Hồi ức 45 ngày kinh hoàng chống dịch SARS

Hồi ức 45 ngày kinh hoàng chống dịch SARS

Ở một góc khiêm nhường tại Bệnh viện Việt Pháp (Hà Nội) có ngôi miếu thờ 6 y bác sĩ đã chết trong cuộc chiến chống dịch SARS. 10 năm trước, bệnh viện này từng phải cách ly, đóng cửa, các hành lang vắng vẻ chỉ có vải trắng phất phơ.

Trong khuôn viên cây cối um tùm, ngôi miếu thờ lặng lẽ yên tĩnh trái ngược với sự ồn ào của khu vực khám chữa bệnh. Trên tấm bia tưởng niệm ghi tên 6 người đã mất trong cuộc chiến chống dịch SARS – Hội chứng hô hấp cấp tính nặng, theo thứ tự thời gian họ ra đi: Y tá Nguyễn Thị Lượng 15/3/2003; bác sĩ Jean – Paul Dirosier 19/3/2003; y tá Phạm Thị Uyên 24/3/2003; bác sĩ Nguyễn Thế Phương 24/3/2003; bác sĩ Nguyễn Hữu Bội 12/4/2003; bác sĩ Jacque 7/2003 (chết sau khi về Pháp).

Ngày 26/2/2003, ông Chung Cheng, người Hong Kong nhập viện Việt Pháp, với các triệu chứng giống cúm nhưng diễn tiến rất lạ, sốt, ho nhiều và khó thở. Các bác sĩ, y tá vẫn thăm khám và điều trị cho bệnh nhân này như với bệnh cúm thông thường khác. Vài ngày sau, tình trạng bệnh nhân xấu đi rất nhanh, gia đình ông đã thuê chuyên cơ đưa về nước, để lại sau lưng Bệnh viện Việt Pháp có hơn 5 y tá sốt với biểu hiện giống Chung Cheng.
Y tá trưởng Bùi Thanh Xuân nhớ lại, lúc đó không ai biết về độ nguy hiểm của bệnh, họ không đeo khẩu trang, không đồ bảo hộ và vẫn còn trêu đùa nhau. “Tôi còn nhớ bác sĩ Tấn kiếm đâu được túi gạo nhờ tôi đánh lưng cho anh ấy. Bác sĩ Phương nằm giường bên cạnh còn đùa cợt cách làm ấy không hiệu quả, nói là bệnh cúm đâu có đáng sợ như thế. Vậy mà chỉ vài ngày sau anh Phương đã ra đi”.
bv6-jpg-1364701138-1364701807_500x0.jpg
Nhân viên y tế chăm sóc bệnh nhân SARS. Ảnh: Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương cung cấp.

 

Là một trong 3 bác sĩ điều trị chính cho các bệnh nhân khi đó, bác sĩ Nguyễn Ngọc Thọ cho hay, SARS lây lan từ người sang người rất nhanh nhưng mức độ bệnh có vẻ như giảm dần qua mỗi lần lây lan. Không hẳn ai tiếp xúc với người bệnh là sẽ lây nhưng xác suất gây bệnh rất cao, tùy thuộc vào kháng thể của từng người. “Lúc khám cho ông Chung Cheng tôi không có gì bảo vệ, vẫn khám bệnh, hỏi han và động viên ông ấy cỡ 20 phút mà không sao, nhưng vài y tá khác tiếp xúc với ông ấy thì lây bệnh rất nhanh”, bác sĩ Thọ hồi tưởng.
Lo lắng trước căn bệnh lạ, bác sĩ Carline – người Pháp công tác tại Bệnh viện Việt Pháp – tìm hiểu trên Internet thấy ở phía nam Trung Quốc đang có một bệnh dịch lạ với biểu hiện sốt, ho. Ông chột dạ nghĩ tới tình hình của bệnh viện và lập tức báo cáo lên Tổ chức Y tế thế giới (WHO). Ít hôm sau, đại diện WHO – bác sĩ Carlo Ubani đã sang Việt Nam trực tiếp nắm bắt tình hình dịch bệnh.
“Tôi lờ mờ nhận thấy dịch ngày càng bùng lên nguy hiểm, hôm đó đi chợ mua rất nhiều đồ, dặn chồng nấu nướng và chăm sóc các con. Quả nhiên, tối hôm ấy (5/3/2003) bệnh viện phát lệnh đóng cửa, toàn bộ nhân viên ở lại viện”, y tá Xuân nhớ lại. Lúc đó chị không biết rằng sẽ buộc phải xa gia đình đúng một tháng trời và chứng kiến sự ra đi trong đau đớn của nhiều đồng nghiệp.
Ngày 15/3, y tá Lượng là người đầu tiên ra đi, sau đó cứ vài ngày lại có thêm người tử vong. Số nhân viên mắc bệnh không ngừng gia tăng. Lúc cao điểm, có quá nửa nhân viên bệnh viện đổ bệnh. Để bảo vệ sự an toàn của cộng đồng, bệnh viện đã tự cách ly, toàn bộ nhân viên không được về nhà. “Sau khi tôi bị lây SARS, cứ cách 2 ngày nhà tôi lại có người đến phun thuốc chống dịch. Chồng tôi được cho nghỉ việc vẫn hưởng lương, các con cháu tôi nghỉ học, em chồng thì khóc lóc đòi chuyển nhà đi lánh nạn”, chị Xuân chia sẻ.
Cùng lúc này, ở Hong Kong, Singapore, Canada đều có người mắc bệnh. Dịch SARS lan ra toàn thế giới. Tất cả đều có mối liên quan trực tiếp, gián tiếp với chuyến bay cuối cùng về nước của bệnh nhân Chung Cheng – người được xác định là bệnh nhân SARS đầu tiên ở Việt Nam.
Tin người chết, người lây bệnh, tin dịch bùng nổ ra toàn cầu khiến mọi người lo sợ. Dọc đường Phương Mai trước cổng viện vắng tanh, thậm chí mọi người phải đi sát lề đường bên kia để tránh. Quán xá khu vực này đều hạn chế mở cửa, không ai bán đồ ăn cho bệnh viện. Lãnh đạo bệnh viện phải liên hệ nhờ những khách sạn lớn viện trợ thức ăn. Bác sĩ Thọ trầm ngâm: “Họ rất nhiệt tình, cung cấp toàn đồ ăn ngon với một điều kiện không được tiết lộ khách sạn họ viện trợ cho vùng dịch. Thời điểm đó, nói đến Việt Pháp là ai cũng sợ như thảm họa diệt vong”.
Bị cô lập, nhân lực và trang thiết bị không đủ cho một tình huống đặc biệt khó khăn mà giới y học chưa hề gặp trước đó, Bệnh viện Việt Pháp đã phải “mượn trộm” hai chiếc máy thở ở Bệnh viện Bạch Mai. Về sau, Bộ Y tế làm việc với Bạch Mai và chính thức cho Việt Pháp mượn một chiếc máy nữa.
“5 ngày sau, Pháp cử 4 bác sĩ và các kỹ thuật viên cùng 5 chiếc máy thở sang. Chúng tôi cảm giác như người sắp chết đuối vớ được cọc, vừa có người giúp, vừa có thêm trang thiết bị hiện đại. Những ngày tiếp theo, Bộ Y tế chỉ đạo chuyển bệnh nhân sang Bệnh viện Nhiệt đới, gánh nặng cũng bớt đi”, bác sĩ Thọ cho biết thêm.
Cảnh thường thấy ở bệnh viện khi đó là những bệnh nhân tập thổi bóng bay, chạy uỳnh uỵch buổi sáng. Không phải là trò thư giãn, mà là biện pháp tập thở để tránh nguy cơ xẹp phổi.
“Lúc bệnh nhân được chuyển hết sang Viện Nhiệt đới, nơi này chỉ còn là một màu tang thương. Khắp các hành lang không có một bóng người, vải trắng bay phất phơ. Bệnh nhân cuối cùng ra đi khiến chúng tôi bị sốc nặng. Chúng tôi âm thầm gói ghém anh ấy lại, rải nhiều lớp khử trùng, lặng lẽ mang xuống Văn Điển hỏa táng trong vội vã”, bác sĩ Thọ nhớ lại thời điểm “không bao giờ quên” ấy.
Dịch SARS đã khiến khoảng 44 y tá, bác sĩ của Bệnh viện Việt Pháp lây bệnh, 6 người (trong và ngoài nước) đã chết. Ngoài ra, có 2 người liên quan cũng tử vong là bệnh nhân đầu tiên Chung Cheng và bác sĩ đại diện WHO – Carlo Ubani. Bệnh viện Việt Pháp phải khử trùng, đóng cửa, toàn bộ nhân viên được nghỉ gần nửa năm. Tháng 11 năm đó, bệnh viện bắt đầu gây dựng lại. “Chúng tôi đi học, dọn dẹp, xây dựng lại bệnh viện từ đống tro tàn”, bác sĩ Thọ chia sẻ.
Giáo sư Đào Xuân Tích – khoa Chấn Thương, bệnh viện Việt Pháp nói: “Trong lịch sử, chưa từng có bệnh viện nào phải chịu tổn thất về người và của như chúng tôi trong trận dịch SARS”.
Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới trung ương lúc đó là Viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới (thuộc Bệnh viện Bạch Mai) là đơn vị thứ hai tham gia cuộc chiến chống SARS. Phó giám đốc bệnh viện Nguyễn Hồng Hà cho hay, họ đã vào cuộc ở giai đoạn dồn dập nhất của dịch khi 10 bệnh nhân cuối cùng của Bệnh viện Việt Pháp chuyển sang.
“Chiến trường” của bệnh viện là toàn bộ tầng 2, 3 của tòa nhà 6 tầng. “Hội chứng này lần đầu xuất hiện, chưa có tiền lệ, cái gì mới cũng khó, chẩn đoán như thế nào, đường lây như thế nào… Không biết dựa vào đâu nên chúng tôi cứ vừa làm vừa mò cách chống dịch”, bác sĩ Hà nói, lúc ấy ông là trưởng phòng cấp cứu, đơn vị trực tiếp điều trị bệnh nhân SARS.

bsha1-jpg[1336088675].jpg

Bác sĩ Nguyễn Hồng Hà, Phó giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương. Ảnh: N.P.

 

Theo bác sĩ Hà, quyết định mở cửa thông thoáng buồng bệnh là một yếu tố quan trọng giúp giảm dịch. Ý nghĩ này xuất phát khi ông được mời sang Bệnh viện Việt Pháp hội chẩn, thấy bệnh viện này đóng kín toàn bộ các cửa, một số chỗ dùng điều hòa. “Lúc đấy tôi nghĩ ‘mình mà làm thế này thì gay lắm, bức bách, khó chịu, bí, thiếu sự lưu thông khí’. Vì thế, khi tiếp nhận ca bệnh đầu tiên, chúng tôi đã thống nhất cứ mở thông thoáng buồng bệnh”.
Một vài chuyên gia WHO cũng khuyên nên đóng hết các cửa phòng bệnh. “Chúng tôi nhận định bất kỳ bệnh truyền nhiễm nào cũng có một ngưỡng nồng độ mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể thì mới nhiễm. Khi mở cửa thông thoáng, nồng độ virus được phân tán ra không trung, gió thổi bay, bị loãng đi. Cách làm này lại hiệu quả, suốt 2 tuần không nhân viên nào bị sốt, nhiễm trùng hô hấp”, bác sĩ Hà cho hay.
Cũng theo vị bác sĩ này, với bệnh nhân SARS, mấu chốt là hỗ trợ hô hấp tốt nhất. Nhưng trong điều kiện ngành y lúc đó thì yêu cầu này rất khó khăn. Không có máy thở, đến khi có lại không phải máy chuyên dụng để thở không xâm nhập, nên phải sáng tạo khi sử dụng. “Chúng tôi tìm dụng cụ về chế thành mặt nạ, cắt dây cao su săm xe đạp, đục lỗ, móc rồi chụp vào. Mask không có thì lấy đâu khẩu trang N95”, bác sĩ Hà nói. Vài ngày sau họ mới có đủ trang bị y tế cần thiết.
Nhân viên y tế đã vất vả, nhưng bệnh nhân SARS mới thật thương. Họ hầu như không nằm mà thở được, bao nhiêu ngày bệnh là bấy nhiêu ngày ngồi gục bên đống chăn gối, cố mà thở. Đa phần đều rất lo lắng, có người thậm chí yêu cầu nhân viên y tế đứng bên cạnh, cứ ra khỏi buồng là hốt hoảng. Cứ bỏ mask thở ôxy ra là bệnh nhân tím tái, ăn cũng khó, vì thế mỗi lần cho ăn là y tá phải rất kỳ công, có khi đứng hàng tiếng, mở mask ra bón một miếng xong lại úp vào. Mọi việc chăm sóc cho bệnh nhân đều do nhân viên thực hiện, từ việc tắm rửa, gội đầu, đánh răng, thay quần áo…
ytadung1-jpg-1364700192-1364700249_500x0
Chị Phạm Thị Ngọc Dung, y tá trưởng Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương còn lưu giữ những bức ảnh ghi lại gần 2 tháng chống dịch SARS. Ảnh: N.P.

 

Hơn một tháng sau, thế giới mới xác định được chủng virus cấp tính corona gây bệnh SARS. Từ đó, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương kết hợp với Viện Y học nhiệt đới cùng chống dịch. Việc phòng chống cũng diễn ra ở các cửa khẩu biên giới, sân bay… Chính phủ đầu tư hàng trăm tỷ mua thêm trang thiết bị, lắp đặt máy thở tại bệnh viện, máy đo nhiệt độ tại sân bay…
Theo Giáo sư Hoàng Thủy Long, nguyên giám đốc Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương, khi ấy là Phó ban phòng chống dịch bệnh hô hấp, Việt Nam khống chế tốt dịch một phần do có mạng lưới y tế dự phòng tốt, cộng với việc điều trị tích cực hiệu quả, nhưng cũng một phần do may mắn. Đó là vì bệnh nhân đầu tiên là ở Bệnh viện Việt Pháp. Đây là bệnh viện nhỏ, nằm riêng biệt nên dễ dàng bao vây. Thêm nữa, dịch ập đến khi nước ta đã có sự giao lưu quốc tế, có sự trao đổi thông tin, sự hỗ trợ của quốc tế.
“Trước đó, có những thời kỳ chúng ta không công bố thông tin, ngay cả tên dịch bệnh cũng không được gọi. Dịch tả thì gọi là ‘4 không’, dịch bọ chét thì gọi là ‘BC'”, ông nói. Giáo sư cũng cho biết, sau dịch SARS, bài học lớn nhất là phải đề cao công tác phòng bệnh.
Việt Nam là một trong 25 nước hứng chịu dịch bệnh bệnh SARS, 65 người đã bị bệnh, 5 người tử vong.  Ngày 28/4/2003, Việt Nam được WHO công nhận là nước đầu tiên khống chế được đại dịch, kết thúc chuỗi 45 ngày kinh hoàng chống SARS.
Những mốc dịch SARS lây lan ở Việt Nam:

– Ngày 23/2/2003: Bệnh nhân Chung Cheng từ Hong Kong nhập cảnh Việt Nam, mang theo các triệu chứng bệnh cúm lạ.

– Ngày 26/2/2003: Chung Cheng nhập viện Việt Pháp, là người đầu tiên tại Việt Nam được xác định mắc bệnh SARS.

– Ngày 5/3/2003: Bệnh viện Việt Pháp được cách ly.

– Ngày 13/3/2003: Viện Y học lâm sàng tiếp nhận bệnh nhân SARS đầu tiên.

– Ngày 15/3/2003: Người Việt Nam đầu tiên chết vì SARS, là y tá Bệnh viện Việt Pháp. Sau đó là 4 y bác sĩ khác của bệnh viện này lần lượt tử vong.

– Từ ngày 8/4/2003 trở đi: Việt Nam không ghi nhận thêm ca mắc mới nào.

– Ngày 28/4/2003: Việt Nam được WHO công nhận là quốc gia đầu tiên trên thế giới khống chế thành công dịch SARS.

Nhóm phóng viên – VNEXPRESS

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *