phức tạp và đa dạng về hoạt động của NO. Các yếu tố này liên quan đến lượng NO được tạo thành, khả năng khuếch tán, mức độ hoạt động của các gốc tự do liên quan đến NO (RNS) với phân tử đích.

Cơ chế hình thành NO

Mặc dù có nhiều cơ chế giải thích sự hình thành NO (liên quan đến hoạt động của acid HNO2, HNO3 và sự khử các nitrite nói chung), sự hình thành NO trong động vật có vú là quá trình có sự tham gia của enzyme NO synthase (NOS). Họ enzyme này chuyển arginine thành citrulline và NO trong phản ứng có sự tham gia của NADPH và Oxygen. Cơ chế cụ thể của quá trình tổng hợp NO sẽ được trình bày trong chương “Lộ trình tín hiệu”.

Hình 36.3: Các thành phần cấu thành NOS được mô tả trên sơ đồ trên. Domain có chức reductase trên hình trên được biểu thị kèm với vị trí gắn của hai phân tử flavin. Calmodulin gắn ion Ca2+ và có chức năng hoạt hóa NOS. Cơ chế hoạt hóa NOS bằng calmodulin vẫn còn được nghiên cứu thêm.

Các yếu tố (factors)tín hiệu RNS

NO và các RNS (NO2, ONOO, N2O3,…) được tạo ra từ NO là các tác nhân tín hiệu quan trọng trong tế bào. RNS có nhiều tác đích trong tế bào, bao gồm các thiols, lipiad và các acmino acid thơm. Quá trình nhiễm độc tế bào nặng (severe cytotoxicity) có thể xảy ra nếu hoạt tính hóa sinh học của các tính hiệu bình thường bị suy yếu do sự biến đổi kết cấu hóa học của các phân tử trên bởi tác dụng của RNS. Do vậy, nồng độ NO cao sẽ làm tăng xác suất của các tương tác hóa học không như ý, khiến tế bào dễ bị nhiễm độc hơn.

Sự hình thành các RNS bởi phản ứng NO/O2 hay NO/O2 xảy ra tại các vị trí khác nhau trong tế bào. Các phân tử hoạt động trung gian có tính ái điện tử, do vậy pKa của các cơ chất có vai trò quyết định yếu tố nhiệt động học của phản ứng. Các RNS cơ bản là N2O3, NO2 và peroxynitrite (ONOO). Trong đó, peroxynitrite là sản phẩm sinh ra chủ yếu trong quá trình hoạt động của NO, còn N2O3 và NO2 có thể được sinh ra bởi sự tự oxi hóa khử của NO và phản ứng NO/O2.

Phản ứng NO/O2 tạo thành peroxynitrite là một trong những phản ứng hóa học nhanh nhất trong tự nhiên. Khi O2 có thời gian sống ngắn, phản ứng này xảy ra trong môi trường dung dịch nước của mô. Trong cơ thể, peroxynitrite phản ứng nhanh với CO2, và chỉ trong vài mili giây, nó tạo thành ONOOCO2 và phản ứng tiếp tục xảy ra theo thứ tự sau đây:

Xem thêm bài viết hoàn chỉnh tại đây.

TỔNG QUAN HỆ RENIN – ANGIOTENSIN

TỔNG QUAN  HỆ RENIN – ANGIOTENSIN

Phùng Trung Hùng – Nguyễn Phước Long

Giới thiệu chung

Hệ renin-angiotensin (RAS) góp phần đáng kể trong sinh lý bệnh của tình trạng tăng huyết áp, suy tim, nhồi máu cơ tim và tiểu đường do bệnh lý thận. Ngày nay người ta đã hiểu tương đối rõ hệ này và đã vận dụng nhiều phương pháp ức chế hoạt động của nó để chữa bệnh. Chương này sẽ đề cập một số vấn đề từ phương diện hóa sinh, sinh học phân tử cho đến sinh lý của hệ renin-angiotensin để chúng ta có được cái nhìn từ tổng quan đến chi tiết vấn đề này.

Hình 37.1: Tính quyết định của Na+ đối với sự cân bằng nước. (a) Nồng độ Na+ trong huyết tương là một marker đại diện cho tính ưu trương/nhược trương của dung dịch và cách biểu hiện của tế bào trong một dung dịch. Trương lực được quyết định bởi nồng độ osmol hiệu dụng (effective osmols) được xác định bởi tổng thể tích nước trong cơ thể. Chúng ta có thể hiểu đơn giản hơn khi xét tổng nồng độ Na+ thể và anions ngoại bào trong cơ thể riêng lẽ với tổng nồng độ K+ nội bào trong cơ thể. Sự cân bằng nước tổng thể được quyết định bởi cơ chế gây khát, thụ cảm thẩm thấu(osmoreception), tái hấp thu Na, sự giải phóng vasopressin,… và nồng độ osmol bình thường vào khoảng 280 mosmol/L. Khi quá trình chuyển hóa nước bị gián đoạn, tổng lượng nước trong cơ thể tăng lên sẽ gây giảm natri máu, dung dịch nhược trương và sự nhiễm độc nước (intoxication) xảy ra. Ngược lại, khi tổng lượng nước trong cơ thể giảm sẽ gây tăng natri máu, dung dịch ưu trương và các quá trình dehydrate hóa xảy ra.(b) Thể tích máu ngoại bào (extracellular blood volume) và áp suất của nó được duy trì bởi tổng nồng độ Na+ trong cơ thể, tổng lượng H2O trong cơ thể, trương lực mạch máu, nhịp tim và thể tích tống máu. Thể tích máu ngoại bào này được xác định bởi tổng cân bằng Na dưới sự kiểm soát của vị giác, baroreceptor (trong cơ chế tác hồi âm kiểm soát huyết áp), thói quen ăn uống, sự tái hấp thu Na+, vòng tác hồi vết đặc/cầu thận và các peptide lợi niệu. Sự chuyển hóa Na+ bị gián đoạn và tổng lượng Na+ trong cơ thể tăng lên sẽ gây phù và ngược lại.

Các thành phần cấu tạo nên hệ renin-angiotensin

Hình 37.2: Các thành phần của RAS. Các mũi tên lớn biểu thị lộ trình cổ điển và các mũi tên nhạt hơn biểu thị các lộ trình thay đổi.

AngII là peptide angiotensin hoạt động nhất, hoạt động qua thụ thể AT1 và AT2 (theo lộ trình tín hiệu của GPCR). Nó được tổng hợp từ angiotensinogen qua hai giai đoạn phân cắt protein (proteolytics). Trước hết, renin được giải phóng ở thận sẽ xúc tác cho phản ứng phân cắt angiotensinogen thành AngI (một decapeptide). Sau đó, khi ACE loại bỏ 2 peptide ở đầu C của AngI để tạo nên AngII.

Ngày nay, quan niệm khi nhìn nhận về RAS đã có nhiều thay đổi. Người ta thấy nhiều phương diện hơn về RAS như nó có thành phần mang tính chất cục bộ (local RAS), các lộ trình tổng hợp AngII thay đổi (không phụ thuộc ACE), sự hình thành và hoạt tính sinh học của các peptide angiotensin khác như III, IV, 1-7 và các thụ thể gắn angiotensin mới (angiotensin subtypes 1,2 và 4, [AT1, AT2, AT4]; Mas). Tất cả các điều trên tham gia vào tất cả sự biệt hóa, tăng trưởng của tế bào, sự phì đại, phản ứng viêm, xơ hóa và apoptosis. Sau đây, chúng ta sẽ lần lược tiềm hiểu các thành phần của hệ renin-angiotensin và tính chất của chúng.

Renin

Hình 37.3: (A) Minh họa 3 lộ trình sinh lý chính điều hòa sự tiết renin. (B) Cơ chế vết đặc điều hòa sự tiết renin. Sự thay đổi của quá trình đưa NaCl đến vết đặc gây ra một luồng tín hiệu thích hợp đến các tế bào cận tủy thận. Sự giảm nồng độ Nasẽ gây tăng điều hòa nNOS và COX-2 trong vết đặc để tăng tổng hợp prostaglandins. PGs và catecholamines kích hoạt sự tổng hợp cAMP và từ đó renin được tạo ra ở tế bào cận tủy thận. Tăng vận chuyển NaCl làm giảm nồng độ ATP và tăng nồng độ ADO. ADO sẽ khuếch tán tới tế bào cận tủy thận, bất hoạt AC và sự tạo renin thông qua protein Gi của thụ thể A1. Sự tăng vận chuyển NaCl trong vết đặc cũng có thể tăng hiện tượng xuất bào của ATP và do vậy có thể gây ra hiện tượng ức chế sự tiết renin trực tiếp qua thụ thể P2Y và hoạt hóa lộ trình Gq-PLC-IP3-Ca2+ ở tế bào cận tủy thận. AngII tuần hoàn cũng có thể bất hoạt sự tiết renin thông qua thụ thể AT1.

Renin là yếu tố quyết định tiên quyết số lượng AngII sẽ được tạo ra. Nó được tổng hợp, dự trữ và tiết (bởi quá trình xuất bào vào trong hệ tuần hoàn động mạch thận) bởi các tế bào hạt cận tủy thận nằm trên thành của động mạch vào cầu thận.

Hình 37.4: Lộ trình tín hiệu chi tiết về tác động của AngII, Adenosine, ATP, Norepineprine,… lên sự co mạch máu.

Renin là một aspatyl protease(nó phân cắt giữa vị trí amino acid 10 và 11 của angiotensinogen để tạo ra AngI).Dạng ban đầu, preprorenin có 406 amino acids sẽ được chuyển thành prorenin. Prorenin sau đó phân cắt để tạo thành thể hoạt động renin bởi quá trình được xúc tác bởi proconvertase 1 hay cathepsin B (loại bỏ 43 amino acid tại đầu N của nó). Thể hoạt động của renin có 340 amino acids và là một glycoprotein, vị trí hoạt động của renin nằm ở trong khe ở giữa hai thùy tương đồng (homologous lobes) của enzyme.Có một điều cần lưu ý là, sự hoạt hóa không kèm phân cắt protein (nonproteolytic activation) là trung tâm của quá trình hoạt hóa RAS cục bộ (local/tissue RAS), quá trình này xảy ra khi prorenin gắn vào thụ thể prorenin/renin, gây biến đổi cấu trúc của proreninkhiến nó không gấp nếp và do vậy để lộ vị trí xúc tác của enzyme. Cả renin và prorenin đều được dự trữ trong các tế bào cận tủy thận và khi được giải phóng, chúng sẽ tuần hoàn trong máu. Nồng độ của prorenin tuần hoàn cao gấp 10 lần renin. Điều cần lưu ý thêm ở mục này đó là thời gian bán hủy của renin chỉ có khoảng 15 phút.

Hình 37.5: Sự hoạt hóa prorenin và sự ức chế bởi các yếu tố dược lý của renin.

Kiểm soát sự chế tiết renin

Hình 37.6: AngII và/hoặc các một số quá trình trao đổi chất chính.

Sự chế tiết renin từ tế bào cận tủy thận được điều hòa chủ yếu bởi 3 lộ trình:

–          Lộ trình vết đặc (macula densa): Vết đặc là các tế bào biểu mô trụ đặc biệt nằm cạnh sát các tế bào cận tủy thận. Khi sự tái hấp thu NaCl của vết đặc bị thay đổi sẽ sinh ra một luồng tín hiệu hóa học điều hòa sự tiết renin. Cụ thể, tăng dòng NaCl qua vết đặc sẽ ức chế tiết renin và ngược lại, giảm NaCl qua vết đặc sẽ kích hoạt tiết renin.

ATP, adenosine và prostaglandins điều biến lộ trình tín hiệu này:

  • ATP và adenosine được tiết ra khi các kênh tải NaCl tăng lượng ATP tác động lên thụ thể P2Y để ức chế sự tiết renin. Khi adenosine tác động thông qua thụ thể A1, nó cũng ức chế sự tiết renin.
  • Prostaglandins (PGE2, PGI2) được giải phóng khi các kênh giảm tải NaCl và kích hoạt sự giải phóng renin thông qua quá trình tăng hình thành cAMP. Sự tổng hợp prostaglandins được kích hoạt bởi COX-2. Lưu ý là cả COX-2 và nNOS tham gia vào cơ chế tiết renin của vết đặc.Khi chế độ ăn uống quá thiếu Na+, sự biểu hiện của COX-2 và nNOS sẽ bị quá điều hòa (upregulated). Nhưng nếu một trong hai phân tử trên bị ức chế, nó sẽ ức chế sự tiết renin. Lộ trình nNOS/NO có thể tăng sự biểu hiện của COX-2, điều này phát sinh khi chế độ ăn uống có nồng độ Na+ thấp, tuy nhiên sự tồn tại của COX-2 ở vết đặc lại không làm giảm biểu hiện của nNOS (khi thử nghiệm trên chuột). Điều này gợi ý rằng có các cơ chế khác bù trừ cho nNOS trong sự điều hòa của COX-2.

Sự điều hòa theo lộ trình tín hiệu của vết đặc phụ thuộc nhiều vào nồng độ của Cl trong lòng ống hơn là Na+. NaCl vận chuyển vào trong vết đặc qua trung gian bởi kênh đồng vận chuyển Na+-K+-2Cl và nồng độ bán tối đa (half-maximal concentrations) của Na+ và Cl để có thể được vận chuyển qua kênh đồng vận chuyển lần lượt là 2-3 và 40 mEq/L. Trên thực tế, nồng độ Na+ trong lòng ống tại vết đặc thường cao hơn rất nhiều nồng độ cần thiết do vậy sự biến đổi sinh lý nồng độ Na+ tại vết đặc có ít tác động lên sự giải phóng renin. Tuy nhiên, sự thay đổi nồng độ sinh lý của Cl trong khoảng từ 20-60 mEq/L ở vết đặc, do vậy nó mới thực sự tác động có ý nghĩa trong sự tiết renin ở vết đặc.

–          Lộ trình thụ thể áp suất nội thận (intrarenal baroreceptor): Sự tăng hay giảm huyết áp hoặc áp suất tưới máu thận (renal perfusion pressure) ở tiền mạch cầu thận (preglomerular vessel)có thể bất hoạt hay kích thích sự tiết renin. Khi áp suất trong thành động mạch đến giảm thì nó sẽ tạo ra một kích thích trực tiếp đến sự tiết renin. Tuy nhiên, sự giải phóng prostaglandins thận và sự kết hợp của 2 yếu tố hóa – cơ học  thông qua kênh ion hoạt hóa bởi sức căng cũng có thể đóng vai trò trung gian trong lộ trình tín hiệu này.

Xem toàn bộ bài viết tại đây.

SỰ LỌC CỦA CẦU THẬN

1) Màng mao mạch cầu thận

Màng mao mạch cầu thận tương tự như các mao mạch khác, ngoại trừ là nó có 3 (thay vì 2 như bình thường) lớp chính: nội mô mao mạch, màng đáy và lớp tế bào biểu mô bao quanh mặt ngoài màng đáy mao mạch (podocyte).

3 lớp này tạo nên hàng rào lọc, mặc dù là có 3 lớp nhưng chúng lọc gấp hàng trăm lần các màng mao mạch bình thường. Với tỉ lệ lọc cao như vậy nhưng màng mao mạch cầu thận vẫn ngăn cản được protein huyết tương.

màng lọc.png

Tỉ lệ lọc cao này là do cấu trúc đặc biệt của nó. Lớp nội mô mao mạch có hàng ngàn lỗ nhỏ như cửa sổ (fenestrae), tương tự như các mao mạch có lỗ được tìm thấy ở gan. Tuy là các lỗ này tương đối rộng (đường kính 160 angstrom), nhưng các tế bào nội mô lại có rất nhiều thành phần điện tích âm cố định gắn vào vậy nên vẫn ngăn chặn được protein huyết tương đi qua. Bao quanh lớp nội mô là lớp màng đáy, bao gồm một hệ thống collagen và các sợi proteoglycan (là không gian rộng lớn cho một lượng lớn nước và các chất hòa tạn nhỏ có thể lọc). Màng đáy cũng ngăn sự lọc protein huyết tương, một phần do điện tích âm rất mạnh liên quan proteoglycan.

Phần cuối cùng là lớp tế bào biểu mô. Những tế bào này không liên tục mà phân ngón thành những chân bám vào mặt ngoài màng đáy. Những “ngón chân” này ngăn cách bởi các cái lỗ nhỏ đường kính khoảng 70 (slit pore) cho dịch lọc đi qua. Các tế bào biểu mô cũng có điện tích âm lại càng làm tăng thêm sự hạn chế lọc protein huyết tương. Tóm lại 3 lớp của thành mao mạch cầu thận tạo nên một hàng rào lọc vững chắc đối với protein huyết tương.

Khả năng lọc của các chất tan tỉ lệ nghịch với kích thước của chúng.

Màng mao mạch cầu thận thì dày hơn các mao mạch khác, nhưng nó lại xốp hơn (có nhiều lỗ) và vì vậy dịch lọc có tỉ lệ cao hơn. Mặc dù tỉ lệ lọc cao, nhưng hàng rào lọc vẫn chọn lọc trong việc phân tử nào sẽ được lọc, dựa trên kích thước và điện tích của chúng.

bảng 1.png

Phân tử mang điện tích âm thì lọc khó hơn là phân tử mang điện tích dương cùng kích thước (ví dụ albumin đường kính chỉ là 6nm, trong khi các đường kính lỗ là 8 nm nhưng nó lại bị hạn chế lọc do điện tích âm của nó và lực đẩy tĩnh điện của điện tích âm của proteoglycan ở thành mao mạch cầu thận).

Hình dưới đây nói lên tác động của điện tích lên sự lọc của các phân tử dextran khác nhau.

bang2 2.png

Vậy thì khi mà điện tích âm trên màng đáy bị mất thì một số protein trọng lượng phân tử thấp, đặc biệt là albumin, sẽ được lọc vào trong nước tiểu (tình trạng này gọi là protein niệu hay albumin niệu).

Thành phần dịch lọc

Sự hình thành nước tiểu bắt đầu bằng việc lọc một lượng lớn dịch qua mao mạch cầu thận vào bao Bowman. Giống như hầu hết các mao mạch khác, mao mạch cầu thận thì tương đối không thấm với protein, do đó dịch lọc (glomerular filtrate) gồm rất ít protein tự do, không chứa hồng cầu.

Nồng độ của các thành phần khác của dịch lọc, gồm hầu hết các muối là các phân tử hữu cơ, thì có nồng độ tương tự như trong huyết tương. Có một số trường hợp ngoại lệ đó là các phân tử có trọng lượng phân tử thấp, như canxi và acid béo, không được lọc một cách tự do bởi chúng gắn một phần với các protein huyết tương. Ví dụ gần ½ canxi huyết tương là hầu hết các acid béo huyết tương gắn với protein và những phần gắn này không được lọc qua mao mạch cầu thận.

2) Tính GFR

Mức lọc cầu thận – GFR (glomercular filtration rate) là lượng dịch lọc (plasma ultrafiltrate) qua cầu thận trong một phút, được tính bằng cách đo lượng một chất trong huyết tương và lượng chất đó được thải ra. Chất dùng để đo GFR phải đảm bảo được lọc tự do qua cầu thận và phải là hoặc được tiết hoặc hấp thu. ngoài ra thì chất đó còn phải đảm bảo là không gây độc cho cơ thể và không bị chuyển hóa bởi cơ thể. Inulin, một polyme của fructoz với trọng lượng phân tử là 5200, đắp ứng được những tiêu chí này ở người và hầu hết các động vật, do đó được dùng để đo GFR.

Độ thanh thải (clearance) huyết tương ở thận là thể tích huyết tương trong đó một chất được loại bỏ hoàn toàn bởi thận trong một đơn vị thời gian (thường là một phút). Lượng chất xuất hiện trong nước tiểu trên một đơn vị thời gian là kết quả sự lọc ở thận một lượng nhất định huyết tương. GFR và độ thanh thải tính bằng đơn vị mL/min.

Qua tiến hành thao tác đo, người ta thu được các số liệu và cách tính độ thanh thải như sau:

ct.png

Trong đó:
UIN là nồng độ inulin nước tiểu
V là lượng nước tiểu trong một phút
PIN là lượng inulin trong huyết tương động mạch
C là độ thanh thải

Có thể nói lại cách tính như sau:

– U nhân với V ta được lượng inulin được lọc trong một phút

– Theo như giá trị của P, ta có được lượng inulin có trong một ml huyết tương động mạch ta có lượng inulin được lọc trong một phút là 35×0,9=63/2, vậy để lọc hết 1/4 mg inulin cần 1/126 phút.

Trong 1/126 phút thì “độ thanh thải” là 1ml, vậy suy ra độ thanh thải cần tính (trong một phút) bằng 126 mL/phút (nhân chéo chia ngang).

Độ thanh thải của creatinin cũng có thể được dùng để tính GFR, tuy nhiên đôi khi nó được tiết bởi ống thận vì vậy sẽ làm tăng nhẹ độ thanh thải của nó so với inulin (điều này có thể dễ thấy dựa trên công thức tính trên). Nó được dùng như là một chỉ số đánh giá chức năng thận (bình thường là 1mg/dL).

bảng 3.png

GFR bình thường

GFR ở người trưởng thành khỏe mạnh trung bình khoảng 125 mL/phút, tương đương 180L/ngày trong khi lượng nước tiểu chỉ có 1L/ngày. Vì vậy 99% hoặc hơn dịch lọc được tái hấp thu. Với tỉ lệ 125mL/phút, trong một ngày thận lọc một lượng dịch bằng 4 lần tổng lượng nước cơ thể, 15 lần thể tích dịch ngoại bào và 60 lần thể tích huyết tương.

3) Điều hòa GFR

Các yếu tố chi phối sự lọc qua mao mạch cầu thận cũng giống như ở các mao mạch khác, đó là kích thước giường mao mạch, tính thấm của mao mạch, áp suất thủy tĩnh và áp cuất thẩm thấu qua thành mao mạch. Với mỗi nephron ta có công thức sau:

ct2.PNG

Trong đó:
Kf là hệ số lọc cầu thận (phụ thuộc tính thấm của mao mạch cầu thận và diện tích bề mặt)
Pgc là áp suất thủy tĩnh của mao mạch cầu thận, Pt là áp suất thủy tĩnh của bao Bowman
π GC là áp suất keo của mao mạch cầu thận, và
π T là áp suất keo của dịch lọc bao Bowman

GFR.png

Chú ý: ở đây do protein bị ngăn chặn lọc qua màng lọc nên lượng protein hay là áp suất keo ở bao Bowman là không đáng kể. Còn lại 3 thành phần (trong đó chỉ có áp suất thủy tĩnh của mao mạch cầu thận là thuận lợi cho sự lọc, hai thành phần còn lại thì chống lại sự lọc). Điểm đặc biệt là áp suất keo ở mao mạch cầu thận là 32 mmHg, cao hơn áp suất keo của động mạch cơ thể – chỉ là 25 (do 20% lượng huyết tương qua cầu thận được lọc, trong khi protein lại không qua được màng lọc).

a) Tính thấm

Tính thấm của mao mạch cầu thận khoảng 50 lần mao mạch ở cơ bắp. Các chất trung tính với đường kính nhỏ hơn 4 nm thì được lọc từ do, nhưng nếu đường kính hơn 8 nm thì sự lọc gần bằng 0 (giữa hai giá trị đường kính này, sự lọc tỉ lệ nghịch với đường kính).

Tuy nhiên các sialoprotein (là những glycoprotein chứa acid sialic) ở thành mao mạch cầu thận mang điện tích âm, và các nghiên cứu về dextran (đường đa, tạo bởi nhiều phân tử glucoz) điện tích âm và dương [biểu đồ đã minh họa ở trên] cho thấy rằng điện tích âm của màng lọc đẩy các chất mang điện tích âm trong máu –> sự lọc của chất mang điện tích âm đường kính 4 nm thì ít hơn một nữa so với chất trung tính cùng kích thước. Điều này giúp ta giải thích được trường hợp đối với albumin (nồng độ trong cầu thận của nó chỉ là 0.2%). Ngược lại tỉ lệ lọc các chất mang điện tích dương thì lớn hơn chất trung tính. Số lượng protein nước tiểu bình thường ít hơn 100 mg/ngày, phần lớn không được lọc, một số tạo ra từ các ống thận (điều này giải thích tình trạng protein/albumin niệu có thể xảy ra không phải do tăng kích thước các lỗ ở màng lọc mà là do chính nguyên nhân này).

b) Kích thước giường mao mạch

Renal_corpuscle.svg.png

Kf có thể thay đổi bởi các tế bào mesangial (5a 5b trong hình minh họa, là các tế bào cơ trơn biệt hóa quanh mạch máu thận), sự co của chúng làm giảm diện tích lọc do đó làm giảm Kf. Theo như định nghĩa (Kf là mức lọc cầu thận đối với 1 mmHg áp suất) thì ta có thể dễ nhận ra được rằng khi mà các tế bào này co sẽ gây hẹp lòng mạch, dẫn đến (1) tăng kháng lực mạch máu/ tăng huyết áp và (2) giảm lọc ở cầu thận (do giảm tưới máu thận) –> giảm Kf. Dưới đây là các tác nhân tác động lên các tế bào mesangial:

bảng 4.png

c) Áp suất keo và áp suất thủy tĩnh

Áp lực mao mạch cầu thận thì cao hơn các giường mao mạch khác do 2 điểm: (1) động mạch đến là các nhành thẳng, ngắn của động mạch gian tiểu thùy, (2) động mạch đi với kháng lực cao.

Áp suất thủy tĩnh của mao mạch chống lại với áp suất thủy tĩnh của bao Bowman, Tương tự như với áp suất keo, tuy nhiên ở đây áp suất keo dịch lọc không đáng kể do đó hiệu số áp suất keo giữa mao mạch và bao Bowman tương đương với áp suất keo của mao mạch.
Một điểm cần lưu ý là áp suất thủy tĩnh của bao Bowman ít thay đổi nên không ảnh hưởng. Tuy nhiên trong trường hợp tắc ống thận/niệu quản, hay phù thận sẽ làm áp suất bao Bowman tăng lên gây giảm lọc.

3. Thay đổi GFR

b5.png

– Áp suất máu hệ thống tăng thì làm tăng áp suất thủy tĩnh mao mạch à tăng lọc. Tuy nhiên sự tăng là không cân xứng, do cơ chế tự điều hòa (khi mà áp suất động mạch tăng sẽ có các cơ chế làm co tiểu động mạch đến để hạn chế dòng máu tới quá mức).

– Dòng máu thận được giữ tường đối hằng định, do cơ chế tự điều hòa: điều hòa ngược cầu ống (tubuloglomerular feedback: Khi nồng độ Na+, Cl- tới quai Henle giảm –> kích thích macula densa gây giãn tiểu động mạch vào và kích thích các tế bào cận tiểu cầu tiết renin, tạo ra angiotensin II làm co tiểu động mạch ra, 2 cơ chế này làm GFR tăng lên), nghĩa là khi mà mức lọc giảm cơ chế điều hòa này làm giãn động mạch đến. Như vậy dòng máu thận và mức lọc tiểu cầu đều được tăng lên và về mức bình thường.

– Sự co giãn của các tiểu động mạch: động mạch đến nếu giãn sẽ làm tăng dòng máu tới thận và lọc tăng, ngược lại. Đối với động mạch đi, sự co làm tăng áp suất thủy tĩnh mao mạch cầu thận do đó làm tăng lọc (tuy nhiên nếu co mạnh lâu quá thì sẽ giảm lọc vì lúc đó protein ứ lại làm tăng sáp suất keo).

– Trường hợp phù thận và tắc niệu quản thì đã trình bày ở trên, gây giảm lọc.

– GFR cũng phụ thuộc vào Kf.

– Một số yếu tố khác cũng đã trình bày ở trên.

4. Tỉ lệ lọc cầu thận

Là tỉ lệ của GFR (~125 mL.phút) với dòng huyết tương qua thận (renal plasma flow – RPF (~ 650 mL/phút), khoảng 16-20%. GFR thay đổi ít hơn RPF :khi có sự giảm huyết áp hệ thống, GFR giảm ít hơn là RPF do sự co động mạch đi, do đó tỉ lệ lọc tăng lên.

Tài liệu tham khảo:
– Ganongs Review of Medical Physiology, 24th
– Guyton and Hall Textbook of Medical Physiology, 12th
– Sinh lý học y khoa của GS. Phạm Đình Lựu

Bài viết của thành viên conan274318_SM

Hãy vào đây để thảo luận nhiều hơn về vấn đề này!

Đại cương về hệ Renin – Angiotensin

2.png
Trong hệ Renin – Angioteinsin – Aldosterone, ngoài Ang I và Ang II ta còn có thêm Ang III và Ang IV, Ang[1-7] và Ang [1-9]. Thụ thể của chúng là AT1, AT2, AT4.
1.png

1.Angiotensingen

Angiotensinogen được tạo ra chủ yếu ở gan, thường tập trung ở mô mỡ, CNS và thận. Angiotensinogen được kích thích tổng hợp bởi phản ứng viêm, insulin, estrogen, glucocorticoid, hormone tuyến giáp và AngII.

2.Angiotensin I

Renin là 1 aspartyl protease cắt liên kết giữa amino acid 10 và 11 ở đầu amino của angiotensinogen tạo ra AngI. AngI có rất ít hoặc không có hoạt tính sinh học, ngay lập tức trong tĩnh mạch.nó bị men chuyển cắt, chỉ con lại các amino acis từ 1-8 là Angiotensin II.

3.Angiotensin II

Angiiotensin II (Ang1-8) thể hiện hoạt tính qua AT1 và AT2 receptor.

AT1 receptor là 1 Gq protein nên hoạt hóa lộ trình IP3, đồng thời hoạt hóa PKC, PLA2, và PLD. Nó có tác dụng: (1)gây co cơ đặc biệt ở động mạch ra của tiểu cầu thận, (2)hoạt hóa hệ giao cảm giúp phóng thích NE và tăng cường hoạt động giao cảm, (3)tăng giữ Na+ trên ông lượn gần, (4)kích thích tiết aldosterone và (5)giúp tăng trưởng mô cơ tim và mạch máu.

Với AT2, nó phong phú hơn trong bào thai và ở người lớn, nó chỉ hầu như khu trú ở não. Hiểu biết về AT2 còn rất hạn chế. Tín hiệu AT2 được trung gian qua các lộ trình phụ thuộc hoặc không phụ thuộc G-protein. Kết quả là nó hoạt hóa phosphoprotein phosphatases, kênh K+, tổng hợp NO và cGMP, tạo bradykinin và ức chế hoạt động kênh Ca++. Homo-oligomerization AT2 gián tiếp gây apotosis. Gắn trực tiếp AT2 gây ức chế hoạt động AT1.

4.Angiotensin III

Khi cắt AngII(1-8) 1 amino acid thành Ang(2-8), đó là Angiotensin III. AngIII tác động tên AT1 và AT2 tương tự như AngII.

3.png

5.Angiotensin IV

Angiotensin IV được tạo từ AngIII khi cắt 1 amino acid còn lại Ang(3-8). Hoạt tính của AngIV qua thụ thể AT4 (identified as insulin-regulated amino peptidases IRAPs). AngIV gắn vào AT4 ức chế hoạt động xúc tác của IRAPs và làm tích lũy neuropeptide linked to memory potentiation. Các chức năng khác bao gồm giãn mạch máu thận, bài xuất Na+, biệt hóa neuron viêm…

6.Ang(1-7)

Chức năng của Ang(1-7) đối kháng với AngII như giãn cơ, tạo NO, ức chế AngII –induce activation ERK1/2…thể hiện qua Mas receptor.

7.Angiotensin(1-9)

Chức năng hạn chế.

4.gif

Bài viết của thành viên Nguyễn Văn Tiến – DSYS.

Xem thêm bài góp ý của admin Nguyễn Phước Long và thảo luận tại đây.

Khái luận về các Prostaglandins

1. Tổng hợp Prostaglandins

Đầu tiên acid arachidonic (AA) được hoạt hóa bởi PLA2 từ màng phospholipids. AA tạo thành được men LOX hoặc COX tổng hợp thành các EICOSANOSIDs.

Eicosanosids gồm 4 nhóm là thromboxane, leukotrienes, prostacyclin và PROSTAGLANDINS. 2 isozymes chuyển AA thành prostaglandin endopeoxides. PGH synthase-1 (COX-1) biểu hiện chủ yếu ở hầu hết tế bào, PGH synthase-2 (COX-2) là cảm ứng, biểu hiện phụ thuộc vào tín hiệu kích thích nó là gì và tác động nhanh tức thì vào biểu hiện gene.

COX-1 tạo ra các ‘’housekeeping’ như ở đề cập đến, nó bảo vệ tế bào biểu mô, nhưng trái lại COX-2 là nguồn prostanoids trong viêm và ung thư.

1.png
2.png

2. Phân loại

Có 4 loại prostaglandin như trên: PGD2, PGE2, PGF2α và PGI2. Ngoài ra còn có 15d-PGJ2 là prostaglandins mới được khám phá.

3.png

3. Cơ chế phân tử
Có 3 nhóm như sau
– Đầu tiên, nhóm gây giãn là EP2, EP4, IP và DP1 bằng cách tăng lượng cAMP tạo ra trong tế bào.
– Thứ 2, nhóm gây co cơ gồm EP1, FP và TP bằng cách tăng nồng độ Ca++ nội bào.
– Và thứ 3, chỉ có EP3, nó đồng thời làm giảm lượng cAMP tế bào và tăng lượng Ca++.

4.png

Hoạt động của các thụ thể

-TPα và TPβ receptor qua Gq hoạt hóa lộ trình PLC-IP3-Ca++. Hoạt hóa TP receptor làm hoạt hóa hoặc ức chế AC qua Gs(TPα) hoặc Gi(TPβ). Hơn nữa qua TP nó còn hoạt hóa ERK và Rho pathway qua Gq12/23 và G16. TP hiện diện ở tiểu cầu, mạch máu, phổi, thận, tim, tuyến ức, lách.

-IP là Gs, kích hoạt AC làm tăng cAMP biểu hiện ở mo thận, phổi, cột sống, gan, mạch máu và tim.

-DP1 giống với IP là 1 Gs. Nó biểu hiện ở phổi, dạ dày, tử cung, bạch cầu, CNS. DP2 lại là một Gq hoạt hóa lộ trình IP3, có ở bạch cầu, não, tim, lách, ruột).

-EP2 và EP4 là Gs hoạt hóa AC. EP1 không phải là G-proteinm có thể hoạt hóa lộ trình IP3. EP3 có thể hoạt hóa Gi→bất hoạt AC, và cũng có 1 isoform nào đó hoạt hóa Gs hoặc G12/23.

EP1 và EP2 phân phối giới hạn hơn so với EP3 và EP4.

-FPA và FPB là Gq protein→ tăng Ca++ nội bào và hoạt hóa PKC. Thêm vào đó kích hoạt FP con hoạt hóa Rho, dẫn đến hình thành actin stress fibers….

Tóm lại

5.GIF

Tài liệu tham khảo
KATZUNG ‘ BASIC & CLINICAL PHARMACOLOGY
GOODMAN&GILMAN PHARMACOLOGY_2011

Bài viết của thành viên Nguyễn Văn Tiến. Xem thêm thảo luận chi tiết tại đây.

Stedman’s Electronic Medical Dictionary 7.0

Stedman’s Electronic Medical Dictionary 7.0

Book Description
Publication Date: December 5, 2006
CD-ROM
Publisher: Lippincott Williams & Wilkins

Medical terminology is defined and brought to life in STEDMAN’S™ most content-rich medical dictionary ever. You can read the definition of a term, hear it pronounced, see it illustrated, and watch it in motion. In short, this CD-ROM gives you the tools you need to understand and use medical terminology correctly in all your communications, written or verbal.
Definitions, Spelling, Pronunciation, and Much More—

  • More than 107,000 terms, including 5,000 new terms, are defined by the most trusted name in medical references.
  • 30 appendices include cancer classification systems and the Institute for Safe Medication Practices’ List of Error-Prone Abbreviations, Symbols, and Dose Designations.
  • Usage notes highlight common errors of usage, spelling, and pronunciation.
  • Expanded definitions of more than 130 high-profile terms deepen your understanding of their meaning and usage.

Enhanced Multimedia Features—

  • Click-on audio icons displayed alongside approximately 60,000 terms let you hear correct pronunciations.
  • 1,800 images, most in full color, illustrate key medical terms and concepts—you can see them in context with the definition and then copy them for documentation and presentations.
  • Live-action video from Acland’s Video Atlas of Human Anatomy presents anatomy in motion.

Everything You Need, Accessible in an Instant—

  • Browse the A-to-Z Index
  • Refine your search using wildcards
  • Bookmark sections you’ll want to revisit
  • Create your own customized dictionary!

For almost a century, STEDMAN’S has been defining medicine for health care professionals, students, and administrators from around the world. Now with Stedman’s Electronic Medical Dictionary, Version 7.0, you can leverage STEDMAN’S authoritative content like never before.
STEDMAN’S: The Best Defined Words in Medicine
Stedman’s™ is a registered trademark of Lippincott Williams & Wilkins. All other trademarks and registered trademarks are the property of their respective corporations.

Download (chỉ dành cho thành viên có 15 bài viết trở lên).

p/s: Mọi hành động spam trong diễn đàn một cách thiếu suy nghĩ sẽ bị xóa tài khoản vĩnh viễn mà không báo trước.

3 loại thuốc mới chữa thấp khớp hiệu quả

3 loại thuốc mới chữa thấp khớp hiệu quả

Các nhà nghiên cứu Áo vừa thử nghiệm thành công 3 loại thuốc mới trị bệnh viêm khớp mạn tính tăng dần. Sự kiện này được xem là mở ra một cuộc “cách mạng” quan trọng trong việc điều trị bệnh viêm khớp.

Kết quả thử nghiệm lâm sàng cho thấy, các loại thuốc này có tác dụng kìm hãm sự phát triển của bệnh viêm khớp mạn tính tăng dần, đồng thời làm giảm đáng kể các triệu chứng của bệnh. 3 loại thuốc đó là: mabthera (rituximab, orencia (abatacept) và tocilizumab.
3 loại thuốc mới chữa thấp khớp hiệu quả 1

Các triệu chứng giảm 50%

Trưởng nhóm nghiên cứu, GS. Josef Smolen, thuộc Trường đại học Y khoa Vienna (Áo) cho biết: “3 loại thuốc mới này rất có triển vọng. Tất cả đều có tác dụng làm giảm mạnh những triệu chứng của viêm khớp, hạn chế sự phát triển những thương tổn ở khớp, cải thiện tình trạng sức khỏe và chức năng vận động của cơ thể”.

Trong thử nghiệm lâm sàng, các chuyên gia đã xem xét hiệu quả của 3 loại thuốc mới trên nhiều phương diện, trong đó có việc sử dụng chúng một cách độc lập hay kết hợp với những loại thuốc truyền thống.

3 loại thuốc mới này được gọi là thuốc “thông minh”, vì mỗi loại có chứa những phân tử có tác dụng tác động đến những thành phần khác nhau của hệ miễn dịch. Chúng hoạt động theo cách triệt tiêu hoặc ngăn chặn hoạt động của những tế bào có vai trò trong việc gây ra bệnh viêm khớp.

Mabthera tác động vào những tế bào B, những tế bào bạch cầu vốn có chức năng tạo ra kháng thể để bảo vệ cơ thể. Nhưng trong bệnh viêm khớp mạn tính tăng dần – một loại bệnh tự miễn, những tế bào này đã hoạt động sai lầm bằng cách tấn công khớp của bệnh nhân.

Trong khi đó, orencia có tác dụng ngăn chặn hoạt động của tế bào T, một dạng tế bào bạch cầu khác, còn tocilizumab thì vô hiệu hóa interleukin-6, một phân tử truyền tín hiệu kích hoạt nhiều loại tế bào của hệ miễn dịch.

Kết quả thử nghiệm cho thấy, mabthera làm giảm các triệu chứng bệnh ở mức trên 50% đối với hơn 1/3 số bệnh nhân. Còn orencia giúp giảm 50% triệu chứng đối với khoảng 40% bệnh nhân, khi được sử dụng kết hợp với với methotrexate – một loại thuốc cơ bản dùng cho bệnh nhân viêm khớp tiến triển ở giai đoạn sớm.

Trong khi đó, kết quả thử nghiệm tocilizumab kết hợp với methotrexate cũng tương tự như trong trường hợp   orencia.

Trong quá trình thử nghiệm, một số bệnh nhân được điều trị bằng mabthera hoặc orencia đã có mức nhiễm khuẩn nặng cao hơn trước khi uống thuốc. Đối với tocilizumab, những tác dụng phụ được ghi nhận như: nhức đầu, nổi mụn ở da, sốt và tăng cholesterol trong máu.

Về vấn đề này, nhóm nghiên cứu cho biết: “Trong quá trình thử nghiệm, có một số bệnh nhân chưa có những phản ứng tích cực đối với các loại thuốc mới. Do đó, cần phải tìm ra giải pháp và phương thức trị liệu thích hợp hơn để tăng phản ứng tích cực và đạt được tỉ lệ giảm bệnh cao hơn nữa, thậm chí là chữa hết bệnh. Khả năng thành công của thuốc mới là rất lớn”.

“Kỷ nguyên mới trong điều trị viêm khớp”

Viêm khớp mạn tính tăng dần là một bệnh tự miễn, trong đó hệ miễn dịch thay vì bảo vệ cơ thể lại ra lệnh cho kháng thể tấn công các thành phần trong cơ thể người bệnh. Ở bệnh này, các kháng thể tấn công các khớp, khiến sụn và xương bị sưng, viêm và thương tổn, làm cho bệnh nhân rất đau đớn.

Hiện nay, theo nhóm nghiên cứu, những loại thuốc truyền thống dùng để điều trị bệnh này chỉ mang lại những tác dụng có giới hạn, thậm chí sự kết hợp giữa chúng với những thuốc mới hơn, như chất ức chế yếu tố hoại tử ở vết loét cũng có hiệu quả không cao.

Vì thế, việc nghiên cứu và phát triển những thuốc mới có công hiệu cao hơn là rất cần thiết. Thuốc mới trị bệnh viêm khớp được xem là sự khởi đầu cho một cuộc “cách mạng”, trong đó bác sĩ và bệnh nhân sẽ có thêm sự chọn lựa thích hợp trong quá trình điều trị.

Trong một báo cáo về nghiên cứu này trên tạp chí y học The Lancet vào ngày 13/6, GS. Smolen viết: “Sự ra đời của những thuốc mới đã mở ra một kỷ nguyên mới đã bắt đầu trong việc điều trị bệnh viêm khớp mạn tính tăng dần”.

GS. Alan Silman, Giám đốc Y khoa của Arthritis Research Campaign (Chiến dịch nghiên cứu viêm khớp) ở Anh cho rằng, “thuốc mới sẽ mang lại niềm hy vọng cho khoảng 1/3 bệnh nhân không tương thích với các loại thuốc đang được sử dụng để điều trị cho họ”.

  BS. Mai Trung Dũng – SKDS

10 đồ vật thông dụng bẩn “vô đối”

10 đồ vật thông dụng bẩn “vô đối”

Để an toàn, hàng ngày bạn vẫn rửa tay bằng xà phòng diệt khuẩn, tránh xa thức ăn chế biến sẵn và những nơi bẩn thỉu. Tuy nhiên, bất chấp những nỗ lực đó, bạn vẫn bị bủa vây bởi những đồ vật bẩn “vô đối” mà bạn phải đụng chạm hàng ngày.

10 đồ vật thông dụng bẩn “vô đối” 1
Bàn phím máy tính – ổ chứa vi trùng.

1. Bệ toilet

Vâng, chính là cái “vòng tròn” mà bạn bắt đầu buổi sáng mỗi ngày. Mặc dù bạn có cọ rửa toilet hai lần mỗi tuần, thì vẫn có thể tìm thấy hàng trăm loại vi khuẩn trên mỗi cm của bệ ngồi toilet!

2. Công tắc đèn

Công tắc đèn là một trong những thứ được sử dụng nhiều nhất ở nhà cũng như ở nơi công cộng. Trông chúng có vẻ rất sạch sẽ và vô hại nhưng đây lại là một trong những đồ vật bẩn nhất mà da bạn phải tiếp xúc hàng ngày.

3. Tiền

Ai cũng yêu chúng, những tờ giấy bạc và những đồng xu lấp lánh! Trước khi tới tay bạn, chúng đã được chuyển qua tay rất nhiều người, từ thủ quỹ tới nhân viên văn phòng, từ những kẻ lang thang trên phố tới người mẹ vừa mới sinh con. Không ai biết được tờ tiền trong tay bạn đã đến từ đâu. Một nghiên cứu ở Mỹ đã phát hiện thấy 135.000 vi khuẩn khi rửa một tờ tiền.

4. Bàn phím máy tính

Giờ đây rất khó tìm được người nào không bao giờ sử dụng máy tính. Hầu như tất cả chúng ta đều dành nhiều thời gian trên máy. Tuy nhiên, chúng ta thường quên vệ sinh bàn phím, vốn là nới chứa đầy vi khuẩn và mầm bệnh. Một số nghiên cứu thậm chí còn tuyên bố rằng những bàn phím rất bẩn có thể chứa nhiều mầm bệnh hơn cả bồn cầu! Vì thế lần tới khi bạn ngồi trước máy tính hãy đảm bảo rằng bàn phím đã được vệ sinh sạch sẽ.

5. Bồn rửa trong bếp

Với phần đông các bà nội trợ, điều này thật khó chấp nhận vì họ mất rất nhiều thời gian cho việc cọ rửa bồn rửa bát. Tuy nhiên, rất dễ lý giải thực tế này vì bồn rửa bát hầu như luôn ẩm ướt và bạn rửa nào bát đĩa, thịt thà, rau quả và v.v…ở đó, khiến nó trở thành nơi sản sinh mầm bệnh. Đó là lý do tại sao bồn rửa bát lại cần được làm sạch hằng ngày.

6. Miếng mút rửa bát

Điều này không có gì là bất ngờ nếu xét theo thực tế công việc cọ rửa khá bẩn mà món đồ này phải đảm nhiệm. Miếng mút rửa bát hầu như luôn ướt và nước chứa đầy những lỗ nhỏ li ti rất khó làm sạch. Hãy hình dung những mầm bệnh đang thoải mái “bơi lội” trộng đó. Một cách tốt để đối phó là cho miếng mút rửa bát vào đun nóng trong lò vi sóng trong 60 giây!

7. Điện thoại di động

Hãy nghĩ xem bạn thân thiết với chú “dế” của bạn thế nào, bạn mang nó theo bên mình, khoe khoang nó, má ấp tai kề với nó hàng giờ liền! Các nghiên cứu tiến hành ở Anh đã cho thấy điện thoại di động là những “kẻ thù thời đại mới” đối với người sử dụng. Hơi ấm mà nó tỏa ra và sự ẩm ướt từ cơ thể bạn thu hút hàng nghìn mầm bệnh được hình thành trên dế yêu.

8. Bồn tắm

Mặc dù toilet và sàn nhà tắm được làm sạch thường xuyên, song bồn tắm lại ít khi được cọ rửa như vậy. Chất bẩn và mầm bệnh ở bồn tắm thường không được phát hiện cho đến khi trong nhà có người bị ốm vì nhiễm trùng đường tiết niệu.

9. Điều khiển TV

Bạn vừa nấu ăn vừa chọn kênh TV, con bạn vừa chơi ở sân về là vớ ngay cái điều khiển, còn ông xã bạn thì hầu như chỉ chú ý tới nó mỗi khi về đến nhà. Hãy ngẫm mà xem, cái điều khiển TV là thứ thu thập đủ loại mầm bệnh từ đủ mọi nơi và đủ mọi người. còn chần chừ gì nữa, hãy bổ sung ngay đồ vật này vào danh sách cần vệ sinh hằng ngày!

10. Xe đẩy mua hàng

Chúng tôi không muốn làm bạn cụt hứng trước chuyến shopping vui vẻ, nhưng do mồ hôi và phải tiếp xúc liên tục với nhiều người, nên tay cầm của xe đẩy mua hàng trong siêu thị chứa đầy mầm bệnh và vi khuẩn.

Theo Dân trí/ MFW