Monthly Archives: April 2013

Tuyển tập sách ECG dành cho sinh viên Y khoa – DSYS

Mình xin chia sẻ một số ebook về ECG cho thành viên có đóng góp cho diễn đàn. Link download các bạn theo dõi ở các post phía dưới nhé.

  1. 150 Practice ECGs Interpretation and Review 3rd
  2. ABC of Clinical ECG 2nd
  3. Basic and Bedside Electrocardiography
  4. Basic Electrocardiography – Normal and Abnormal ECG Patterns
  5. Clinical Electrocardiography – A Simplified Approach 7th
  6. ECG Interpretation – From Pathophysiology to Clinical Application
  7. ECG Interpretation An Incredibly Easy Workout
  8. ECG Interpretation Made Incredibly Easy 5th
  9. ECG Notes – Interpretation And Management Guide
  10. ECG Success – Exercises in ECG Interpretation
  11. ECG SAP III
  12. ECGs for Nurses 2nd
  13. E-Z ECG Rhythm Interpretation
  14. Interpreting Difficult ECGs – A Rapid Reference
  15. Rapid ECG Interpretation 3rd
  16. Rapid Interpretation of EKG’s 6th
  17. The Complete Guide to ECGs 3rd
  18. The ECG In Practice 4th
  19. The ECG Workbook 2nd
  20. The Only EKG Book You Will Ever Need 6th
  21. ECG Diagnosis – A Self-Assessment Workbook
  22. ECG in Emergency Medicine and Acute Care
  23. ECG Diagnosis in Clinical Practice 2nd
  24. ECGs for The Emergency Physician 1, 2
  25. Pediatric ECG Interpretation – An Illustrative Guide
  26. Practical ECG Holter – 100 Cases
  27. Twelve-Lead Electrocardiography – Theory and Interpretation 2nd
  28. Marriott’s Practical Electrocardiography 11th
  29. Chou’s Electrocardiography in Clinical Practice 6th

Chỉ cần đăng kí thành viên, các bạn sẽ có thể download ngay 9 quyển ebook ECG rất hay đầu tiên.

Link download

Lưu ý: Hãy đóng góp 15 bài viết và download trọn bộ các bạn nhé!

CÁC KHIẾM KHUYẾT TÍN HIỆU VÀ BỆNH TẬT

CÁC KHIẾM KHUYẾT TÍN HIỆU VÀ BỆNH TẬT

Phùng Trung Hùng – Nguyễn Phước Long 

Tổng quan

Có nhiều bệnh tật sinh ra do các khiếm khuyết về lộ trình tín hiệu trong tế bào và biểu hiện cũng vô cùng phong phú. Các sinh vật gây bệnh hay virus có thể can thiệp vào các quá trình truyền tin và gây ra sự rối loạn sau đó. Mục “Hiện tượng tái cấu trúc hệ thông tin và bệnh tật” sẽ cho chúng ta cái nhìn tổng quan về cơ chế gây ra sự khiếm khuyết thông tin và các bệnh tương ứng. Các bệnh nặng ở người như cao huyết áp, bệnh tim mạch, đái tháo đường và các thể rối loạn tâm thần  đều có liên quan đến sự nảy sinh của các lộ trình điều chỉnh kiểu hình  một cách tinh vi (phenotypic modification of signaling pathways). Khi sự điều chỉnh này xảy ra, hiện tượng tái cấu trúc kiểu hình gây ra các biến đổi hoạt động chức năng của tế bào và rồi dẫn đến tình trạng bệnh tật. Thật sự rất khó để có thể thiết lập được chính xác mối quan hệ giữa các khiếm khuyết thông tin dẫn đến bệnh tật. Tuy nhiên, đã có một số ít các quá trình được hiểu tương đối có hệ thống và đã mang lại thành công trong các phương pháp điều trị tương ứng.

Ngoài ra người ta còn quan tâm đến hiện tượng điều chỉnh kiểu gene (genotypic modifications) đến từ quá trình đột biến các tế bào sinh dưỡng (somatic) và tế bào mầm (germline). Các nghiên cứu dần hé lộ triển vọng trong chẩn đoán sớm và điều trị. Tuy nhiên, rất khó có thể chữa dứt điểm các bệnh tật có sự liên hợp đột biến của nhiều gene.

Từ những điều trên, chúng ta cũng đã phần nào hiểu được sự quan trọng và cần kíp của việc phải tìm hiểu nhiều hơn những tình trạng bệnh này ở mức độ phân tử để có thể tạo ra các phương pháp chữa trị hiệu quả.

Chương này tập trung vào việc phân loại và giới thiệu một số hình ảnh minh họa điển hình.

Các vi sinh vật gây bệnh và virus

Các vi sinh vật và virus gây bệnh này sử dụng tác nhân gây độc của nó tác động vào các quá trình tín hiệu, gây ra biến đổi chức năng ở các tế bào đặc hiệu:

–          Bệnh lỵ khuẩn que (bacillary dysentery) gây ra bởi Shigella flexneri. Chất độc của vi khuẩn này ngăn cản quá trình tái cấu trúc sợi actin bởi tác động của PtdIns4,5P2 và còn có khả năng hoạt hóa lộ trình tín hiệu PtdIns 3-kinase.

Shigella flexneri gây ra sự xáo trộn các lộ trình tín hiệu của tế bào chủ để giúp nó dễ dàng xâm nhập vào tế bào và sinh độc tố. S. flexneri xâm nhập vào tế bào chủ cùng với protein tác hiệu IpgD (Có chức năng thủy phân PtdIns 4,5P2 thành PtdIns5P). Quá trình xâm nhập của vi khuẩn vào tế bào trở nên dễ dàng khi nồng độ PtdIns4,5P2 giảm xuống đến mức kiệt quệ (vì nó là chất điều hòa sự tái cấu trúc của sợi actin). Hơn nữa, PtdIns5P sau khi tạo ra sẽ hoạt hóa lộ trình PtdIns5P – có thể điều hòa một số hoạt động của tế bào chủ, cụ thể như hoạt hóa PtdIns 3-kinase lớp IA và hậu quả là tế bào không có apoptosis. (Nên nhớ rằng lộ trình PtdIns 3-kinase là một quá trình điều hòa apoptosis liên quan đến hormone rất mạnh)

–          Bệnh tả (cholera) gây ra bởi vi khuẩn Gram (-) Vibrio cholerae. Vi khuẩn này tiết độc tố tả (cholera toxin, CT), nó gây ra hiện tượng mất nước nhiều, nôn ói và chuột rút (muscle cramps) vì CT hoạt hóa lộ trình tín hiệu cAMP.

CT có một tiểu đơn vị xúc tác A và năm tiểu đơn vị B. Các tiểu đơn vị B gắn độc tố tả vào bề mặt của tế bào với gangliosode GM1 và nhờ vậy tiểu đơn vị A được đưa vào bên trong tế bào biểu mô ruột non. Tiểu đơn vị A xúc tác chuyển ADP-ribose từ NAD tới amino acid arginine ở tiểu đơn vị α của Gs. Sự ADP ribosyl hóa này làm cho Gs không thể thủy phân GTP được nữa, do vậy G protein bị khóa lại và nó luôn ở trong trạng thái hoạt hóa nên kích thích quá trình tiết của ruột non không ngừng.

–          Bệnh Chlamydia gây ra bởi Chlamydia trachomatis do nó có khả năng ức chế hiện tượng thực bào của macrophages.

–          Bệnh Listeriosis gây ra bởi Listeria monocytogenes – một vi khuẩn grame (+) có khả năng sống trong macrophages vì có khả năng “trốn” khỏi màng của lysosome của macrophages.

–          Loét dạ dày gây ra bởi Helicobacter pylori.

Loét dạ dày do acid sinh ra quá mức và hủy hoại lớp niêm mạc dạ dày. HP gắn vào bề mặt của tế bào biểu mô bởi nhiều protein kết dính. Ligand của CagA (CagL)có motif RGD giúp nó gắn được với phức hợp integrin α5β1 trên bề mặt màng tế bào, do vậy hoạt hóa được lộ trình tín hiệu của integrin tạo điều kiện cho CagA (một oncoprotein) được đưa vào tế bào và được hoạt hóa tại đây.

Khi vào được tế bào biểu mô, CagA tương tác với  các protein điều hòa tại đó, phá vỡ các liên kết vòng bịt bằng cách liên kết với ZO-1, JAM và họ enzyem serine-threonine kinase: “partitioning-defective 1 (PAR1)/microtubule affinity-regulating kinase” (MARK). Quá trình này dẫn đến mất tính phân cực của tế bào, gây loét, viêm và có thể dẫn đến ung thư dạ dày.

Cơ chế gây tăng tiết acid của HP vẫn còn chưa rõ ràng. Người ta tìm được bằng chứng về các tác động của nó đến quá trình tiết gastrin, ảnh hưởng đến quá trình điều hòa của tế bào D, tế bào G đối với sự tiết acid của tế bào thành.

–          Bệnh lao (tuberculosis) gây ra bởi Mycobacterium tuberculosis vì nó có khả năng ức chế quá trình trưởng thành của thể thực bào (phagosome maturation).

Khi một tác nhân gây bệnh bị chuyển vào túi thực bào, nó sẽ bị giết bởi các enzyme thủy phân. M. tuberculosis phá vỡ quá trình này bằng cách tắt dòng tín hiệu Ca2+. Sự ức chế này được cho là có phụ thuộc vào lipoarabinomannan (LAM, cũng thuộc PAMPs) được giải phóng từ vi khuẩn. LAM hoạt động thông qua thụ thể Toll-like 2 (TLR2), tác động trực tiếp tới hoạt động của phospholipase D trong giai đoạn sinh ra chất truyền tin huy động Ca2+ có tên là sphingosine 1-phosphate (S1P). tuy nhiên, vi khuẩn lao cũng có thể bị giết bởi đại thực bào nếu ATP hoạt hóa các hệ thống thông tin Ca2+ có nguồn gốc ngoại bào qua thụ thể P2x7.

 

Hiện tượng tái cấu trúc hệ thông tin và bệnh tật

Tất cả các tế bào đã biệt hóa đều có một hệ thông tin (signalsome) có vai trò tạo ra các tín hiệu đầu ra bình thường để duy trì chức năng của nó. Tình trạng bệnh lý có thể là hậu quả của một quá trình tái cấu trúc hệ thông tin cả về kiểu hình (phenotypic) và kiểu gene (genotypic).

Một trong những điều quan trọng khi tìm hiểu về mối quan hệ giữa hiện tượng tái cấu trúc hệ thông tin và bệnh tật là giải thích cho được câu hỏi “làm sao hệ thông tin đáp ứng với một sự thay đổi cường độ kích thích?”. Vì khi các thành phần của hệ thông tin bị tái cấu trúc, khoảng tác dụng (operational range) của nó sẽ bị tác động, gây ra hiện tượng tăng hay giảm nhạy với kích thích rồi dẫn tới tình trạng bệnh lý.

Tái cấu trúc kiểu hình hệ thông tin

Trong suốt quá trình phát triển, quá trình biểu hiện hệ thông tin (signalsome expression) sẽ tạo ra hệ thông tin đặc trưng cho từng loại tế bào, phù hợp với chức năng của nó. Những hệ thông tin đặc hiệu này được duy trì liên tục nhờ quá trình phiên mã, sự ổn định của hệ thông tin (signalsome stability),… tuy nhiên, sự tái cấu trúc có nhiều vai trò như:

–          Tăng lực co bóp cơ tim xảy ra khi gắng sức. Đáp ứng inotropic này có được nhờ vào lộ trình tín hiệu Ca2+ ở tâm thất và quá trình phosphoryl hóa thuận nghịch các phân tử tín hiệu sẽ giúp tế bào cơ tim có thể sinh ra lượng Ca2+ lớn hơn.

–          Hiện tượng synaptic plasticity xảy ra trong trí nhớ tạm thời là kết quả của quá trình phosphoryl hóa phụ thuộc Ca2+ của thụ thể AMPA (α-amino-3-hydroxy-5-methylisoxazole-4-propionic acid) trên tủy tiếp hợp (synaptic spine).

–          Trong quá trình co cơ bám xương, yếu tố nhân (nuclear factor) của tế bào T hoạt hóa (NFAT) duy trì tình trạng của nó và quá trình ức chế này có thể làm biến đổi sợi cơ. Đây là ví dụ của hiện tượng tái cấu trúc, các sợi cơ bám xương trải qua sự thay đổi kiểu hình như là một phản ứng đáp ứng với sự thay đổi các yếu tố tác động vào chức năng của nó.

–          Trong quá trình mang thai, tế bào cơ tử cung trải qua các quá trình thay đổi hệ thống lộ trình tín hiệu của nó để hoạt hóa các phân tử dao động trên màng tế bào (oscillator). Nhờ vậy, nó có thể sinh ra các tín hiệu điện để có thể co thắt mạnh trong suốt quá trình lâm bồn.

Các ví dụ trên đều có một đặc điểm chung là sự thay đổi kiểu hình tín hiệu là một phản ứng bình thường. Bằng cách đó, tế bào có thể thực hiện được chức năng của mình. Tuy nhiên, khi quá trình tái cấu trúc này trở nên bất thường, nó có thể sinh ra các hệ tín hiệu bất thường và do vậy cho ra các tín hiệu không phù hợp, gây ra nhiều tình trạng bệnh lý khác nhau.

Một trong những vấn đề chính hiện nay này là hiện tượng tái cấu trúc thuận nghịch tìm ẩn. Đây là lý do tại sao nhiều công ty Dược nỗ lực nghiên cứu các loại thuốc, nhất là loại khóa thụ thể và bất hoạt protein kinase sao cho chúng phù hợp với các quá trình biến đổi kiểu hình này.

Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu một số rối loạn bệnh lý thường gặp có liên quan đến quá trình này. Ở đây chỉ trình bày một cách hết sức sơ khai với mục đích định hướng cho người đọc tự tìm hiểu trong các sách chuyên khảo cho từng loại bệnh một.

Bệnh hen

 

Hình 44.1: Sinh lý – bệnh của bệnh hen rất phức tạp. Nó gồm có sự tham gia của một số tế bào viêm tương tác lẫn nhau dẫn đến các đáp ứng viêm cấp tính và mãn tính của đường dẫn khí.

Đây là tình trạng bệnh gây ra do sự thay đổi đường dẫn khí bởi các phản ứng viêm, hiện tượng quá nhạy cảm của phế quản, sự tắt nghẽn đường dẫn khí do co thắt quá mức và phì đại các tế bào cơ trơn phế quản. Quá trình co thắt có thể được hoạt hóa do các tác nhân như acetylcholine (Ach), serotonin,…

Khả năng co thắt của các tế bào cơ này có thể tăng lên khi các phân tử dao động trên màng tế bào (oscillator) thay đổi chức năng kiểm soát tình trạng co của chúng. Ngoài ra, sự thay đổi hoạt động của PDE4D hay cơ chế tín hiệu Rho cũng là các nhân tố góp phần vào hiện tượng này vì nó có chức năng kiểm soát sự nhạy cảm của MLCK đối với Ca2+.

Các chất kích thích như (yếu tố tăng trưởng, agonist, cytokines và protein trong dịch ngoại bào,…) có thể kích hoạt sự tăng sinh của tế bào cơ trơn. Ngoài ra, tăng biểu hiện của kênh transient receptor potential 1 (TRPC1) cũng có thể góp phần làm hẹp phế quản và tăng sinh SMC.

Kênh Cl nhạy cảm với Ca2+ 1 (CLCA1) có mặt ở biểu mô phế quản và tế bào đài có hiện tượng quá điều hòa (up-regulated) trong các bệnh nhân bị hen. Do tế bào đài sản xuất chất nhày, nên nó có thể góp phần làm tình trạng hen nặng hơn.

Hình 44.2: Mô tả suy tim sung huyết từ quá trình tái cấu trúc hệ thông tin tế bào tim. Tình trạng phì đại (quá tải), suy giảm tế bào cơ và các yếu tố nội tiết sẽ dẫn đến hiện tượng tái cấu trúc mà đầu tiên hết là sự phì đại bù trừ (compensated hypertrophy) rồi sau đó tiến triển thành tình trạng phì đại không bù trừ trong suy tim sung huyết.

gan

Xơ gan là hậu quả của rất nhiều yếu tố gây hại ở người lạm dụng rượu, bị nhiễm virus viêm gan siêu vi và các chất độc khác. Một trong các biểu hiện ở giai đoạn sớm của xơ gan là hiện tượng sinh tế bào sợi (fibrogenesis) được hoạt hóa ở tác tế bào sao gan (hepatic stellate). Hoạt tính của các tế bào này giảm trong quá trình lão hóa (senescence), làm giảm bớt tác động của nó tới xơ gan.

Lộ trình tín hiệu của các tế bào gan trong xơ gan có liên quan đến hệ thống tín hiệu Smad, TGFβ, MAPK và PI3K/Akt.

Rối loạn hưng trầm cảm

Ở nước Anh có hơn hai người bị bệnh này mỗi năm. Họ thường mất khả năng tương tác với cuộc sống thật và rơi vào trạng thái ảo giác, lơ ngơ (euphoria).

Hiện tượng này đã được mô tả kĩ ở chương trước.

Hình 44.3: Mô tả lý thuyết kiểm soát chứng rối loạn hưng trầm cảm với tác dụng của Li+ và valproate.

Hội chứng Cushing’s

Đây là một bệnh nội tiết gây ra bởi sự tăng tiết quá mức cortisol ở lớp bó (zona fasciculata) tủy thượng thận. Béo phì là triệu chứng thường gặp nhất, bệnh nhân tăng cân nhanh, phân bố mỡ không đồng đều chủ yếu ở mặt làm cho bệnh nhân có bộ mặt “tròn như mặt trăng rằm”, sau gáy có bờm mỡ dưới da trông giống lưng lạc đà, tăng tích mỡ ở ngực, bụng. Ngược lại, chân tay nhỏ, khẳng khiu (mỡ ít tập trung ở vùng này làm cho cơ thể mất cân đối (béo từ mông lên đến mặt, chân tay khẳng khiu). Tuy nhiên có một số trường hợp tăng cân ít hoặc không tăng cân.

Ngoài ra, đái tháo đường, đái tháo nhạt (diabetes insipidus), tiêu chảy, động kinh, rối loạn cương dương, bệnh tim mạch, tăng huyết áp, rối loạn lưỡng cực, béo phì, loãng xương, viêm khớp dạng thấp, hội chứng Zollinger-Ellison’s,… cũng là các rối loạn bệnh lý có liên quan đến hiện tượng này.

Xem bài viết đầy đủ tại đây.

Khái luận về Kisspeptin

Có bạn hỏi mình vì sao vận động viên nữ có người lại bị rối loạn kinh nguyệt hoặc đôi khi hoàn toàn không có kinh trong một quãng thời gian. Do vậy mình viết bài này hi vọng giải quyết được phần nào thắc mắc của bạn và mở ra một số các vấn đề mới cần thảo luận thêm (liên quan tới rối loạn giấc ngủ, giảm cân,…).

Kisspeptin còn được biết đến với tên gọi metastin, là một protein được mã hóa từ gene KISS1 (1q32; 154 amino acid), nó là ligand của thụ thể GPR54 – một loại GPCR (Gq/11-coupled receptor).

Lưu ý, Kisspeptin có tính đa hình.

Vai trò của Kisspeptin/GPR54:

+ Tái cấu trúc khung xương tế bào.
+ Chu trình tiết GnRH ở tuổi dậy thì.
[IMG]
+ Ức chế Calcineurin (phân tử tiết IL-2, có vai trò rất lớn trong sự trưởng thành của Th2 cũng như Th1) do vậy có thể được cho là có vai trò ức chế miễn dịch.
+ Kích thích tiết Aldosterone khi hiện diện ở tuyến thượng thận.
[IMG]
+ Kích thích tiết Insulin khi hiện diện ở tế bào beta tụy.
+ Ức chế sự di căn của tế bào ung thư trong ung thư vú và u hắc bào ác tính (melanoma). Ngoài ra, có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng nó còn có vai trò ức chế di căn của các loại ung thư khác như: Ung thư bàng quang, buồng trứng, tuyến giáp,…
[IMG]

Kisspeptin neuron hiện diện ở các vị trí ADP, PVN, AVPV của não bộ và được cho là có cấu trúc tương đồng với GnRH neuron.

Loại neuron này rất nhạy cảm với sự thay đổi LH và FSH trong tuần hoàn và có thụ thể để tiếp nhận và gây ra các phản ứng sinh học với các loại hormone sinh dục.

Điều cần lưu ý thêm ở đây đó là các vận động viên nữ có thể không có sự hành kinh do lượng tế bào mỡ trong cơ thể ở mức rất thấp, lượng leptin tiết ra không đủ để kích thích tổng hợp Kisspeptin, do vậy không hoạt hóa GnRH và tiết các hormone sinh dục theo đúng chu kì kinh. Vậy thắc mắc của người hỏi có thể được mô tả ở sơ đồ dưới đây:

[IMG]
Đọc thêm tại đây.

Bệnh lý răng miệng ở phụ nữ mang thai: Chuyện nhỏ mà không nhỏ!

Bệnh lý răng miệng ở phụ nữ mang thai: Chuyện nhỏ mà không nhỏ!

Dân gian thường nói “mỗi đứa con một cái răng” – ý nói khi mang thai, răng của người mẹ sẽ bị ảnh hưởng. Bài biết này nhằm tìm hiểu những bệnh răng miệng thông thường ở phụ nữ mang thai, nguyên nhân cũng như những phương pháp có thể sử dụng để phòng và điều trị.

Những bệnh lý răng miệng thường thấy

 Bệnh sâu răng: trong những tháng đầu tiên khi mang thai, bệnh răng miệng ở sản phụ chưa tăng đáng kể, nguyên nhân thường thấy có thể là do phụ nữ có thai hay nôn và buồn nôn (nhất là từ tuần thứ 4 đến tuần thứ 12 của thai kỳ và nhất là ở những phụ nữ mang thai lần đầu). Chính điều này làm thay đổi môi trường pH trong khoang miệng, làm xáo trộn khả năng tự bảo vệ khiến dễ phát sinh bệnh lý. Các thay đổi sinh lý khác bao gồm cả sự thay đổi chế độ ăn như thèm ăn một số loại thức ăn đặc biệt, và thường xuyên ăn bữa phụ giữa các bữa ăn chính, điều này ảnh hưởng đến sức khỏe răng miệng, dễ gây sâu răng. Các thức ăn, thức uống dễ gây sâu răng là đồ ngọt và các nước uống có ga chứa carbonate. Các thức ăn này có thể làm dịu cảm giác buồn nôn, tuy nhiên nguy cơ sâu răng rất cao.

 Bệnh lý răng miệng ở phụ nữ mang thai: Chuyện nhỏ mà không nhỏ! 1

Khi mang thai, do chứng ói, ợ chua khá thường gặp, acid từ dạ dày tiếp xúc với men và ngà răng, xói mòn mặt trong các răng cửa và mặt nhai răng hàm

Trong nước bọt chứa những chất làm chắc men răng, ngăn chặn sự xuất hiện của bệnh sâu răng. Trong thời gian mang bầu, lượng nước bọt tiết ra giảm và hậu quả là bị sâu răng. Thêm nữa, ở tháng thứ 5 – 6 (thai nhi ở 24 – 25 tuần tuổi) là thời điểm hệ xương đang hình thành mạnh mẽ. Lượng canxi cần thiết để hình thành xương của trẻ được lấy từ cơ thể của mẹ. Trong máu của người mẹ khi ấy không đủ canxi và cơ thể đòi hỏi phải cung ứng thêm lượng canxi. Các nhà khoa học tin rằng những phụ nữ bị bệnh sâu răng có nguy cơ đẻ non cao gấp 3 lần so với những bà mẹ mang thai có sức khỏe răng miệng tốt. Họ cũng thống kê được rằng, 25% số những phụ nữ bị bệnh sâu răng được điều tra đẻ non trước tuần thứ 35.

Mòn răng: bình thường răng được bảo vệ bởi lớp men răng. Khi mang thai, do chứng ói, ợ chua khá thường gặp, acid từ dạ dày tiếp xúc với men và ngà răng, xói mòn mặt trong các răng cửa và mặt nhai răng hàm. Quá trình mòn răng diễn ra chậm, làm thai phụ ít để ý tuy nhiên rất khó hồi phục, có nguy cơ cao phải nhổ răng. Trong trường hợp mòn đến lộ ngà, thai phụ sẽ cảm giác ê buốt, đặc biệt khi uống nước đá, hay tiếp xúc không khí. Tình trạng này điều trị phục hồi khá phức tạp.

Viêm nướu và nha chu: phụ nữ có thai thường bị viêm nướu, khu trú hoặc toàn thể. Bệnh thường bắt đầu từ tháng thứ hai và tăng dần trong thai kỳ đến tháng thứ 8. Nguyên do những thay đổi nội tiết và mao mạch, làm cho mảng bám vi khuẩn và bệnh nha chu dễ xuất hiện. Các nghiên cứu lâm sàng chỉ ra rằng, sự tích lũy các loại hoóc-môn ở mô nướu ảnh hưởng đến hệ thống mạch máu ở nướu, hệ thống miễn dịch tại chỗ và phản ứng của nó với vi khuẩn trong mảng bám răng. Những thay đổi về miễn dịch trong suốt thai kỳ có liên quan đến sự giảm số lượng bạch cầu trung tính và hoạt động thực bào, giảm đáp ứng của lympho bào và làm giảm sinh kháng thể. Thai phụ có nguy cơ nhiễm trùng và có mối liên hệ giữa nhiễm trùng vùng miệng với nhiễm trùng toàn thân và ngược lại. Điều cần chú ý hơn cả, bệnh nha chu là một yếu tố có thể dẫn đến nguy cơ của đẻ non và trẻ sơ sinh nhẹ cân.

Những tình trạng khác:

– U nướu thai nghén: một khối tăng sinh mềm, màu hồng ở nướu. Khối u thường phát triển nhanh trong 3 tháng giữa và nhỏ lại, mất hẳn sau khi sinh.

– Răng lung lay do tình trạng viêm nướu và viêm nha chu, đồng thời có mất khoáng ở xương ổ. Răng sẽ trở lại bình thường sau khi sinh.

Điều trị và phòng ngừa?

– Vệ sinh răng miệng đúng cách: mỗi ngày đánh răng ít nhất 2 lần, sau bữa ăn để giữ vệ sinh răng miệng. Thai phụ nên chọn bàn chải răng mềm vì nướu răng trong thời gian này dễ tổn thương hơn bình thường. Nếu ở giai đoạn ốm nghén, sau mỗi lần bị nôn cần súc miệng lại bằng nước sạch để giảm acid trong miệng. Nếu chải răng gây buồn nôn cho các bà mẹ mang thai, thì có thể đánh nhẹ nhàng sau đó xúc miệng lại bằng dung dịch vệ sinh.

 Bệnh lý răng miệng ở phụ nữ mang thai: Chuyện nhỏ mà không nhỏ! 2

Ở tháng thứ 5 – 6, lượng canxi cần thiết để hình thành xương của trẻ được lấy từ cơ thể của mẹ

– Khám răng định kỳ: khi mang thai, thai phụ nên khám răng định kỳ để có thể phát hiện và điều trị kịp thời, tốt nhất mỗi 3 tháng. Nếu phát hiện có vôi răng, nha sĩ có thể lấy sạch vôi răng và mảng bám.

– Trám răng và nhổ răng: nếu chỉ trám răng mà không dùng đến thuốc tê thì không ảnh hưởng nhiều. Răng sâu trong thời kỳ này hoàn toàn có thể và nên được trám sớm để tránh tình trạng sâu răng lan đến tủy gây viêm tủy. Tuy nhiên can thiệp nên nhẹ nhàng, đặc biệt trong 3 tháng đầu thai kỳ vì sự hình thành nhau bám vào tử cung vẫn chưa hoàn toàn chắc. Khi thai được 5 tháng thì có thể can thiệp bình thường. Tuy nhiên, thường trong thời gian mang thai không nên nhổ răng vì có thể gây nhiễm trùng huyết ảnh hưởng đến thai nhi. Tuyệt đối hạn chế đến mức thấp nhất chụp X-quang cho thai phụ, đặc biệt trong 3 tháng đầu tiên hình thành cơ quan, bộ khung cho thai, vì có thể làm xáo trộn trong quá trình hình thành bào quan. Nếu phải dùng thuốc, không được tự ý dùng thuốc, phải theo chỉ định của thầy thuốc để đảm bảo thuốc tương đối an toàn cho thai.

Chế độ ăn uống: ăn thực phẩm giàu vitamin C, B12, canxi… và hạn chế ăn đồ ngọt, đồ có ga.

Thay lời kết

Các nhà khoa học khẳng định, những người mẹ có răng sâu sẽ sinh ra những đứa trẻ có hệ miễn dịch kém và bộ máy tiêu hóa làm việc không tốt, chưa kể còn xuất hiện một loạt các bệnh khác. Người mẹ bị sâu răng sẽ khiến trẻ cũng bị sâu răng và viêm vòm họng. Vì thế, đối với những phụ nữ mang bầu, điều quan trọng là phải thường xuyên đi khám răng miệng và có những biện pháp chữa trị kịp thời.

BS. Dương Minh Hùng – SKDS

SRESS TẾ BÀO, LỘ TRÌNH VIÊM VÀ SỰ LÃO HÓA TẾ BÀO

SRESS TẾ BÀO, LỘ TRÌNH VIÊM VÀ SỰ LÃO HÓA TẾ BÀO

Bùi Diễm Khuê – Phùng Trung Hùng – Nguyễn Phước Long

Tóm tắt

Hình 45.1: Một số phân tử vô cơ tham gia vào đáp ứng viêm

Tế bào có những lộ trình tín hiệu nội sinh (intrinsic signalling mechanisms) có khả năng nhận biết (sensing) những tình trạng có hại khác nhau, cả bình thường và bệnh lý, và rồi đáp ứng bằng cách sắp đặt (mounting) các đáp ứng đa dạng với stress. Ví dụ, tín hiệu bình thường là các cytokines gây ra đáp ứng viêm ở tế bào. Tín hiệu bệnh lý bao gồm tia UV và tia X, hydrogen peroxide (H2O2), giảm oxy mô đột ngột và gây tổn thương lý hóa do nhiệt hay hóa chất độc hại. Trong nhiều trường hợp, đặc biệt khi tín hiệu stress không quá nghiêm trọng, tế bào có thể sống sót và thậm chí có thể chịu được tổn thương sau đó. Nếu tế bào đang tăng trưởng, những tổn thương dưới ngưỡng gây chết có thể làm cho tế bào ngừng tăng trưởng tạm thời, cho phép đủ thời gian sửa chữa tổn thương, hoặc tiến trình phát triển tế bào có thể bị ngừng lâu hơn và tế bào sẽ đi vào tình trạng lão hóa. Một ví dụ khác của cơ chế sống còn được bảo tồn về mặt tiến hóa là sự tự thực, nó cho phép tế bào ứng phó với nhưng thời kì đói. Tuy nhiên, nếu stress quá nặng nề, tế bào sẽ chết thông qua một quá trình hoại tử nhanh chóng và thảm khốc (catatrosphic), hoặc thông qua một quá trình chậm hơn và có kiểm soát hơn được thực hiện bởi một quá trình mang tính điều hòa cao của sự chết tế bào có chương trình, hay thường được gọi là apoptosis.

Mặc dù đặc điểm hình thái của sự hoại tử và sự chết tế bào có chương trình (apoptosis) có sự khác biệt rõ ràng, nhưng hai quá trình này cũng có một số điểm tương đồng ở chỗ chúng được gây ra bởi các kích thích tương tự nhau, và thường sử dụng cùng các cơ chế tín hiệu. Sự hoại tử xảy ra khi tế bào bị tổn thương áp đảo và nhanh chóng tan rã. Thể tích tế bào tăng lên nhanh chóng, ti thể bị phình lên, và màng bào tương đột ngột gián đoạn làm phóng thích vật chất chứa trong tế bào vào khoảng gian bào, nơi mà nó có thể sinh ra đáp ứng viêm. Ngược lại, sự chết tế bào có chương trình (apoptosis) diễn ra trật tự hơn, trong đó proteases và nucleases trong phạm vi màng bào tương nguyên vẹn tách rời khỏi tế bào bị teo dần về kích thước và sau đó bị các tế bào lân cận nhấn chìm, do đó tránh được bất kỳ phản ứng viêm nào.

Đáp ứng viêm

Hệ miễn dịch bẩm sinh là hàng rào đầu tiên chống lại sự xâm nhập của tác nhân gây bệnh. Nó không chỉ khởi đầu một đáp ứng viêm nhanh và mạnh để tấn công tác nhân gây bệnh ngoại lai mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc hoạt hóa đáp ứng miễn dịch thích ứng chậm hơn. Đáp ứng miễn dịch chậm gây ra sự hoạt hóa tế bào B và T đặc hiệu để mở rộng hệ thống chống đỡ của vật chủ. Hàng rào chống đỡ ban đầu trong suốt đáp ứng bẩm sinh được thực hiện bởi một chuỗi phức hợp của tương tác tế bào, gọi chung là đáp ứng viêm. Các tế bào chính tham gia bao gồm tiểu cầu, đại thực bào, dưỡng bào, bạch cầu trung tính và tế bào nội mô. Các đặc tính tiếp theo về đáp ứng viêm sẽ được trình bày và nhấn mạnh vào lộ trình tín hiệu dùng để kiểm soát sự tham gia của những loại tế bào khác nhau này:

  1. Tổn thương mô: Nhiều đáp ứng viêm khởi đầu với tổn thương mô, hiện tượng này hoạt hóa hệ thống bổ thể để phóng thích các yếu tố bổ thể nhằm huy động tế bào viêm (như bạch cầu trung tính chẳng hạn).
  2. Tổn thương tế bào nội mô: Một dạng đặc biệt của tổn thương mô xảy ra khi tế bào nội mô bị phá vỡ. Các tế bào phóng thích hóa chất trung gian gây viêm như thrombin và bradykinin chính là nguyên nhân gây ra đỏ, đau và sưng do mạch máu tại chỗ bị giãn và tăng tính thấm với dịch và protein máu. Trong các protein này, một số là yếu tố bổ thể và kháng thể IgG bao bọc tác nhân gây bệnh, dẫn đến sự thực bào. Tế bào nội mô cũng phóng thích sphingosine 1-phosphate (S1P), chất này cũng có thể ảnh hưởng tính thấm thành mạch.
  3. Sự kết tập tiểu cầu và tạo thành huyết khối. Thrombin gây ra bởi tổn thương tế bào nội mô có vai trò chính trong các quá trình này. Đối với sự tạo huyết khối, thrombin có vai trò chuyển fibrinogen thành  fibrin, đồng thời khởi đầu các đợt phản ứng gây ra sự tương tác chéo các đơn phân (monomers) tạo thành các lưới xơ ngăn cản dòng máu. Thrombin góp phần vào sự hoạt hóa tín hiệu Ca2+ giúp kiểm soát nhiều phần trong quá trình kết tập tiểu cầu.
  4. Tính thấm nội mô: Tế bào nội mô kiểm soát dòng chất và tế bào từ huyết tương vào khoảng gian bào. Bình thường, dòng chảy này bị hạn chế hoàn toàn. Tuy nhiên, khi viêm, nhiều hóa chất trung gian như thrombin, bradykinin và histamine cao có thể tăng tính thấm mạnh mẽ bằng cách co rút tế bào để mở đường cận tế bào.
  5. Sự tăng sinh tế bào: Trong suốt quá trình lành vết thương, có một lượng lớn tế bào tăng sinh để cung cấp tế bào mới cho sự tái cấu trúc mô. Một số quá trình tăng sinh được điều khiển bởi yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc từ tiểu cầu (PDGF) và yếu tố tăng trưởng biến hình β (TGF-β). Sự tăng sinh tế bào xảy ra nhiều ở nguyên bào sợi và những tế bào trung mô khác. Sự tăng sinh tế bào nội mô cũng có thể gia tăng như một phần của quá trình tân tạo mạch để sửa chữa những mạch máu bị hư hại. Sự phóng thích yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (VEGF) đóng vai trò quan trọng trong việc kích hoạt sự gia tăng này trong sự tăng sinh của tế bào nội mô. Cả tiểu cầu và tế bào nội mô phóng thích sphingosine 1-phosphate, một trong những phân tử tín hiệu loại lipid được tạo bởi lộ trình tín hiệu sphingomyelin.
  6. Hoạt hóa đại thực bào. Đại thực bào tồn tại hàng tháng thậm chí nhiều năm, bố trí trong nhiều cơ quan, nơi chúng hoạt động như “lính canh” thường trực để sẵn sàng khởi đầu một phản ứng viêm thông qua hai cơ chế chính. Thứ nhất, chúng có thể phản ứng với các tín hiệu từ tác nhân gây bệnh bằng cách phóng thích một lượng lớn hóa chất trung gian gây viêm như chemokines. Ngoài ra, có khả năng là đại thực bào có các thụ thể có thể phát hiện acid uric tạo ra từ chuyển hóa acid nucleic ở các tế bào chết. Thứ hai, chúng loại bỏ tác nhân gây bệnh bằng cách bao lấy các tác nhân này trong quá trình thực bào.

Tác nhân gây bệnh khởi đầu sự hoạt hóa đại thực bào bằng cách phóng thích PAMPs. Các phân tử PAMPs này hoạt động thông qua nhiều thụ thể Toll-like (TCRs) để kích thích lộ trình tín hiệu của yếu tố nhân κB (NF-κB). Đối với đại thực bào, PAMPs giúp điều hòa hoạt động phiên mã của nhiều thành phần góp phần vào phản ứng viêm, như yếu tố hoại tử u α (TNFα), interleukin 1 (IL-1) và IL-6. PAMPs có tác dụng tương tự ở dưỡng bào. Các tác nhân gây bệnh bị bao bọc bởi kháng thể (IgG và IgM) hoạt hóa hệ thống bổ thể để phóng thích các yếu tố bổ thể như C3a và C5a, đó là những yếu tố hoạt động như phân tử hóa hướng động (chemoattractants) cho tế bào viêm như bạch cầu đa nhân trung tính (neutrophils) là một ví dụ. Ngoài ra, các tác nhân gây bệnh bị bao bọc được “đánh dấu” cho quá trình thực bào bởi đại thực bào.

Hình 45.2: Tóm tắt đáp ứng viêm với tổn thương mô và tác nhân gây bệnh. Hệ thống miễn dịch bẩm sinh được kích hoạt bởi các tín hiệu phát sinh từ mô tổn thương và các tác nhân gây bệnh để hoạt hóa các tế bào như đại thực bào, bạch cầu trung tính, dưỡng bào, tiểu cầu và tế bào nội mô, góp phần vào chuỗi phối hợp các phản ứng để loại bỏ tác nhân gây bệnh cũng như sửa chữa mô tổn thương. Các tế bào nội mô được mô tả ở ba trạng thái: dạng phẳng bình thường (màu xanh), co lại để tăng tính thấm nội mô (vàng nhạt) và tế bào bị tổn thương (vàng đậm), nơi sự kết tập tiểu cầu xảy ra trong quá trình tạo thành nút chặn huyết khối. Chi tiết của các phản ứng này được mô tả trong bài đọc.

  1. Hoạt hóa dưỡng bào. Các dưỡng bào định cư tại chỗ đóng vai trò quan trọng trong việc khởi đầu đáp ứng viêm. Các kháng nguyên liên kết chéo với IgE bao quanh FcεRIs để kích hoạt nhiều cơ chế tín hiệu dưỡng bào phóng thích histamine và các hóa chất trung gian gây viêm khác.
  2. Sự chiêu mộ và hoạt hóa bạch cầu đa nhân trung tính (neutrophil). Neutrophil có thời gian bán hủy tương đối ngắn, tuần hoàn trong máu vài giờ trước khi di chuyển vào mô liên kết xung quanh, đặc biệt ở vị trí viêm, và chỉ hoạt động vài ngày ở đó. Neutrophil dùng hai lộ trình chính để xuyên qua lớp nội mô của tế bào. Quan điểm thường được chấp nhận là neutrophil ép lại để đi qua khe tế bào. Một cơ chế khác, neutrophil sử dụng podosome để tạo ra năng lượng giúp nó đi xuyên qua khe tế bào. Sau đó, một quá trình hóa hướng động bạch cầu đa nhân trung tính thu hút những bạch cầu này đến vị trí viêm; trong suốt quá trình đó, các tế bào theo gradient của các chemokines, các yếu tố bổ thể (C3a và  C5a) và fMet-Leu-Phe (fMLP). fMLP, một sản phẩm thoái biến (breakdown) của vi khuẩn, là một phân tử hóa hướng động kinh điển.
  3. Sự biệt hóa bạch cầu đơn nhân (monocyte). Bạch cầu đơn nhân theo một lộ trình tương tự bạch cầu đa nhân trung tính. Chúng thâm nhập qua lớp nội mô để vào khoảng gian bào, nơi chúng biệt hóa thành đại thực bào.
    Đáp ứng viêm được điều hòa ở mức cao và phụ thuộc vào cơ chế tiền viêm (pro-inflamatory) xảy ra sớm (như mô tả ở trên), nhưng bị trung hòa từ từ bởi nhiều lộ trình kháng viêm trung gian bởi các yếu tố như cytokines [interleukin-10 (IL-10)], hormone và các chất dẫn truyền thần kinh [acetylcholine, peptid ruột vận mạch (vasoactive intestinal  peptide – VIP) và polypeptid hoạt hóa adenyl cyclase tuyến yên (pituitary adenylate  cyclase- activating polypeptide – PACAP)]
    Mặc dù diễn biến của một đáp ứng viêm là có lợi, nhưng có những trường hợp mà đáp ứng này ngoài tầm kiểm soát và bắt đầu gây hại, do sản phẩm cytokine viêm dư thừa như TNFα, IL-1β và IL-6 gây ra phù và tổn thương mô. Thật vậy, viêm cấp và mạn liên quan đến nhiều bệnh, như nhiễm trùng huyết, viêm khớp dạng thấp, viêm ruột (bao gồm bệnh Crohn và viêm loét đại tràng), hội chứng suy hô hấp (respiratory distress syndrome), viêm phúc mạc và viêm tim (carditis). Đối với não, nhiều bệnh thoái hóa thần kinh có thể do hoạt hóa thụ thể TLR 4 ở vi tế bào đệm (microglia cell) gây ra đáp ứng viêm.

Các cytokine viêm

Có nhiều cytokine và các tác nhân liên quan gây ra viêm. Hai trong số các cytokine chính là yếu tố hoại tử u-α (TNFα) và interleukin-1 (IL-1).

Yếu tố hoại tử u (TNF)

TNF có hai dạng chính được nói tới ở đây: TNFα (được biết như cachetin vì nó điều hòa sốt và chứng suy mòn – cachexia) và TNF-β (lymphotoxin). Trong hầu hết các mục đích, chúng được xem xét cùng với nhau. TNF là cytokine tiền viêm mạnh chịu trách nhiệm cho nhiều hiệu ứng có hại như nhiễm trùng do vi khuẩn, viêm khớp dạng thấp và bệnh Crohn. TNF hoạt động trên thụ thể TNF (TNF-R) để chiêu mộ những lộ trình tín hiệu khác nhau:

●     TNFα hoạt hóa lộ trình tín hiệu của yếu tố nhân κB  (NF-κB).

●     TNF-R có thể hoạt hóa caspase 8 để khởi đầu lộ trình bên ngoài của sự chết có chương trình (apoptosis).

●     TNFα hoạt hóa lộ trình tín hiệu sphingomyelin.

●     TNFα được phóng thích từ tế bào hình sao (folliculo stellate – FS) để đáp ứng với lipopolysaccharide (LPS)

Thụ thể TNFα bị bất hoạt thông qua quá trình phát tán ngoại bì (ectoderm shedding). Đột biến ở vị trí phân tách của thụ thể TNF ngăn cản điều hòa ngược bởi enzyme ADAM chịu trách nhiệm cho sự phát tán của nó, là nguyên nhân của hội chứng sốt có chu kỳ liên quan với thụ thể TNF (TNF-receptor-associated periodic febrile syndrome – TRAPS).

Xem toàn bộ bài viết tại đây.

Nhược giáp – Hypothyroidism

GIẢI THÍCH CĂN BẢN SINH LÝ BỆNH HỌC NỘI TIẾT

Nhược giáp – Hypothyroidism

Phùng Trung Hùng – Nguyễn Phước Long

Tình trạng thiếu iodine là nguyên nhân hàng đầu gây ra tình trạng nhược giáp trên toàn thế giới. Bên cạnh đó, bệnh lý tự miễn (như viêm giáp Hashimoto’s) và nguyên nhân đến từ trị liệu (iatrogenic cause) là 2 nguyên nhân phổ biến nhất.

Bảng 1: Các nguyên nhân gây ra nhược giáp

Xét một trường hợp phụ nữ 48 tuổi. Có:

Triệu chứng cơ năng

–          Fatigue – mệt mỏi, cảm giác kiệt sức.

–          Weakness – suy nhược.

–          Weight gain – tăng cân.

–          Muscle cramping – vọt bẻ (chuột rút).

–          Always feel cold – luôn cảm thấy lạnh, nhạy cảm với môi trường lạnh.

–          Constipation and headache during the past 2 months – Táo bón và đau đầu tiếp diễn suốt 2 tháng nay.

Triệu chứng thực thể

–          T = 36oC, P = 50, R = 16, BMI = 32.

–          Overweight postmenopausal female – Phụ nữ mãn kinh béo phì.

–          Skin is pale, dry and thin – Da tái nhợt, khô và mỏng.

–          Hair is brittle – Tóc dễ gãy.

Cận lâm sàng

–          RBC = 3.9 Mcell/µL (normal: 4.2 – 5.4)

–          Serum TSH 6.4 mIU/mL (normal: 0.4 – 6.0)

–          Thyroxine (T43.9 µg/dL (normal 4.5 – 11.2)

–          Triiodothydronine (T380 ng/dL (normal 95 – 190)

–          TSH receptor antibody: Negative.

–          Thyroid antibodies: Positive.

Chẩn đoán xác định

Hypothyroidism caused by Hashimoto’s thyroiditis

(Nhược giáp do viêm giáp Hashimoto’s)

Bảng 2: Triệu chứng cơ năng và triệu chứng thực thể của nhược giáp theo thứ tự giảm dần sự phổ biến.

Sinh lý bệnh các triệu chứng chính

Sinh lý tuyến giáp

Hormone tuyến giáp có bản chất là amino acid nhưng thụ thể của nó nằm bên trong nhân tế bào. Sinh lý quá trình sản xuất hormone tuyến giáp được mô tả qua hình sau:

Hình 1: Tuyến giáp có rất nhiều nang chứa chất keo bao xung quanh các tế bào nang tuyến. Các tế bào nang tuyến hấp thu iodide thông qua NIS (sodium-iodide co-transporter) và sau đó dự trữ nó ở chất keo (qua pendrin, tên đầy đủ là sodium-independent chloride/iodide transporter). Tế bào nang tuyến còn tổng hợp thyroglobulin và các enzyme khác cần thiết cho quá trình gắn iodide vào tyrosine. Cần nhớ rằng tyrosine gắn kết với thyroglobulin và sau đó iodinate hóa ở trong chất keo chứ không phải trong tế bào. Mỗi tyrosine sẽ gắn 1 hoặc 2 iodide rồi dimer hóa để tạo thành T3 hay T4 một cách ngẫu nhiên rồi được ẩm bảo trở lại vào trong tế bào, sau đó được tiết vào máu.

Các chức năng của hormone tuyến giáp, cần lưu ý dạng hoạt động của hormone tuyến giáp là T(xúc tác với 5’-deiodinase type 2):

–          Cần thiết cho sự trưởng thành của tế bào não trong giai đoạn bào thai.

–          Cần thiết cho sự biệt hóa – phát triển của tế bào cũng như sự tăng trưởng của cơ thể.

–          Cần thiết cho sự tăng trưởng mô (cơ vân, tim, gan,…) và xương. Quá trình này bao gồm khả năng khởi động các quá trình tổng hợp nhiều protein cấu trúc và enzyme của tế bào. Lưu ý là vai trò của hormone tuyến giáp đối với sự tăng trưởng của xương được thực hiện trung gian qua việc tổng hợp GH/IGF-1.

–          Là thành phần quyết định mức chuyển hóa cơ bản của cơ thể. Thực hiện quá trình phosphoryl hóa oxy hóa, tiêu thụ oxygen,… để cân bằng tỉ lệ ATP/ADP cần thiết cho các hoạt động bình thường của cơ thể. Do vậy tình trạng nhược giáp gây nên một sự thiếu năng lượng toàn thể, khiến người bệnh rơi vào trạng thái mệt mỏi, suy nhược, không muốn vận động.

–          Sinh nhiệt. Trong tế bào mỡ, T3 hoạt hóa phiên mã tạo UCP1 (uncoupling protein 1). Protein này làm thất thoát H+ trong màng trong ti thể, khiến năng lượng phần lớn chuyển thành nhiệt năng thay vì đưa về dạng sử dụng chủ động ATP.

–          Điều hòa sự chuyển hóa carbohydrate, mỡ và protein.

–          Thực hiện vai trò tác hồi âm đến sự sản xuất TRH và TSH.

–    Da khô, tái nhợt, mỏng. Thiếu hormone tuyến giáp làm giảm tổng hợp protein và lipid, do vậy các thành phần của da bị giảm sút, gây ra biểu hiện trên. Xem thêm tại đây.

Hình 2: Sự chế tiết TSH bởi TRH phụ thuộc vào sự hoạt hóa PLC để tạo InsP3. Sau đó, InsP3 sẽ hoạt hóa phóng thích Ca2+ ở ER nhằm kích hoạt quá trình xuất bào của các túi tiết có chứa TSH. Ngoài ra, Ca2+ còn có thể bật đèn xanh cho sự biểu hiện của β-TSH gene. Cuối cùng, TSH chịu sự ức chế của T3 (khi phân tử này gắn vào thụ thể của nó ở nhân tế bào, nó sẽ ức chế quá trình phiên mã của gene mã hóa TSH).

 

Chức năng cụ thể được tóm lại trong bảng sau đây, cần đọc thêm các tài liệu về sinh học phân tử tế bào để nắm rõ cơ chế:

Bảng 3: Chức năng hormone tuyến giáp

Sinh lý bệnh

–          Chẩn đoán nguyên nhân nhược giáp là do viêm giáp Hashimoto’s dựa trên cơ sở là sự hiện diện của kháng thể kháng tuyến giáp.

Viêm giáp hay bệnh Hashimoto’s là một đáp ứng tự miễn trực tiếp chống lại mô tuyến giáp. Sự phá hủy cấu trúc nang làm giải phóng T3 và T4 từ chất keo có thể gây ra tình trạng cường giáp thoáng qua (hashitoxicosis). Tuy nhiên, sự phá hủy này sẽ khiến các vùng đó không còn khả năng tổng hợp hormone tuyến giáp nữa. Do vậy, nồng độ hormone tuyến giáp giảm xuống gây ra các biểu hiện nhược giáp như ta đã thấy.

–          Cần biết rằng tình trạng nhược giáp này sẽ làm tăng sản xuất TRH và TSH (do không còn đủ thành phần ức chế là T3 và T4 nữa). Nồng độ TSH tăng chính là nguyên nhân gây phì đại tuyến giáp trong trường hợp bướu cổ ở giai đoạn trễ.

–          Tăng cân trong nhược giáp là do giảm các quá trình chuyển hóa của cơ thể.

–          Như đã trình bày, T3 tạo UCP1 làm giải phóng năng lượng dưới dạng nhiệt, khi không còn đủ T3 nữa, quá trình sinh nhiệt của cơ thể bị gián đoạn và làm hạ thân nhiệt.

–          Nhịp tim chậm. Sự điều hòa nhịp tim của hormone tuyến giáp không phải là một vấn đề đơn giản, ở đây ta đề cập đến khía cạnh bản thân tế bào cơ tim, ngoài ra các bạn cần tìm hiểu thêm ảnh hưởng của hormone tuyến giáp đối với sự kiểm soát của hệ thần kinh nữa (sẽ được nói đến ở một phần khác). Hormone tuyến giáp, với khả năng kiểm soát sự tổng hợp protein, nó đóng vai trò duy trì trạng thái năng lượng cho các tế bào cơ nói chung và cơ tim nói riêng. Hormone này điều hòa biểu hiện của myosin, Ca-ATPase, kênh Na-K và hoạt động của một số enzyme khác trong sự phân giải đường cũng như chuyển hóa của ti thể để đảm bảo cả về mặt năng lượng lẫn điện thế và cơ chế gây co cơ. Khi tình trạng nhược giáp diễn ra, nó khiến cho chuyển hóa của cơ tim bị đình trệ, thiếu hụt các thành phần cần thiết cho quá trình co cơ, dẫn đến giảm hoạt động của cơ tim, biểu hiện trên lâm sàng là nhịp tim chậm. Tham khảo thêm  tại đây

Hình 3: Quan hệ giữa hệ thần kinh và các cơ quan tác động của hệ tiêu hóa.

–          Tình trạng táo bón xảy ra do rối loạn nhu động ruột. Nhu động ruột giảm vừa do giảm hoạt chức năng của cơ trơn ruột và không kém phần quan trọng là sự chi phối của hệ thống thần kinh.

Để tóm lại, chúng ta cùng xem hình ảnh minh họa sự khác nhau giữa nhược giáp và cường giáp:

Hội chứng Cushing’s

GIẢI THÍCH CĂN BẢN SINH LÝ BỆNH HỌC NỘI TIẾT

Hội chứng Cushing’s

Phùng Trung Hùng – Nguyễn Phước Long

Hội chứng Cushing’s xuất hiện ở nhiều bệnh lý khác nhau của hệ thống nội tiết, ở đây chỉ giới hạn giải thích các triệu chứng, không đào sâu nguyên nhân. Hội chứng này thường gặp ở nữ nhiều hơn nam từ khoảng 5 – 10 lần.

Xét trường hợp một phụ nữ 35 tuổi. Có:

Triệu chứng cơ năng

–          Rapid weight gain – tăng cân nhanh.

–          Excessive sweating – ra mồ hôi nhiều quá mức.

–          Recent panic attack – san chấn tâm lý gần đây.

–          The face looks swollen – plethoric moon face – Mặt “sưng” hay khuôn mặt hình mặt trăng.

–          Weakness, backaches, headaches – suy nhược, đau lưng, đau đầu.

–          Irregular periods – chukinh nguyệt không đều.

–          Frequent bruising – thường xuất hiện vết bầm/thâm tím.

Hình 1: a) Béo phì và gù lưng. b) Khuôn mặt hình mặt trăng. c) Lông nhiều hơn bình thường ở mặt và nách. Xem thêm vết rạn da ở hình g) và vết bầm tím ở hình h).

Triệu chứng thực thể

–          BP 130/86 mmHg.

–          BMI = 33.

–          The face and trunk is swollen but the arms and legs are thin – kích thước tay và chân không cân xứng với kích thước cơ thể và bị teo.

–          Depression – trầm cảm.

–          Supraclavicular fat pads – mảng mỡ thượng đòn.

Cận lâm sàng

–          Glucose tolerance: Abnormal, consistent with insulin resistance.

–          Plasma cortisol levels – 4 PM: 25 µg/dL (normal: 3-15 µg/dL).

–          24-hour urine collection for free cortisol: Abnormally high.

–          Plasma ACTH: 7 pg/mL (normal: > 20 pg/mL).

–          MRI of the pituitary: Normal.

–          CT of abdomen and chest: Adrenal tumor.

Chẩn đoán xác định

Cường cortisol nguyên phát do khối u thượng thận.

Sinh lý bệnh các triệu chứng chính

Cortisol còn được gọi là hormone đáp ứng với stress chủ đạo của cơ thể. Bình thường nó ức chế hoạt động của hệ thống miễn dịch; tăng đường huyết nhưng không thủy phân glycogen ở gan, tăng tân tạo đường ở gan và chuyển hóa amino acid; thoái giáng protein; tái phân bố mỡ vào thân và cổ.

CRH ở vùng hạ đồi hoạt hóa ACTH và sau đó ACTH sẽ hoạt hóa chế tiết cortisol. Khi nồng độ cortisol tăng lên, nó tạo thành vòng tác hồi âm ức chế cả sự tạo thành của CRH và ACTH.

Hình 2: Minh họa bệnh nhân bị Cushing’s được xác định đầu tiên ở tuổi 23 tại bệnh viện Hopkins năm 1932.

Từ các dữ kiện trên ta có thể giải thích triệu chứng chính như sau:

–          Cortisol thoái giáng protein, do vậy gây giảm khối lượng cơ và thành phần cấu trúc của da. Điều này giải thích triệu chứng teo cơ ở chi (chủ yếu ở đầu gần) và dễ bị bầm tím bởi lực cơ học ở da.

–          Cortisol tăng hấp thụ amino acid ở gan và tăng quá trình tân tạo đường. Quá trình này làm tăng nồng độ glucose, do vậy hoạt hóa sự tổng hợp glycogen ở gan. Đây là nguyên nhân gây nên béo phì, “thể” mập thânvà mập bụng.

–          Các glucocorticoids nói chung ức chế sử dụng glucose và giữ đường huyết ở mức cao, giảm đáp ứng của insulin. Các điều kiện này làm mức glucose trong máu tăng đạt ngưỡng như trong trường hợp của bệnh đái tháo đường type 2.

–          Cortisol giảm dự trữ mỡ ở chi nhưng tăng tổng hợp và dự trữ mở ở thân, cổ, mặt và vai, giải thích triệu chứng “khuôn mặt hình mặt trăng” và/hoặc các bướu mỡ ở vùng này.

Ta cần biết rằng, test ức chế dùng dexamethasone được sử dụng để đánh giá chức năng tuyến yên và vỏ thượng thận. Bình thường thì khi tăng steroid ngoại sinh (dexamethasone) thì sẽ làm giảm lượng ACTH được phóng thích.

Bảng 1: Liệt kê một số triệu chứng có mặt trong hội chứng Cushing (mọi lứa tuổi).

Ngoài ra, các androgen vỏ thượng thận và các mirenalocorticoids có chung một vài bước tổng hợp với cortisol. Do vậy ở trường hợp cụ thể này, khối u thượng thận có thể làm tăng quá mức lượng androgen và mirenalocorticoid, điều này giải thích cho các triệu chứng liên quan khác đã đề cập ở trên.

Xem toàn bộ bài viết tại đây.

APOPTOSIS – SỰ CHẾT CỦA TẾ BÀO

APOPTOSIS – SỰ CHẾT CỦA TẾ BÀO

Phùng Trung Hùng – Phạm Thiên Tánh – Nguyễn Phước Long

 

Tóm tắt

Sự tăng sinh và chết tế bào là hai mặt của một vấn đề giúp đảm bảo cân bằng nội môi tế bào. Những mạng lưới điều hoà điều khiển đời sống và quyết định cái chết trên cấp độ tế bào thì phức tạp hơn nhiều so với chúng ta từng nghĩ. Quá trình này diễn ra bình thường là nhờ vào sự diều hòa một các nghiêm ngặt của cơ thể nhưng khi gặp một số tác nhân tạo nên sự mất cân bằng (như bệnh, thoái hóa neuron,biến đổi tạo hình), quá trình này sẽ thay đổi. Apoptosis có ở tất cả các động vật đa bào. Điều quan trọng ở đây là các tế bào nào sẽ tham gia vào quá trình chết tế bào apoptosis và cách các tế bào này vào apoptosis.

Hai con đường chính dẫn đến quá trình apoptosis: các thụ thể chết (lộ trình bên ngoài) vàlộ trình ty thể (lộ trình bên trong). Lộ trình ty thể là một quá trình nhanh chóng và mạnh mẽ. Sự phá huỷ ty thể làm phóng thích các yếu tố tiền apoptosis như cytochrome c. Còn nhiều lý do làm cho quá trình nghiên cứu gặp khó khăn, một trong số đó là cho đến nay người ta vẫn chưa chắc chắn về mối quan hệ của hai lớp màng của ti thể và mối quan hệ của các lỗ lớn tham gia. Gần đây, nghiên cứu trênsự tái cấu trúc mào ty thể đã cho ta biết về một “trạm kiểm soát” các tế bào đi vào apoptosis, qua đó xác định độ nhạy của con vật trưởng thành với apoptosis.

 

Giới thiệu: Sự sống và cái chết

 

Sự sống và cái chết đi chung với nhau như 2 mặt của cùng một đồng xu. Sinh học tế bào và sinh hoá đã củng cố cho luận điểm này, cho chúng ta thấy rằng đã có sự sống ăt hẳng sẽ phải có cái chết và ngược lại. Các tế bào có thể chết vì già, vì khiếm khuyết, vì thừa so vơi nhu cầu của mô hay vì chúng gây ra vài hư hại. Điều chắc chắn là tất cả tế bào thật sự được lập trình để chết. Nhưng các tế bào sống được là nhờ một loạt những tín hiệu ngăn cản chúng thực hiện các chương trình chết của mình. Kết quả là, các tế bào sống sót, tăng sinh, biệt hoá, và thực hiện những chức năng của chúng. Các tín hiệu ngăn cản chương trình chết này có thể là các tín hiệu nội bào hay ngoại bào. Khi các tín hiệu này không được phát ra hay có một tín hiệu khác mạnh hơn nó được hoạt hóa, tế bào sẽ đi vào chu trình chết của chúng. Trong trường hợp này, sự sống là bất cứ điều gì mà không có cái chết.

Điều này dẫn đến việc tế bào sinh ra rồi lại chết đi và có chết đi mới có tế bào tiếp tục được sinh trưởng và phát triển, cứ tiếp tục như thế cho đến hết cuộc đời hay nói khác hơn chết có chu trình đóng một vai trò chủ chốt trong việc phát triển và tăng trưởng của những sinh vật phức tạp. Một lượng lớn các tế bào chết trong quá trình phát triển của phôi, ví dụ trong giai đoạn tạo tác hình thành các cơ quan. Trong cuộc đời của các sinh vật trưởng thành, các tế bào chết đi với một số lượng lớn đối trọng với sự phân chia tế bào để (1) cung cấp cho cơ thể những tế bào cần cho những giai đoạn khác nhau, (2) để diệt những tế bào già, hư hại hoặc gây hại trong tổng số tế bào hằng định nội môi. Sự mất cân bằng giữa sự phân chia tế bào và sự chết tế bào dẫn đến những bất thường về phát triển, những bệnh thoái hoá hay những biến đổi tân sinh.

Những cách thức tế bào chết đi

Sự hoại tử

Tác nhân gây bệnh là chấn thương nghiêm trọng như: bỏng, đứt hay đènén, có thể gây chết tế bào hoại tử.Trong cái chết hoại tử này, tình trạng stress quá mức gây nên tình trạng sinh hóa không tương thích với sự tồn tại bình thường của tế bào. Trong trường hợp này, những khối các tế bào trong mô bị sưng phù và sau khi nghiên cứu người ta nhận thấy rằng các khối tế bào bào này không còn tồn tại hoạt động chuyển hóa. DNA nhân ngưng tụ, tập trung nhiều nhất ở rìa nhân và các thành phần tế bào bắt đầu phân hủynhanh chóng và không kiểm soát được. Những chất quan trọng nội bào nhanh chóngrò rỉ ra khỏi tế bào, kích hoạt tình trạng viêm nhờ tế bào của hệ miễn dịchbẩm sinh.Những bằng chứng gần đây cho thấy rằng đáp ứng viêm được khởi phát bằng cách phóng thích một phổ đầy đủ của các phân tử được gọi chunglà alarmins, mà cụ thể danh tínhvẫn còn chưa được xác định chính xác. Đặc điểm chung của chúng là khả năng hoạt hóa các thụ thể nhận dạng đại thực bào, tế bào đuôi gai và các tế bào diệt tự nhiên. Qua đo các alarmins này sẽ giúp các tế bào của hệ miễn dịch kích hoạt được tế bào T và bắt đầu đáp ứng miễn dịch, để ngăn chặn nhiễm trùng và loại bỏ tế bào ở các mô đang bị viêm.Tại thời điểm này, các mảnh vỡ tế bào bị nhấn chìm và được loại bỏ bởi các đại thực bào.

Hình 46.1: Sự khác biệt giữa hoại tử và apoptosis. Nét cơ bản là sự phá hủy màng bào tương phóng thích tất cả thành phần của tế bào ở hoại tử, điều này có thể khởi phát tiến trình viêm lan rộng. Trong apoptosis, màng bào tương nguyên vẹn của các thể apoptotic hầu như sẽ bị thực bào êm đềm không khởi phát tiến trình viêm.

Apoptosis

 

Quá trình thứ hai của cái chết được đặt ra là apoptosis (trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là sự rụng lácây cối). Năm 1972, một kiểuchết tế bào mới được định nghĩa đã được xác định bởi Kerr, Wyllie, và Currie.Ban đầu kiểu chết này được xem như không thoái hóa trong tự nhiên nhưng sau đó một bài nghiên cứu ấn tượngsau đó đã chứng minh điều ngược lại. Apoptosis là khôngchỉ là một quá trình hoạt động theo thứ tự, mà nó còn là một quá trình yên lặng bằng cách tháo dỡ các tế bào nhưng không lan truyền bừa bãiđến các tế bào xung quanh. Ở cấp độ tế bào, quá trình này đặc trưng bởi một sự khởi phát làm thủng các tế bào và sau đóphá vỡ những mối liên hệ tế bào-tế bào. Các tế bào co tròn lại và màng nội bào và các bào quan cô đặc lại nhiều hơn trong tế bào chất, sau đó chúng sẽ tối hơn.

Hình 46.2: tiến trình Apoptosis.

Đáng chú ý là ở thời kì muộn của quá trình, các bào quan vẫn còn nguyên vẹn và bình thường,cho thấy hoạt động chuyển hóa vẫn còn quan trọng đối với tế bào trong thời gian đầu. Các thành phần tế bào chất không bị rò rỉ khỏi tế bào, vì vậy, đáp ứngviêmkhông được tạo ra. Trong nhân, chất nhiễm sắc cô đặc tối đa và thườngtạo ra các phần hình lưỡi liềm bao quanh màng nhân hoặc pycnosis. Sự kiện rất đặc biệt nàykhông nhìn thấy trong bất kỳ trường hợp nào khác.Endonucleasestách một cách chính xác DNA giữa các nucleosome, cho ra những mảnh vỡ của 180 (hay nhiều hơn) đôi base. Mặc dù ít được chú ý hơn, những mạng lưới nội bào khác như Golgi, lưới nội chất và ty thể cũng bịphân mảnh đáng kể. Trong khi quá trìnhphân cắt DNA tiếp tục, nhân bắt đầu vỡ thành từng mảnh vàtế bào tương tự cũng chia tách thành một số mảnh nhỏ còn nguyên vẹn hoặc các thể apoptosis không bắt màu thuốc nhuộm. Sau đó xảy rasự thực bào, một quá trình trong đó các đại thực bào di cư hay các tế bào biểu mô khoẻ mạnh xung quanh nuốt các mảnh vỡ của tế bào. Sự kiện này đặc biệt đáng chú ý là ở trạng thái bình thường các thực bào nàytham gia trong việc nhận và loại bỏ vật lạ hoặc các thực thể “không phải của bản thân”. Kết quả là, các thể apoptosis gắn vào một túi được bao bọcbởi màng trong một tế bào gọi là thể thực bào. Cuối cùng, tế bào chủhay thể thực bào và chất chứa của nó dần dần bị suy thoái, và trong nhiều trường hợp, một tế bào mới thay thế tế bào cũ trong một vài giờ. Trong một số hệ thống tế bào,đặc biệt là trong nuôi cấy tế bào (in vitro), apoptosis không xảy ra với đầy đủ các bước và theo đúng trình tự thời gian như ở trên.Lưu ý, sự cô đặc nhiễm sắc chất thành quả bóng đặc hình cầu tại một đầu của nhân không phải là bất thường. Trái lại, khi nuôi cấy trong ống nghiệm (in vitro), các tế bào trải qua quá trình apoptosis bị mất một phần màng plasma. Trong trường hợp không có đại thực bào, các tín hiệu apoptosis có vai trò thúc đẩysự tự loại bỏ nhanh chóng bởi sự vắng mặt các đại thực bào nhận diện sự bất thường (ví dụ như sự ngoại bào hoá phosphatidylserine từ lớp trong ra lớp ngoài trên màng bào tương của chúng) không thể xảy ra. In vivo, sự nhận diện này loại bỏ hiện tương viêm và khở động phản ứng đông máu.

Hình 46.3: Scramblase hoán vị phosphatidyl serine từ lớp lipid trong ra lớp lipid ngoài, macrophage có thể nhận diện sự bất thường này, ngoài ra PS còn có thể tương tác với Annexin V (AV) và là vị trí gắn kết với phức hợp prothrombinase factor Xa,Va &II(ngăn chận tiến trình đông máu in vivo).

Đọc toàn bộ bài viết tại đây.

Khái luận về Genetics

KHÁI LUẬN VỀ GENETICS

Phùng Trung Hùng – Lê Minh Châu – Nguyễn Phước Long

Y học đang dần phát triển từ một nghệ thuật chữa bệnh trong đó các tiêu chuẩn thực hành được thành lập trên cơ sở kinh nghiệm cá nhân sang phương pháp khoa học được kiểm chứng nghiêm ngặt.Việc áp dụng các phương pháp khoa học tạo nên những tiến bộ lớn trongcác lĩnh vực sinh lý học, vi sinh, hóa sinh và dược học. Những tiến bộ này có vai trò như làcơ sở cho các phương pháp tiếp cận chẩn đoán và điều trị những bệnh tật thông thường của các bác sĩ trong thế kỉ 20.

Bắt đầu từ những năm 1980, người ta ngày càng hiểu biết thêm về cơ sở phân tử của di truyền học và những tiến bộ trong lĩnh vực này đã giúp tìm ra một chân trời mới trong xác địnhcơ sở “thông thường” bệnh gene di truyền (ví dụ: bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm) cũng như cơ sở những đặc điểm di truyền phức tạp (ví dụ, tăng huyết áp). Các cơ sở phân tửtrong sự tương tác giữa gene và môi trường cũng đã bắt đầu được xác định. Ngày nay, nhờ vào sự hỗ trợ của các kĩ thuật nhạy và chuyên biệt, các bác sĩ đã hiểu được cơ sở phân tửcủa các quá trình bệnh sinh phức tạp và xác định nguy cơ các bệnh thông thường ở từng cá nhân. Muốn hiểu biết về y học hiện đại cần phải hiểu biết về di truyền học phân tử và cơ sởphân tử của bệnh.

Chương này cung cấp một cái nhìn tổng quan về di truyền học, trong đó PCR chỉ là một phương pháp ứng dụng các thành tựu khoa học để nhân bản các đoạn DNA (có thể là gene hoặc không) mà thôi, không phải là tất cả như một số người vẫn quan niệm. Nội dung về các nguyên tắc của y học phân tử đã và sẽ được nhấn mạnh ở từng phần cụ thể trong sách, không chỉ về genetics mà còn về epigenetics, proteomics, lipidomics,…

Acid deoxyribonucleic và mã di truyền

Tất cả các thông tin cần thiết để tạo thành một sinh vật đều được mã hoá từ deoxyribonucleic acid (DNA)  chứa trong hạt nhân của mỗi tế bào sinh vật. Các DNA này tạo nên bộ gene của sinh vật. Khung đường deoxyribose của DNA được tạo thành từ liên kết phosphodiester (5′-3′) giữa cacbon thứ năm của vòng pentose này và carbon thứ ba của vòng pentose kế tiếp. Mỗi monomer deoxyribose phosphate liên kết cộng hóa trị với một trong bốn nucleic acid base: adenine purin (A), guanine (G), cytosine pyrimidines (C) và thymine (T). Và các nucleic acid base của 2 chuỗi này nối với nhau bằng các liên kết hydro theo nguyên tắc bổ sung.

Theo nguyên lí nhiệt động lực học thì adenine liên kết với thymidine và cytosine liên kết với guanine.

Trong bộ gene của con người, có khoảng 6 ×109 nucleotide hay 3 ×109cặp nucleotide, liên kết với nhau trong một chuỗi xoắn kép. Tính đặc trưng của DNA được qui định bởi trình tựcác nucleotide, và trình tự này được lưu trữ trong cấu trúc xoắn kép, tạo điều kiện sửa chữa lỗi và cung cấp một cơ chế để nhân rộng các thông tin trong quá trình phân chia tế bào.Trình tự các nucleotide của một mạch đơn trong DNA đóng vai trò như một khuôn mẫu để cho quá trình nhân đôi (quá trình có DNA polymerases tham gia tháo xoắn chuỗi DNA để tạo nên những DNA con giống hệt DNA mẹ).

DNA được nén chặt và liên kết với chromatin protein để tạo thành nhiễm sắc thể trong nhân. Tế bào con người có 23 cặp nhiễm sắc thể, mỗi cặp đều chứa những trình tự nucleotide hay thông tin di truyền riêng biệt.Hầu hết các loại tế bào đều chứa nhiễm sắc thểở trạng thái lưỡng bội, dạng đơn bội chỉ gặp ở những tế bào giao tử. Thông tin di truyền của nhiễm sắc thểđược chứa trong gene. Gene được định nghĩa là một đơn vị trình tự nucleotide, có vai trò mã hóa những chuỗi polypeptide chuyên biệt trong bộ gene lưỡng bội của con người. Có gần 30000 đến 40000 gene không có chức năng mã hóa protein và chức năng của chúng cũng chưa được biết rõ. Trung bình mỗi nhiễm sắc thể có từ 3000 đến 5000, có kích thước từ 1kilobase(kb) đến 2 megabase (Mb).

Hình 47.1: Cấu trúc DNA. Ở bên trái hình là cấu trúc của từng nucleotide với 4 loạinucleic acid base. Ở bên phải hình là cấu trúc xoắn kép của DNA được tạo nên bởi những liên kết hydro, guanine (G) nối với cytosin (C) bằng 3 liên kết hydro còn adenine (A) nối với thymine (T) bằng 2 liên kết hydro.

Vị trí của cácgene trên nhiễm sắc thể rất quan trọng đối với quá trình tiếp hợp và trao đổi đoạn trong giảm phân. Trong quá trình tái tổ hợp thông tin di truyền, các nhiễm sắc thể trong cặp tương đồng (1 có nguồn gốc từ bố và 1 có nguồn gốc từ mẹ) sẽ tiếp hợp và trao đổi đoạnđể tạo nên 1 tổ hợp mới. Khả năng tái tổ hợp thường phụ thuộc vào khoảng cách giữa 2 allele và khoảng cách này được tính bằng centimorgan: 1 centimorgan được qui định là khoảng cách giữa 2 allele mà ở khoảng cách này 2 allele có 1% cơ hội xảy ra hoán vị (hay bắt chéo trao đổi đoạn). Hiện tượng trao đổi đoạn này giúp tạo nên nhiều tổ hợp mới ở các thế hệ sau và qua đó giúp tạo nên sựđa dạng cho bộ gene của loài. Thông qua phân tích xu hướng di truyền cùng nhau của các cặp allele chuyên biệt ta biết được rằng khoảng cách tái tổ hợp trong bộ gene con người xấp xỉ khoảng 3000 centimorgan.

Quá trình tổng hợp protein diễn ra trong bào tương, quá trình này giúp chuyển thông tin di truyền từ DNA trong nhân thông qua mRNA ra bên ngoài bào tương. RNA khác DNA ở 2 điểm trong cấu trúc: (1) khung polymer của RNA được tạo bởi các phân tử đường ribose liên kết với nhau bởi liên kết phosphodieste, (2) RNA cónucleic acid base là U(uracil) thay cho T(thymine) trong DNA. mRNA được tạo ra thông qua hoạt động của enzyme DNA-dependent RNA polymerase trong quá trình phiên mã, men này sao chép chuỗi”antisense” của chuỗi xoắn kép DNA để tạo nên mRNA mạch đơn, mRNA này giống với chuỗi “antisense”của chuỗi xoắn kép DNA. mRNA mới tạo thành bao gồm những đoạn exon (có khả năng mã hóa) nằm xen kẽ với các đoạn intron (không có khả năng mã hóa) nên chúng còn trải qua quá trình cắt để tạo nên mRNA trưởng thành chỉ bao gồm các exon. Những mRNA trưởng thành này sẽ ra khỏi nhân đi vào bào tương và bắt đầu quá trình dịch mãđể tạo thành các chuỗi polypeptide.

Hình 47.2: Bắt chéo và tái tổ hợp. A, 2 nhiễm sắc thể lưỡng bội 1 cặp từ bố và 1 cặp từ mẹ (đỏ và xanh), 2 locus gene được đánh dấu bằng hình tròn và hình vuông. B, bắt chéo của một nhiễm sắc thể lưỡng bội từ một từ bố và một từ mẹ. C, Kết quả của quá trình bắt chéo và trao đổi đoạn.

Tổng hợp protein (dịch mã) xảy ra tại ribosome (phức hợp có phân tử lượng lớn của protein và rRNA ở trong bào tương). Dịch mã là sự chuyển các mã bộ ba di truyền kế tiếp nhau thành các amino acid. Có 64 bộ ba mã hóa được tạo bởi 4 loại nucleotide nhưng chỉ có 20 amino acid khác nhau như vậy một amino acid có thể được mã hóa từ nhiều bộ ba mã hóa. Bắt đầu quá trình dịch mã, tRNA mang amino acid thích hợp sẽ nhận diện và liên kết với bộ ba mã hóa trên mRNA bằng bộ ba đối mã trên nó. Lưu ý: MộttRNA chỉ liên kết được với một amino acid. Tiếp theo các enzym trên ribosome tạo liên kết peptid để nối các amino acid lại với nhau, sau đó tRNA sẽ tách khỏi mRNA. Các amino acid được tiếp tục thêm vào cho đến khi gặp bộ ba kết thúc và kết thúc quá trình dịch mã tại đây. Đây cũng là sự kiện cuối cùng trong quá trình chuyển thông tin từ chuỗi DNA trong nhân sang protein trưởng thành (DNA → RNA → protein). Các protein này ảnh hưởng trực tiếp đến hình dạng và chức năng của sinh vật. Nói cách khác, biểu hiện proteomics quyết định tính trạng chứ không phải khung nền DNA. Vì vậy sự bất thường trong cấu trúc hay chức năng của protein do sự thay đổi của chuỗi amino acid có thể gây nên sự biến đổi ở kiểu hình, thậm chí có thể gây bệnh.

Đọc toàn bộ bài viết tại đây.

Những ai cần cảnh giác với dầu ôliu?

Những ai cần cảnh giác với dầu ôliu?

Dầu thu được từ trái ôliu (một loại cây truyền thống của vùng Địa Trung Hải) thường được sử dụng trong nấu ăn, mỹ phẩm, dược phẩm, xà phòng, làm nhiên liệu thắp sáng… So với các loại dầu thực vật khác, dầu ôliu được xem là “nữ hoàng” vì chứa nhiều chất béo có lợi và vi chất tốt cho sức khoẻ. Nhưng vẫn có những người phải cảnh giác với loại dầu này.

Trái và dầu ôliu. Ảnh: Phan Hương

Lợi ích của dầu ôliu

Với hệ tim mạch: nhờ chứa nhiều axít béo có lợi, dầu ôliu có thể giúp phòng ngừa các chứng bệnh xơ cứng động mạch, cao huyết áp, bệnh tim, thận, xuất huyết não, huyết khối, bệnh Alzheimer và đột quỵ thông qua việc thúc đẩy tuần hoàn máu. Theo một nghiên cứu mới từ Pháp, thực hiện trên 7.625 người hơn 65 tuổi ở ba thành phố khác nhau, những người dùng dầu ôliu mỗi ngày thì tỷ lệ bị đột quỵ thấp hơn 41% so với người không dùng.

Với hệ tiêu hoá, dầu ôliu có chức năng giảm bớt vị chua, ngăn chặn nguy cơ gây viêm loét dạ dày tá tràng, đồng thời còn kích thích sự bài tiết mật, giúp hàm lượng mỡ trong thực phẩm hạ thấp và dễ hoà tan, nhờ đó dễ hấp thu qua niêm mạc ruột, phòng bệnh viêm dạ dày, viêm túi mật và sỏi mật.

Với hệ xương khớp, dầu ôliu nhờ chứa vitamin D và canxi giúp tăng cường chức năng đổi mới trong xương, thúc đẩy hệ xương phát triển, duy trì mật độ cho xương, giảm nguy cơ loãng xương. Dầu ôliu còn ngăn chận khả năng phát triển chứng viêm khớp.

Với hệ nội tiết, một chế độ ăn giàu dầu ôliu, nhiều tinh bột và chất xơ hoà tan từ trái cây, rau, đậu và ngũ cốc rất có lợi cho bệnh nhân tiểu đường. Nó vừa giúp làm giảm cholesterol xấu, đồng thời kiểm soát đường huyết và tăng cường hoạt động của insulin. Kết quả nghiên cứu mới cho thấy người bình thường sau khi sử dụng dầu ôliu, hàm lượng đường trong máu giảm 12%. Tạp chí khoa học Diabetes Care cho thấy một chế độ ăn uống theo phong cách Địa Trung Hải (giàu dầu ôliu) làm giảm nguy cơ bệnh tiểu đường týp 2 gần 50% so với chế độ ăn uống ít chất béo.

Với da: dầu ôliu được dùng trong mỹ phẩm dưỡng da, dưỡng móng, chống nứt môi, tẩy trang, làm tóc mềm mượt. Vitamin E chống lão hoá nên phụ nữ sử dụng dầu ôliu sẽ có làn da mịn màng tươi sáng và xoá được nếp nhăn.

Phòng ung thư: các hợp chất phytonutrient có trong dầu ôliu, oleocanthal, có tác động giảm viêm và giảm nguy cơ gây ung thư vú và tái phát. Squalene và lignans có trong dầu ôliu cũng được nghiên cứu về tác động phòng ngừa và ngăn chận ung thư ruột kết, tá tràng, vú và da.

Công dụng khác: dầu ôliu còn được dùng làm thuốc nhuận tràng, tẩy xổ được xem là “chất tẩy rửa” cho cơ thể. Dầu ôliu được áp dụng đối với da bị côn trùng đốt (sử dụng tại chỗ), ráy tai trong viêm tai giữa, diệt chấy rận, vết thương, vết bỏng nhẹ, bệnh vẩy nến, xoá vết rạn da do mang thai.

Những ai không nên dùng?

Phụ nữ đang mang thai và cho con bú, vì nhiều tài liệu ghi nhận không đảm bảo an toàn khi dùng lượng lớn dầu ôliu (>30g/ngày/đường miệng).

Người đang dùng thuốc trị tiểu đường: thuốc hạ đường huyết tương tác với dầu ôliu nên có thể làm lượng đường trong máu xuống thấp. Cần giám sát chặt chẽ lượng đường trong máu nếu dùng chung với thực phẩm có dầu ôliu, liều điều trị cần phải được thay đổi. Một số loại thuốc được sử dụng cho bệnh tiểu đường bao gồm glimepiride (Amaryl), glyburide (DiaBeta, Glynase PresTab, Micronase), insulin, pioglitazone (Actos), rosiglitazone (Avandia), Chlorpropamide (Diabinese), glipizide (Glucotrol), tolbutamide (Orinase), và một số thuốc khác kể cả thực phẩm chức năng.

Người cao huyết áp đang dùng thuốc hạ áp, vì dùng chung dầu ôliu trong khi điều trị cao huyết áp có thể gây tụt huyết áp đột ngột. Các thuốc hạ huyết áp bao gồm captopril (Capoten), enalapril (Vasotec), losartan (Cozaar), valsartan (Diovan), diltiazem (Cardizem), Amlodipine (Norvasc), hydrochlorothiazide (Hydrodiuril), furosemide (Lasix)… Cần tham khảo ý kiến thầy thuốc khi đang uống thuốc.

Dùng bao nhiêu là tốt?

Trong thực phẩm, dầu ôliu được sử dụng như tất cả các loại dầu ăn khác, chiên, xào, xốt dầu giấm. Quả ôliu ngâm giấm đặc biệt không thể thiếu trong món bánh pizza truyền thống.

Người bình thường nếu bị táo bón dùng 30ml dầu ôliu (khoảng hai muỗng canh trong ngày). Với người huyết áp cao là 30 – 40g mỗi ngày thêm vào khẩu phần ăn. Phòng nguy cơ bệnh tim mạch, cơ quan Quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) cho phép sử dụng 23g dầu ôliu mỗi ngày để cung cấp 17,5g axít béo đơn không bão hoà trong khẩu phần.

Dầu ôliu an toàn khi được sử dụng với liều thích hợp qua đường ăn uống hàng ngày. Còn khi bôi lên da, một số trường hợp có thể bị dị ứng và viêm da tiếp xúc. Ngoài ra, một số người tiếp xúc phấn hoa ôliu có thể bị dị ứng đường hô hấp theo mùa.

DS LÊ KIM PHỤNG

Lưu ý: Nên ép dầu ở nhiệt độ thường bằng phương pháp tự nhiên, tránh sử dụng nhiệt độ cao hoặc dùng hoá chất trong quy trình chiết xuất và tinh chế dầu vì sẽ làm hỏng các thành phần hoạt chất. Nếu mua dầu thành phẩm thì nên đọc kỹ thành phần ghi trên bao bì sản phẩm (tối thiểu hàm lượng axít oleic phải từ 55 – 85% axít béo). Cần bảo quản ở nhiệt độ mát, tránh dầu bị hydrogen hoá sẽ biến thành axít béo dạng trans (trans fat) rất có hại.