Monthly Archives: March 2013

Đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam Phần cuối – Những bài luận văn dưới tầm

Theo một thống kê công bố trước đây, trong số 97 đề tài nghiên cứu tiến sĩ ở một trường đại học kinh tế, có đến 57 đề tài về giải pháp, không xứng tầm luận án tiến sĩ.

Chạy theo bằng cấp, học vị đang thành hư danh. Ảnh: TL

Vấn đề học thuật

Về đề tài nghiên cứu. Suốt năm này sang năm khác, báo chí đều nêu ra những trường hợp luận án tiến sĩ… vô bổ. Quả là tựa đề của nhiều luận án không khỏi làm người ta nêu câu hỏi liệu đó có phải là một đề tài nghiên cứu khoa học hay đề tài hành chính. Xin trích một nhận xét khác của GS Trần Văn Thọ: “Cách suy nghĩ về việc chọn đề tài ở Việt Nam chỉ làm cho luận án thiếu tính học thuật và phần lớn thiếu tính độc sáng. Nội dung, trình độ của luận án do đó còn rất xa mới đạt tiêu chuẩn tối thiểu của thế giới, và người được cấp bằng trong trường hợp đó khó có thể thảo luận khoa học với chuyên gia nước ngoài trong cùng ngành”.

Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận xét trên. Tôi đã có dịp đọc qua nhiều luận án trong ngành y từ Nam chí Bắc thì đại đa số chỉ là tập hợp hai hoặc ba báo cáo của một nghiên cứu duy nhất. Nội dung thì rất đơn giản, phần lớn chỉ mang tính kiểm kê lâm sàng (giống như làm bài tập thống kê, và đếm bao nhiêu ca bệnh). Có thể nói không ngoa rằng tuyệt đại đa số những luận án tôi xem qua chỉ xứng đáng luận án cử nhân danh dự hay cao học (thạc sĩ) mà thôi.

Về chuẩn mực đào tạo tiến sĩ. Ở Việt Nam, các đại học chưa có những chuẩn mực đào tạo tiến sĩ. Người ta chỉ nói chung chung rằng một luận án phải có “cái mới”, nhưng không nói rõ cái mới là gì, và dẫn đến tình trạng mỗi nơi hiểu một cách về văn bằng tiến sĩ. Vì thế chất lượng đào tạo không đồng đều nhau.

Trước đây, tôi đã đề nghị sáu tiêu chuẩn cho một luận án tiến sĩ (xem bảng). Để có được văn bằng tiến sĩ, ứng viên phải đạt hai điều kiện. Thứ nhất, ứng viên phải có kiến thức uyên bác và làm chủ kiến thức về một đề tài khoa học. Thứ hai, ứng viên phải mở rộng hay phát triển thêm tri thức về đề tài đó. Để làm chủ đề tài nghiên cứu, nghiên cứu sinh phải tìm đọc và cố gắng hiểu tất cả những gì đã viết hay công bố về đề tài đó. Không phải như bậc cử nhân, kiến thức thường có thể tìm thấy trong sách giáo khoa, đối với bậc tiến sĩ kiến thức thường được tìm trong các tập san khoa học. Để mở rộng kiến thức về một đề tài, nghiên cứu sinh phải làm nghiên cứu khoa học theo sự hướng dẫn của thầy cô. Chính phần nghiên cứu khoa học này phân biệt giữa tiến sĩ và các chương trình cử nhân hay thạc sĩ. Học tiến sĩ thực chất là làm nghiên cứu khoa học. Không có nghiên cứu khoa học thì không thể là tiến sĩ được.

Cũng cần nhấn mạnh rằng đề án nghiên cứu cấp tiến sĩ không nhất thiết phải mang tính ứng dụng thực tiễn (như nhiều người ngộ nhận), mà phải thể hiện một đóng góp mới vào tri thức chuyên ngành. “Tri thức mới” ở đây bao gồm việc phát hiện mới, khám phá mới, hay cách diễn giải mới cho một vấn đề cũ, hay ứng dụng một phương pháp mới để giải quyết một vấn đề cũ… Những tri thức như thế có thể không có khả năng ứng dụng trong tương lai gần, nhưng có thể góp phần thúc đẩy chuyên ngành phát triển một mức cao hơn. Xin nhớ rằng khám phá insulin phải đợi gần 50 năm sau mới được ứng dụng lâm sàng.

Học tiến sĩ không phải chỉ “làm luận án”

Có rất nhiều người tưởng rằng học tiến sĩ chủ yếu là hoàn tất một luận án, nhưng thực tế thì không phải như thế vì luận án chỉ là một phần của chương trình đào tạo. Luận án là một báo cáo có hệ thống những phương pháp và kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh. Do đó, luận án chỉ là một tiêu chuẩn (có thể quan trọng) trong các tiêu chuẩn để được cấp bằng tiến sĩ.

Một luận án khi hoàn tất mà chỉ để trên giá sách của thư viện trường cũng chỉ là một mớ tài liệu ít người biết đến. Vì ít người biết và nằm trong thư viện, nên chẳng có bao nhiêu người biết được luận án đó có gì mới hay xứng đáng với cấp tiến sĩ hay không. Do đó, nghiên cứu sinh cần phải công bố vài bài báo khoa học trên các tập san khoa học quốc tế trước khi viết luận án. Công bố quốc tế là một hình thức “thử lửa” tốt nhất cho nghiên cứu sinh, bởi qua đó đồng nghiệp khắp thế giới có thể thẩm định chất lượng của công trình nghiên cứu và luận án của nghiên cứu sinh.

Thật ra, công bố quốc tế là điều gần như tất yếu trong quá trình học tiến sĩ ở các đại học Âu, Mỹ và Úc, những nơi mà họ khuyến khích (có nơi gần như bắt buộc) nghiên cứu sinh công bố vài bài báo khoa học trước khi viết luận án tiến sĩ. Ở một số nước Bắc Âu, luận án tiến sĩ thực chất là tập hợp một số bài báo khoa học đã công bố trên các tập san quốc tế. Ngày nay, các đại học lớn ở Thái Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Philippines… cũng quy định tương tự.

Ở Việt Nam, người ta nghĩ rằng xong chương trình tiến sĩ là đạt đỉnh cao học thuật, không cần học gì thêm nữa. Quan điểm này hết sức sai lầm. Xong tiến sĩ có thể ví von như là xong học nghề. Người học cần phải trau dồi tay nghề mới có thể trở thành độc lập. Nhưng rất tiếc là đại đa số tiến sĩ được Việt Nam gửi ra ngoài đào tạo chưa qua chương trình hậu tiến sĩ, vì theo quy định họ phải về nước. Vì thế, phần lớn chưa có cơ hội thực tập sau tiến sĩ, và trình độ có khi cũng còn hạn chế. Còn ở trong nước thì không có chương trình hậu tiến sĩ. Theo tôi, cần phải gửi nghiên cứu sinh xong tiến sĩ ra ngoài theo đuổi chương trình hậu tiến sĩ để đào tạo những người này thành nhà khoa học chuyên nghiệp. Điều này có thể không dễ, vì xin được một suất học hậu tiến sĩ rất khó và cạnh tranh ác liệt. Nhưng nếu nghiên cứu sinh có công bố quốc tế trên các tập san tốt thì việc xin nghiên cứu hậu tiến sĩ cũng dễ dàng hơn.

Nước ta có chiến lược đào tạo 20.000 tiến sĩ từ nay đến năm 2020. Hiện nay, theo nhiều nguồn thống kê, Việt Nam đã có 24.000 tiến sĩ. Nhưng trong số này, chỉ có khoảng 7.300 người hay 30% làm việc tại các đại học (niên học 2011 – 2012). Chính con số này giải thích một phần lớn tại sao mức độ hoạt động nghiên cứu khoa học ở Việt Nam chỉ bằng 1/5 của Thái Lan và 1/8 của Singapore, trong khi hai nước đó có số tiến sĩ thấp hơn nước ta. Đã đến lúc phải chấn chỉnh các chương trình đào tạo tiến sĩ trên toàn quốc (chứ không phải chỉ vài nơi) để nâng cao uy tín học thuật nước nhà.

NGUYỄN VĂN TUẤN

Tiêu chuẩn đề nghị cho học vị tiến sĩ

Trong cuốn Chất lượng giáo dục đại học (nhà xuất bản Tổng Hợp, 2011), dựa vào tiêu chuẩn quốc tế và kinh nghiệm cá nhân, tôi đề nghị nghiên cứu sinh phải đáp ứng sáu tiêu chuẩn sau:

– Có kiến thức cơ bản về khoa học, và kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực nghiên cứu mà nghiên cứu sinh theo đuổi;

– Am hiểu các tài liệu nghiên cứu cần thiết về lĩnh vực chuyên môn mình theo đuổi, có khả năng cập nhật hoá kiến thức cũng như tất cả những phát triển mới liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu;

– Phải chứng tỏ kỹ năng phát hiện vấn đề hay đặt câu hỏi có ý nghĩa cho nghiên cứu chuyên ngành của mình;

– Làm chủ được phương pháp nghiên cứu khoa học hay phương pháp thí nghiệm cơ bản;

– Đạt được những kỹ năng về truyền đạt thông tin, kể cả trình bày kết quả nghiên cứu trong các diễn đàn khoa học quốc gia và quốc tế, khả năng viết báo cáo khoa học;

– Nắm vững kỹ năng thiết kế một công trình nghiên cứu và độc lập trong nghiên cứu.

[HOT] Danh sách các GOLD ebooks của diễn đàn docsachysinh.com

Sau đây mình xin tổng hợp danh sách các quyển GOLD ebooks đã có trong kho dữ liệu của diễn đàn docsachysinh.com.

[IMG][IMG][IMG]

[IMG][IMG][IMG]

[IMG][IMG][IMG]

[IMG][IMG]

Xem danh sách đầy đủ tại bài viết của diễn đàn: http://www.docsachysinh.com/forum/index.php?threads/hot-danh-sach-cac-gold-ebooks-cua-dien-dan-docsachysinh-com-all-available.2194/

Không dùng tùy tiện kem thoa có chứa steroid

Không dùng tùy tiện kem thoa có chứa steroid

Steroid được dùng trong y học cho nhiều mục đích trị liệu khác nhau và được sản xuất dưới nhiều dạng bào chế khác nhau. Kem thoa da có chứa steroid là dạng bào chế phổ biến nhất, tuy nhiên đây cũng là loại sản phẩm được dùng bừa bãi nhất.

Steroid vốn là những hoóc-môn có nhiệm vụ “mênh mông bao la” trong cơ thể. Corticosteroid là những dạng của steroid vốn có đặc tính kháng viêm hữu hiệu. Corticosteroid vốn được sử dụng để điều trị những rối loạn về da như chàm, vảy nến, da nổi mẩn… Chúng có thể được bào chế dưới dạng viên dùng để uống, dạng thuốc chích và dạng kem thoa da. Kem thoa da có chứa steroid thường dễ sử dụng đồng thời có tác động nhanh hơn. (Không nên nhầm lẫn corticosteroid với các loại steroid đồng hóa vốn thường được các lực sĩ dùng để tăng cường cơ bắp).

 Không dùng tùy tiện kem thoa có chứa steroid 1

Sử dụng kem thoa steroid bừa bãi làm da bị mỏng, rạn và bị biến đổi màu…

Dạng bào chế dưới dạng kem thoa có chứa steroid sẽ được thoa trực tiếp vào vùng da cần trị liệu. Chúng có nhiều ưu điểm hơn loại thuốc viên dùng để uống. Do thuốc dạng uống  phải “ngao du” trong cơ thể trước khi tới da, do đó thường mang lại một tác động rất chậm so với dạng kem thoa. Dạng kem thoa thì thuốc sẽ được hấp thu ngay qua da và nhờ vậy sẽ cho một tác động nhanh hơn. Kem thoa steroid sẽ giúp làm giảm quá trình viêm và hỗ trợ các rối loạn da, giúp da bớt ngứa, bớt đau… Dù steroid không chữa được căn nguyên của bệnh chàm nhưng chúng có tác dụng làm giảm một phần các triệu chứng của bệnh chàm. Do có tác động giảm ngứa nên kem thoa có steroids sẽ giúp bệnh nhân không gãy da, vốn thường sẽ gây rách da, trầy xước da và càng làm cho bệnh tình càng khó chịu hơn.

Hiệu lực của kem thoa có chứa steroid bởi hàm lượng của steroid có trong sản phẩm cũng như hàm lượng của các chất dầu có trong sản phẩm. Kem thoa steroid được phân thành 7 nhóm tùy theo hiệu lực của chúng. Nhóm 1 bao gồm các loại steroid với hiệu lực tối đa, và nhóm 7 là những loại steroid có hiệu lực thấp nhất.

Thông thường, nếu được bác sĩ kê toa, bác sĩ sẽ cho bệnh nhân dùng kem thoa steroid có nồng độ thấp nhất để xem cơ thể của bệnh nhân phản ứng với thuốc như thế nào. Sau đó hàm lượng steroid sẽ được tăng dần dần nếu lọai kem có hàm lượng steroid ở mức thấp nhất không có “xi nhê” gì. Các bệnh nhân lần đầu mắc bệnh chàm thường được kê hydrocortisone (1%) như là một sự lựa chọn đầu tiên. Khi sử dụng kem thoa có chứa steroid không nên dùng quá một tuần, nếu kem thoa steroid không giúp cải thiện tình trạng bệnh hoặc làm bệnh tình trở nên “bát nháo” hơn thì phải cần phải áp dụng một chế độ trị liệu khác.

Bôi quá nhiều kem thoa steroid và sử dụng chúng trong một thời gian  lâu là một điều vô cùng tác hại. Những loại kem thoa có chứa hàm lượng cao steroid thường được bác sĩ kê cho bệnh nhân dùng trong một thời gian ngắn. Một tuần hoặc 2 tuần chứ không thể lâu hơn. Sử dụng kem thoa steroid bừa bãi sẽ dẫn đến những hậu quả như làm da bị mỏng, da bị biến đổi màu, rạn da… Khi sử dụng kem thoa steroid mà bạn cảm thấy những dấu hiệu trên, bạn cần phải đi khám bác sĩ da liễu ngay, đừng chậm trễ. Những báo cáo y học gần đây còn khuyến cáo rằng nếu sử dụng bừa bãi kem thoa steroid, người sử dụng có thể làm tăng thêm rủi ro bị ung thư.

Steroid thực sự là “của quý”. Vì vậy, cần phải biết giữ gìn, cần sử dụng đúng chỗ và đúng lúc, không được sử dụng tùy tiện. Sử dụng theo kiểu rỉ tai hay “mượn” thuốc từ người thân sẽ mang lại một hậu quả… buồn.

DS. NGUYỄN BÁ HUY CƯỜNG – SKDS

( ĐH Murdoch – ÚC)

Đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam: nhận thức và chất lượng

Đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam: nhận thức và chất lượng

LTS: Những lùm xùm trong việc đào tạo tiến sĩ, mới đây nhất là quyết định đóng cửa một số trung tâm đào tạo tiến sĩ lại chính là cơ hội lý tưởng để nhìn lại vấn đề nổi cộm và bức xúc nhất trong đào tạo tiến sĩ: chất lượng.

Kỳ 1: Dân không trọng, quốc tế không công nhận

SGTT.VN – Học vị tiến sĩ là văn bằng cao nhất trong hệ thống đại học phương Tây. Ở ta, từ cả ngàn năm trước, người đỗ tiến sĩ được xem như những ông nghè, là giới tinh hoa học thuật của nước nhà, do đó hệ thống đào tạo tiến sĩ được thiết lập rất chặt chẽ và nghiêm chỉnh.

Ông nghè về làng: một cách vinh danh sự học của triều Nguyễn. Ảnh: tư liệu

Thế nhưng ở Việt Nam ngày nay, văn bằng tiến sĩ có khi trở thành một đề tài cho công chúng đàm tiếu. Tại sao người dân khinh thường tiến sĩ như thế?

Nhận thức sai

Cách đây khoảng hai năm, Hà Nội đề ra chiến lược đến năm 2012 thành phố sẽ có 50% công chức khối chính quyền có bằng tiến sĩ, và đến năm 2020, 100% công chức diện thành phố quản lý (cấp chi cục trưởng và chi cục phó) có bằng tiến sĩ. Đó là một suy nghĩ rất lạ lùng.
Hà Nội không phải là trường hợp cá biệt với tư duy tiến sĩ hoá công chức như trên; các nơi khác cũng có những chính sách bất thành văn về việc bổ nhiệm cán bộ công nhân viên dựa vào bằng tiến sĩ. Ngày nay, để được đề bạt vào các chức vụ trưởng, giám đốc sở, trưởng khoa ở đại học… thì ứng viên phải có bằng tiến sĩ. Có trường hợp người ta bổ nhiệm nhân sự rồi, và tìm cách “hợp thức hoá” (tức kiếm bằng tiến sĩ cho họ). Văn bằng tiến sĩ không còn mang tính học thuật, mà là một phương tiện đạt được cứu cánh làm quan.

Nhận thức về bằng tiến sĩ như trên là một sai lầm. Có thể nói ngắn gọn rằng chương trình đào tạo tiến sĩ là để cung cấp cho xã hội những nhà khoa học chuyên nghiệp và giáo sư đại học tương lai. Văn bằng tiến sĩ có thể ví von là một “giấy thông hành” của nhà khoa học. Mục tiêu số một của chương trình học tiến sĩ là đào tạo các nhà khoa học chuyên nghiệp, những người am hiểu chuyên sâu một lĩnh vực nào đó, có khả năng phát hiện, thiết kế thí nghiệm hay nghiên cứu giải quyết vấn đề, có khả năng phân tích và diễn giải kết quả nghiên cứu, có khả năng truyền đạt kết quả nghiên cứu đến đồng nghiệp trong chuyên ngành và công chúng. Không phải nhà khoa học chuyên nghiệp nào cũng cần bằng tiến sĩ (vì người không có bằng tiến sĩ vẫn có thể là những nhà khoa học rất tốt), nhưng người có bằng tiến sĩ thường chỉ theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu khoa học.

Văn bằng tiến sĩ thường thích hợp cho những người muốn theo đuổi sự nghiệp khoa bảng, ở đây được hiểu là giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học. Cố nhiên, ở nhiều đại học phương Tây, vẫn có người có thể trở thành giáo sư dù không có học vị tiến sĩ, nhưng những trường hợp như thế ngày càng hiếm. Phần lớn giáo sư đại học có học vị tiến sĩ, nhưng chỉ một số rất ít người có bằng tiến sĩ có thể trở thành giáo sư.

Nhận thức không đúng về ý nghĩa và mục tiêu đào tạo tiến sĩ dẫn đến một vấn đề lớn hơn: chất lượng đào tạo. Ngoại trừ một số ít chương trình đào tạo nghiêm túc, ấn tượng chung là cách thức đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam còn tồn tại khá nhiều vấn đề mang tính cơ cấu, quy trình, và học thuật.

Cơ cấu và mô hình đào tạo

Thứ nhất là vấn đề liên quan người hướng dẫn nghiên cứu. Ở Việt Nam, có quy định đơn giản như người có bằng tiến sĩ ba năm trở lên có thể hướng dẫn luận án tiến sĩ. Nhưng trong thực tế, mới có bằng tiến sĩ ba hay năm năm thì cũng mới ở giai đoạn hậu tiến sĩ, làm sao có thể hướng dẫn tiến sĩ (ngoại trừ người đó là một thiên tài, hay tiến sĩ ngoại hạng). Và cho dù đã tốt nghiệp tiến sĩ mười năm hay 20 năm mà không nghiên cứu khoa học thì không thể có tư cách hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ.

Lại có quy định với chức danh phó giáo sư hay giáo sư thì đủ tư cách hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ. Trong thực tế, những người có tư cách hướng dẫn nghiên cứu sinh không chỉ cần có chuyên môn cao, có tên tuổi trong chuyên ngành (qua công bố quốc tế), mà còn phải có chương trình nghiên cứu riêng. Không có chương trình nghiên cứu riêng, nghiên cứu sinh chẳng khác gì người lang thang trong rừng khoa học, mất định hướng nghiên cứu, loay hoay với những đề tài mang tính “me too” (bắt chước người khác một cách máy móc), không xứng với luận án tiến sĩ.

Thứ hai là mô hình và thời gian đào tạo. Đại đa số các chương trình đào tạo tiến sĩ ở nước ngoài là theo “mô hình tập trung”, nghiên cứu sinh phải dành toàn thời gian cho nghiên cứu tại một trung tâm khoa học. Nhưng ở Việt Nam, phần lớn nghiên cứu sinh chỉ theo học bán thời gian. Họ làm việc toàn thời gian, và tiêu rất ít thì giờ cho việc nghiên cứu tại trung tâm họ ghi danh theo học! Điều này dẫn đến tình trạng có nhiều nghiên cứu sinh phải “tự bơi”, rất ít khi nhận được hỗ trợ trực tiếp và có ý nghĩa từ người hướng dẫn. Có khi người hướng dẫn chỉ đứng tên, mà chẳng có đóng góp đáng kể vào việc hỗ trợ khoa học cho nghiên cứu sinh. Trong nhiều ngành, phần lớn nghiên cứu sinh chỉ hệ thống hoá những gì họ đang làm thường ngày thành một… luận án!

Thời gian đào tạo một tiến sĩ thường tốn khoảng bốn năm. Ở Úc, nếu học bán thời gian (số này rất ít) phải tốn từ 5 – 6 năm. Thế nhưng ở Việt Nam, có quy định nghiên cứu sinh đã có bằng thạc sĩ chỉ cần tiêu ra hai năm học tiến sĩ. Với một thời gian ngắn như thế, rất khó có thể đào tạo một tiến sĩ theo chuẩn mực mà quốc tế công nhận.

NGUYỄN VĂN TUẤN – SGTT

(còn một kỳ)

Lịch sử văn bằng tiến sĩ

Tuy có danh chính thức là triết học (“doctor of philosophy” hay PhD) nhưng tiến sĩ không hẳn là người học về triết. Theo bộ luật La Mã, vào thời trung cổ, mỗi ngành nghề có quyền thành lập một hiệp hội gọi là “collegium”, và hiệp hội này bầu ra những người có danh hiệu “magistrates” (tạm dịch là “thầy”). Sau khi xong văn bằng bachelor, thí sinh có thể theo học tiếp chương trình master hay doctor. Và sau khi đã xong chương trình học khoảng tám năm, một hội đồng giám khảo sẽ duyệt xét thí sinh để kết nạp vào tổ chức được gọi là Universitas of Doctors. Sự kết nạp này cũng là một “chứng chỉ” được hành nghề dạy đại học. Lúc bấy giờ, những danh xưng như master, doctor và professor có cùng nghĩa và tương đương về giai cấp: hành nghề dạy học. Vào thế kỷ 13, những người dạy tại đại học Bologna, lúc đó là trung tâm huấn luyện về luật pháp bên Âu châu, được gọi là doctor. Trong khi đó ở đại học Paris, là trung tâm về văn học nghệ thuật, những người dạy học được gọi là master.

Ở Anh và Mỹ, văn bằng doctor sau này được đánh giá cao hơn master. Ở Anh, hai đại học Oxford và Cambridge được mô phỏng theo hệ thống tổ chức của đại học Paris, do đó các nhà khoa bảng các môn văn hoá nghệ thuật thường được gọi là master, trong khi các đồng nghiệp của họ trong các môn học như triết, thần học, y học, và luật được gọi là doctor. Ngày nay, các tên bằng cấp như Master of Arts và Doctor of Philosophy có nguồn gốc từ sự phân chia này.

Phương Đông có văn bằng tiến sĩ từ lâu. Vào năm 1313 (triều đại nhà Tống – Trung Hoa), một cuộc thi tuyển đặt dưới sự chủ toạ của vua được tổ chức. Qua kỳ thi này, có 300 thí sinh được cấp danh hiệu tiến sĩ.

Người bác sĩ đã chết để nhân loại được sống

Người bác sĩ đã chết để nhân loại được sống

Ngày này 10 năm về trước, cả thế giới hoảng loạn về đại dịch SARS. Bác sĩ Carlo Urbani (người Italy) đã đến Việt Nam, dành trọn tâm sức, trí tuệ để đẩy lùi căn bệnh đang đe dọa sự sống toàn cầu.

 Bệnh viện Việt – Pháp: Cuộc chiến cam go với căn bệnh lạ

 SARS – mối đe dọa đặc biệt nghiêm trọng với y tế toàn cầu

Ngày 29/3/2003, bác sĩ Carlo trút hơi thở cuối cùng. Nói về sự ra đi của ông, Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc khi đó là Kofi Annan đã viết: Carlo ra đi trong niềm tiếc thương vô hạn của đại gia đình Liên Hợp Quốc. Ông đã dành trọn đời mình cho sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ, cứu sống người bệnh. Carlo là người đã có công trong việc phát hiện sớm dịch SARS. Trớ trêu thay, khi Carlo đang nỗ lực giành giật từng bệnh nhân khỏi lưỡi hái tử thần thì chính căn bệnh quái ác ấy đã cướp đi mạng sống của ông…”

Bà Pascale Brudon, đại diện Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ở Việt Nam nhấn mạnh: “Carlo là một con người tuyệt vời, nếu không có ông có lẽ tất cả chúng ta đều bị dịch SARS tàn phá”.

Bác sĩ Carlo Urbani. Ảnh: thefamouspeople.com
Bác sĩ Carlo Urbani. Ảnh: thefamouspeople.com

Carlo Urbani – người đầu tiên nhận diện Hội chứng hô hấp cấp nặng (SARS)

Ngày 26/2/2003, bác sĩ Carlo Urbani được mời đến Bệnh viện Việt Pháp (Hà Nội) để khám cho một bệnh nhân viêm phổi. Ông đã sớm nhận ra sự bất thường và ngay lập tức cảnh báo cho WHO, đồng thời cùng Bộ Y tế Việt Nam thúc đẩy việc lập hàng rào cách ly ngăn chặn dịch bệnh lây lan.

Bệnh SARS được phát hiện đầu tiên vào tháng 3 năm 2003, khi Bệnh viện Việt – Pháp (Hà Nội) tiếp nhận một bệnh nhân nước ngoài mắc bệnh lạ. Kể từ đó, SARS đã giết chết 774 người trong tổng số hơn 8.000 ca nhiễm trên toàn thế giới. Ở Việt Nam, dịch đã hoành hành trong 45 ngày, gây nhiễm 65 người, làm 5 người tử vong.Dịch khởi phát từ Hong Kong, nhưng ở thời điểm đó các chuyên gia y tế đang nghi là cúm gia cầm. Chỉ trong thời gian ngắn, SARS vượt khỏi biên giới Hong Kong lan tới 37 quốc gia. Người nhiễm bệnh nhanh chóng suy hô hấp, suy đa phủ tạng và tử vong. Sau khi nhận được sự cảnh báo của bác sĩ Carlo

từ Việt Nam, nỗi hoảng loạn bao trùm thế giới. Ở những quốc gia có dịch SARS, khẩu trang y tế bán chạy nhất, trường học đóng cửa, nhà hàng đóng cửa, các trung tâm mua sắm vắng hoe, sản xuất bị đình trệ, người nước ngoài bỏ về nước…

Bác sĩ Carlo cũng được cảnh báo sự nguy hiểm, ông hoàn toàn có quyền và có lý do để về nước. Nhưng Carlo không bận tâm, ông thường xuyên túc trực bên giường bệnh, an ủi động viên và tìm cách chữa trị cho bệnh nhân. Là một chuyên gia bệnh truyền nhiễm, bằng những nghiên cứu đầu tiên của mình ở Việt Nam, Carlo đã giúp các đồng nghiệp nhanh chóng xác định virus gây bệnh.

sars-jpg-1364446429_500x0.jpg
Cuối tháng 3/2003, cả thế giới báo động vì căn bệnh bí ẩn sau được gọi tên là SARS, khắp nơi khẩu trang bán chạy như tôm tươi, nhiều nước đã phải ra lệnh cấm xuất nhập cảnh. Ảnh: AP.

Tạp chí Y khoa danh tiếng The Lancet viết: Biết rằng công việc của mình đang làm là nguy hiểm, nhưng Carlo Urbani nói với vợ “Nếu không làm những công việc này thì chúng ta đến đây để làm gì? Chẳng lẽ ngồi đọc thư điện tử, ký văn bản giấy tờ, đi dự tiệc? Chúng ta không được ích kỉ, mà phải suy nghĩ và hành động vì sự sống của người khác”.

Trung tuần tháng 3/2003, bác sĩ Carlo đi dự hội nghị khoa học ở Thái Lan. Vừa đặt chân xuống sân bay, ông thấy người mệt mỏi và sốt. Là người tiếp xúc trực tiếp và đối phó với căn bệnh SARS, Carlo hiểu rất rõ điều gì đang đến với mình. Một đồng nghiệp là bạn thân của ông đã lao đến ôm. Nhưng Carlo gạt đi, yêu cầu người bạn tránh xa, rồi ông kiên nhẫn đợi xe cứu thương đến.

Bà Giuliani Chiorrini đưa các con đến Bangkok, qua cửa kính, Carlo kịp nhìn mặt vợ con lần cuối, trong đó có đứa con út vừa tròn 4 tuổi.

Trong một khoảnh khắc tỉnh táo, đồng nghiệp thông báo cho Carlo cơn sốt của ông đã hạ. Nhưng Carlo không hề ảo tưởng, ông biết SARS đã không tha mạng sống cho ông. Tâm nguyện trước khi nhắm mắt, Carlo đề nghị các bác sĩ cắt lá phổi của mình để lại làm tiêu bản nghiên cứu. Và ông mãn nguyện: “Công việc liên quan đến tôi, dù nguy hiểm nhưng tôi thấy thoải mái, giờ đây tôi đã có tất cả”.

Sau khi Carlo mất 2 tuần, virus Corona đã được chỉ mặt vạch tên, đại dịch SARS được khống chế.

“Nhiệm vụ của bác sĩ là đến bên người bệnh”

Đó là câu nói giản dị của bác sĩ Carlo khi ông đại diện cho Tổ chức Bác sĩ Không biên giới lên nhận giải Nobel hòa bình tại Stockholm (Thụy Điển) năm 1999. Câu nói này đã trở thành triết lí cho tất cả những nhân viên y tế đang khoác trên mình tấm áo choàng trắng.

Bác sĩ Carlo là người yêu cái đẹp, ông dành tình cảm đặc biệt cho âm nhạc, yêu thích hầu hết các bộ môn nghệ thuật. Nhưng trong sâu thẳm trái tim, bác sĩ Carlo còn có một tình yêu vĩ đại khác: đó là tình yêu thương vô bờ dành cho con người. Tuổi trẻ của bác sĩ Carlo gắn với công việc từ thiện, nhất là những người bị tật nguyền. Khi trở thành bác sĩ, những kì nghỉ hè thay vì đi du lịch hưởng thụ, Carlo tranh thủ khoác ba lô đầy thuốc đến châu Phi.

Ông nhận thấy, ở những quốc gia nghèo đói như châu Phi, nguyên nhân tử vong chính lại đến từ những căn bệnh hoàn toàn có thể chữa khỏi một cách đơn giản. Ông thất vọng mỗi khi chứng kiến bệnh nhân không phải chết vì bệnh lạ, mà chết vì những căn bệnh thông thường như tiêu chảy cấp hay viêm phổi, bởi không ai chịu mang thuốc đến cho người bệnh.

Sau bao ngày trăn trở, Carlo quyết định dời bệnh viện để trở thành chuyên gia của Tổ chức Y tế Thế giới mang thuốc đến cho người bệnh nghèo. Bạn bè coi việc Carlo gia nhập các bác sĩ WHO giống như việc ông từ bỏ cuộc sống giàu sang để quay lại thế giới của người nghèo.

Trong thời gian ở Việt Nam, bác sĩ Carlo tập trung nghiên cứu và điều trị bệnh giun đũa, một căn bệnh trở thành nỗi ám ảnh với ông. Carlo luôn băn khoăn tự hỏi: chỉ cần vài nghìn tiền thuốc, mỗi năm uống 2 lần là tất cả trẻ em đều hết bệnh giun, cơ thể không bị hao mòn, vậy mà tại sao rất ít người chịu làm? Một đồng nghiệp của Carlo, bác sĩ Palmer nhận xét: “Giun đũa không có gì hấp dẫn, nhưng hầu hết trẻ em xứ nhiệt đới đều mắc, còn bác sĩ Carlo là kẻ chống giun đũa quá khích”.

Ở Hà Nội, bác sĩ Carlo tự đi xe máy. Thỉnh thoảng ông đưa vợ con về các làng quê, sống cùng những người nông dân chân lấm tay bùn.

Tưởng nhớ đến ông, Tổng thống Italy Azeglio Ciampi từng nói: Ngành Y tế Thế giới có bổn phận ghi nhớ một vị bác sĩ anh hùng, một công dân can đảm, một người cha gia đình, một người chồng gương mẫu đã bị cướp đi bởi một căn bệnh kinh khủng do chính ông đang lần tìm ra nguyên nhân…

Trần Văn Phúc (tổng hợp từ The Lancet; UN News Centre; WHQ)

Theo Vnexpress

45 quyển ebook Nội khoa tuyển chọn của DSYS

45 quyển Nội khoa tuyển chọn của DSYS

Liên tục cập nhật ebook Nội khoa mới!!!

Sau đây là mục lục các quyển sách về Nội khoa tổng quát mà mình có. Link download các bạn xem ở các post phía dưới (đang cập nhật).

1. A Pocket Manual of Differential Diagnosis 5th
2. A Clinical Approach to Medicine 2nd
3. ABC of Emergency Differential Diagnosis
4. Atlas of Internal Medicine 2nd
5. Case Files Internal Medicine 3rd
6. Conn’s Current Therapy 2012
7. Crash Course Internal Medicine
8. Current Clinical Medicine 2nd
9. CURRENT Medical Diagnosis and Treatment 2012
10. Davidson’s Principles and Practice of Medicine 21st
11. Encyclopedia of Diseases and Disorders
12. Essential Evidence-based Medicine 2nd
13. Ferri’s Color Atlas and Text of Clinical Medicine
14. First Aid for the Internal Medicine Boards 3rd
15. Foundations of Evidence-Based Medicine
16. Goldman’s Cecil Medicine 24th
17. Handbook of Diseases 3rd
18. Internal Medicine – Just The Facts
19. Internal Medicine (Cambridge Pocket Clinicians)
20. Internal Medicine – Essentials for Clerkship Students 2
21. Kochar’s Clinical Medicine for Students
22. Kumar & Clarks Clinical Medicine, 7th
23. Lange Q_A – Internal Medicine, 4th
24. Mayo Clinic Internal Medicine 8th
25. Mayo Clinic Medical Manual
26. Medical Secrets 5th
27. Medicine Recall 4th 2011
28. MKSAP.15 Medical Knowledge Self-Assessment Program
29. Molecular Diagnostics 2nd
30. NMS Medicine 7th
31. Own the Boards: Rapid Internal Medicine Board Review and Recertification Guide
32. Oxford Handbook of Clinical Diagnosis 2nd
33. Oxford Handbook of Clinical Medicine 7th
34. Oxford Textbook of Medicine 5th 2010
35. Rapid Differential Diagnosis (đang cập nhật)
36. Strategies for Managing Multisystem Disorders
37. Taylor’s 10-Minute Diagnosis Manual – Symptoms and Signs in the Time-Limited Encounter 2nd
38. The Cleveland Clinic Intensive Review of Internal Medicine 5th
39. The Gale Encyclopedia of Medicine 4th 2011
40. The Osler Medical Handbook
41. The Internal Medicine Work-Up
42. UXL Encyclopedia of Diseases and Disorders
43. Washington Manual of Outpatient Internal Medicine
44. Toronto Notes 2012
45. Textbook of Medicine 4th

Download tất cả chỉ cần đăng kí thành viên tại đây.
P.S. Các quyển Harrison thì các bạn xem link download đầy đủ tại bài viết Trọn bộ sách Nội Khoa Harrison’scủa Admin nhé

Học – Dịch Sinh lý học DSYS

Học – Dịch Sinh lý học DSYS

Sinh lý học là môn học nền tảng về mặt chức năng của Y khoa. Ý thức được tầm quan trọng của môn học này, diễn đàn của chúng ta tiếp tục mở ra cuộc thi “Học – Dịch Sinh lý học – DSYS” để tạo ra một sân chơi và cũng là điều kiện để chúng ta có thể thảo luận nhiều hơn về môn học này.

[IMG]

Thể lệ:

Đăng kí theo đội – nhóm – cá nhân đều được ngay tại dưới bài viết này. Cuộc thi vẫn sẽ diễn ra dù có 1 người đăng kí.

Mỗi một đợt (3 – 4 tuần) các bạn cần hoàn thành tất cả các bài dịch (và sẽ tốt hơn nếu có bài tóm lược) của chủ đề được giao.

Bài dự thi phải được trình bày sáng sủa, tiếng Việt chuẩn và chấm, phẩy phù hợp.

Phần thưởng:

Một quyển Ebook khó tìm hoặc thuộc hàng “top” do Ban quản trị trao tặng. Các bạn có thể xem thêm danh sách ebook tại đây.

Thành quả của các bạn sẽ được đăng lên trang chủ DSYS để chia sẻ với tất cả mọi người. Tên để từng cá nhân hoặc theo nhóm nếu các bạn thích.

 

Xem thêm thông tin và cách thức dự thi tại đây.

Lưng luôn thẳng thì đời mới vui – thoát vị đĩa đệm

Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng là một loại bệnh lý rất thường gặp, tuy không làm chết người nhưng có thể gây đau và tàn phế, ảnh hưởng đến sinh hoạt, lao động và giao tiếp xã hội.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thoát vị đĩa đệm cột sống vùng thắt lưng như lao động nặng lâu ngày, nhấc một vật nặng quá đột ngột và sai tư thế, gây tác động mạnh đến vòng xơ bao quanh đĩa đệm (khi vòng xơ bị vỡ, nhân đệm lồi ra sau chèn ép rễ thần kinh); cũng có khi nhân nhày chui qua các khe hở dây chằng dọc sau vào trong ống sống, chèn ép rễ thần kinh và chùm đuôi ngựa làm rối loạn vận động và cảm giác, đôi khi ảnh hưởng đến cơ vòng gây tiểu khó, triệu chứng thường gặp trong các thoát vị đĩa đệm chui vào trong ống sống chèn ép chùm đuôi ngựa như một giả u (trường hợp này phải mổ cấp cứu).

Chẩn đoán

Trong toàn bộ cột sống, thoát vị đĩa đệm vùng thắt lưng chiếm vị trí hàng đầu, kế đến là vùng cổ. Thoát vị đĩa đệm cột sống vùng thắt lưng, thường gặp nhất là L4-L5 và L5-S1. Đau rễ thần kinh L4, L5 và S1 thường do thoát vị đĩa đệm vùng thắt lưng. Ngoài ra, cũng có một số trường hợp đau các rễ L4, L5 và S1 do hẹp ống sống, điều này có thể chứng minh rõ trên cộng hưởng từ (MRI). Đa số những trường hợp này do lỗ thần kinh bị hẹp chèn ép rễ thần kinh L4, L5 hoặc S1, lỗ thần kinh hẹp thường do phì đại mặt khớp trên, dày dây chằng vàng, đôi khi có lồi nhẹ đĩa đệm hoặc có chồi xương, thường liên quan đến những bệnh nhân thoái hoá cột sống trong nhiều năm. Nói chung, khi có đau vùng thắt lưng lan xuống hai chân hoặc một chân, đôi khi kèm theo tê hoặc không tê chân thì nên làm cộng hưởng từ (MRI) để chẩn đoán chính xác, rồi từ đó thầy thuốc chuyên khoa tư vấn phương pháp điều trị hợp lý nhất.

Khi nào cần phẫu thuật?

Điều trị thoát vị đĩa đệm vùng thắt lưng không phải lúc nào cũng áp dụng phương pháp ngoại khoa (mổ). Đa số các trường hợp phải được điều trị nội khoa (dùng thuốc) từ 3 – 4 tuần, nếu trong thời gian điều trị nội khoa đáp ứng trên 50% là có thể chấp nhận tiếp tục dùng thuốc, nhưng không nên dùng nhiều loại thuốc giảm đau ảnh hưởng đến bao tử và giữ nước làm cho người trở nên mập. Ngoại khoa chỉ được chỉ định sau khi điều trị thuốc không hiệu quả.

Quyết định can thiệp phẫu thuật phải dựa vào hai yếu tố chính: trên lâm sàng có dấu hiệu đau rễ thần kinh điển hình; cộng hưởng từ (MRI) có dấu hiệu rõ ràng của thoát vị đĩa đệm. Các chỉ định phẫu thuật trong trường hợp thoát vị đĩa đệm thắt lưng bao gồm: thoát vị đĩa đệm thắt lưng kèm đau rễ điển hình (đau một hoặc hai chân); thoát vị đĩa đệm thắt lưng kèm teo cơ cẳng chân và tê ở bàn chân – ngón chân; nhân đệm nằm trong ống sống như một khối u; hẹp lỗ thần kinh nặng biểu hiện rõ trên cộng hưởng từ kèm đau rễ và tê chân điển hình. Cho đến nay, hai phương pháp ngoại khoa được áp dụng rất phổ biến trên thế giới để điều trị thoát vị đĩa đệm vùng thắt lưng mang lại kết quả rất tốt là vi phẫu thuật loại bỏ nhân đệm và lấy nhân đệm qua nội soi.

Phòng ngừa

Đau vùng thắt lưng xảy ra thường xuyên ở người trên 40 tuổi, khi cột sống dễ bị thoái hoá, các khối cơ dọc cột sống ở phía sau rất dễ bị kích thích làm đau vùng thắt lưng, thậm chí đau lan đến vùng lưng gây ra khó khăn trong đi lại hoặc khi nằm nghỉ, hoặc đau tăng lên khi làm việc lâu ngày hoặc ngồi lâu tại bàn làm việc. Đối với những người có cột sống bị thoái hoá, dân gian thường cho là cột sống mọc gai hoặc mặt khớp của đốt sống bị viêm làm ảnh hưởng đến lao động chân tay hoặc làm việc ở văn phòng. Đôi khi những người này ngồi lâu trên bàn làm việc cũng bị đau vùng thắt lưng. Những trường hợp đau này nếu đứng dậy đi lại tới lui trong vòng 10 – 15 phút cho các cơ cạnh cột sống không bị co thắt thì cơn đau sẽ giảm và có thể tiếp tục công việc trở lại.

Người lớn tuổi luôn phải giữ khối cơ cạnh cột sống trong tình trạng tối ưu như căng giãn khối cơ này một cách chậm chạp và điều hoà, không có những động tác quá đột ngột làm cho khối cơ đó quá kích thích dẫn đến co thắt dữ dội gây đau. Nên tập thể dục mỗi ngày như bơi lội, đi bộ tốc độ hơi nhanh, cũng có thể chạy bộ. Buổi sáng là thời gian lý tưởng nhất để vận động bởi lưng người lớn tuổi sau một đêm nằm ngủ không hoạt động thì các khối cơ cạnh cột sống trở nên cứng, đó là lý do nhiều người than phiền khi ngủ dậy không thể ngồi hay đứng lên ngay được, phải ngồi dậy và đứng lên từ từ để các khối cơ vùng thắt lưng hoạt động trở lại và mềm mại hơn (thông thường phải mất 15 – 30 phút). Người ta ước tính áp lực bên trong đĩa đệm sẽ tăng 200% khi chuyển từ tư thế nằm nghiêng sang đứng, và giảm nhanh 400% khi ngồi ở ghế với tư thế thoải mái. Cho nên, biết chọn tư thế ngồi đúng và dễ chịu sẽ làm giảm áp lực trong đĩa đệm, từ đó tránh được đau lưng và gây lồi đĩa đệm.

Khi chúng ta nhấc một vật nặng, nếu để lưng và thắt lưng cong (gập lại), sau đó có thể bị đau vùng thắt lưng, thậm chí bị thoát vị đĩa đệm vùng thắt lưng. Đối với người đã bị đau vùng thắt lưng mãn tính, động tác sai tư thế như trên thậm chí có thể làm đĩa đệm chui vào trong ống sống gây chèn ép nặng rễ thần kinh và chùm đuôi ngựa, đôi khi không thể đi lại được hoặc đau dữ dội với bất cứ tư thế nào. Những trường hợp này cần phải được các thầy thuốc chuyên khoa ngoại thần kinh và cột sống tư vấn sau khi chẩn đoán xác định bằng cộng hưởng từ (MRI), phương tiện chẩn đoán chính xác loại bệnh lý này.

PGS.TS.BS VÕ VĂN NHO

Scientists pave the way toward describing the conformation of proteins that do not have a defined structure

Scientists pave the way toward describing the conformation of proteins that do not have a defined structure 

Researchers with the joint program between IRB Barcelona and the Barcelona Supercomputing Center (BSC) have devised a new strategy to study the shape of proteins.

This study has been led by Modesto Orozco, head of the Molecular Modeling and Bioinformatics Group, and Xavier Salvatella, head of the Molecular Biophysics Group, both ICREA scientists at IRB Barcelona. According to Orozco, also senior professor of the University of Barcelona and director of the Life Sciences Department at BSC, “by combining computational modeling and experimental physicochemical techniques, we have revealed the structures of proteins, which, until now, were unachievable because of technical barriers”.

The results are available from today in the electronic version of the prestigious journal Proceedings of the National Academy of Sciences (PNAS). Developed at IRB Barcelona, this project represents an advance in protein structure research. The first author, the Italian PhD student Michela Candotti, says, “knowing the shape that proteins have is essential to perform any analysis. A wire can be a paperclip, a staple or a spring, depending how it is folded”. This remark is especially relevant given the multi-functional nature of many proteins.

Scientists pave the way toward describing the conformation of proteins that do not have a defined structure

Graphic showing the enrichment of urea around the protein, favoring its unfolding (urea appears as violet and water as orange). Credit: M Candotti, IRB Barcelona The study has several scientific implications, which can be summarized in the following three points. First of all, the researchers have described the chemical mechanisms by which compounds such as urea unfold proteins.

“This was a debate that started in the 60s, and with this work it can now be considered closed”, explains Orozco. Furthermore, they have established a new strategy that will allow them to decipher the conformation of the Intrinsically Disordered Proteins (IDP). IDPs are a group of proteins without a rigid structure that comprise a large part of the proteome; however, little is known about them. “Our results will contribute to research into diseases that involve IDPs, such as cancer, Parkinson’s or Alzheimer”, asserts Salvatella. Finally, the scientists have identified the first steps in protein folding, another topic that is widely contended. More information: Candotti, M. et al. Towards an atomistic description of the urea-denatured state of proteins, Proceedings of the National Academy of Sciences (PNAS) (2013) online Early Edition the week of March 25.

Physorg

Enzymes allow DNA to swap information with exotic molecules

Enzymes allow DNA to swap information with exotic molecules

The discovery of the Rosetta Stone resolved a longstanding puzzle, permitting the translation of Egyptian hieroglyphs into Ancient Greek. John Chaput, a researcher at Arizona State University’s Biodesign Institute has been hunting for a biological Rosetta Stone—an enzyme allowing DNA’s 4-letter language to be written into a simpler (and potentially more ancient) molecule that may have existed as a genetic pathway to DNA and RNA in the prebiotic world.

Research results, which recently appeared in the Journal of the American Chemical Society, demonstrate that DNA sequences can be transcribed into a molecule known as TNA and reverse transcribed back into DNA, with the aid of commercially available enzymes. The significance of the research is three-fold: It offers tantalizing clues about how DNA and RNA—which encode the building plans for all earthly life—may have arisen from more primitive information-carrying molecules Contributes to the field of exobiology—the search for alternative life forms elsewhere in the universe Points to possible applications for TNA and other unusual nucleic acid molecules (known as xenonucleic acids or XNAs) in molecular medicine.

In the case of biomedical applications, XNAs may be developed into aptamers—molecular structures that can mimic the properties of naturally occurring polymers, folding into a variety of 3-dimensional forms and binding with selected targets. Aptamers are useful for a range of clinical applications including the development of macromolecular drugs. “TNA is resistant to nuclease degradation, making it an ideal molecule for many therapeutic and diagnostic applications,” Chaput says. The structural plans for organisms ranging from bacteria to primates (including humans) are encrypted in DNA using an alphabetic code consisting of just A, C, T & G, which represent the 4 nucleic acids. In addition to their information-carrying role, DNA and RNA possess two defining properties: heredity, (which allows them to propagate their genetic sequences to subsequent generations) and evolution, (which allows successive sequences to be modified over time and to respond to selective pressure). The chemical complexity of DNA has convinced most biologists that it almost certainly did not arise spontaneously from the prebiotic soup existing early in earth’s history. According to one hypothesis, the simpler RNA molecule may at one time have held dominion as the sole transmitter of the genetic code. RNA is also capable of acting as an enzyme and may have catalyzed important chemical reactions leading eventually to the first cellular life.

But RNA is still a complex molecule and the search for a simpler precursor that may have acted as a stepping-stone to the RNA, DNA and protein system that exists today has been intense. A variety of xenonucleic acids are being explored as candidates for the role of transitional molecule. In the current study, threose nucleic acid or TNA is investigated. Chaput says that establishing TNA as a progenitor of RNA would require demonstrating that TNA can perform functions that would help support a pre-RNA world. Of particular importance, would have been the ability replicate itself in the absence of protein enzymes. Like DNA, TNA can form double-helices—spiral staircase structures consisting of the 4 nucleotide bases, which make up the ladder-like rungs, and a sugar and phosphorus backbone, which forms the ladder’s railing. The sugar portion of this backbone is a defining component of the nucleic acid. DNA uses deoxyribose, RNA uses ribose and TNA uses threose.

Both DNA and RNA have sugars containing five carbon atoms, but TNA’s threose sugar contains only four. This enables TNA to assemble from just two identical carbon units, making it far easier to form under the non-biological conditions than RNA or DNA. Despite TNA’s chemical distinctiveness, it is similar enough to DNA and RNA to be able to interact with these familiar molecules and exchange information. In addition to forming helices, TNA segments can bind with complementary DNA and RNA strands through Watson-Crick base pairing, thus making TNA an alternate self-replicating entity. The study of TNA and other artificially-produced genetic polymers is part of a rapidly emerging discipline known as synthetic genetics. Powerful tools allow for high-throughput production of molecules with specified traits, built from xenonucleic acid molecules like TNA. In the current study, Chaput and his research team demonstrate that certain commercially available enzymes can facilitate the transcription of DNA sequences into TNA and back again into DNA and that the TNA sequences can be induced to evolve under the influence of environmental cues. The process is known as in vitro selection. To accomplish this, large pools of TNA molecules are produced from DNA templates and then exposed to a particular molecular target. The small fraction of the random-sequence TNA strands structurally capable of binding with the target are extracted and reverse-transcribed back into DNA, then amplified using polymerase chain reaction (PCR). The process can be repeated, allowing for significant enrichment of the desired aptamer.

Indeed, the authors note that a single round of selection in their experiment produced a 380-fold enrichment from an original library of 1014 DNA templates. The authors note that the method is therefore capable of pinpointing and enriching a particular aptamer of predefined function from a staggering 1015 non-functional sequences. (One potential benefit of constructing aptamers from TNA is improved stability—natural enzymes that rapidly break down DNA and RNA do not degrade them.) Prior to the current study, researchers had been frustrated that only severely abbreviated lengths of DNA could be faithfully transcribed into TNA. The limiting factor in the process was an effective enzyme to guide the accurate transcription of the DNA message. In the case of normal biological transcription, DNA is transcribed into RNA with the help of a specific enzyme known as DNA polymerase. Such naturally occurring polymerases, Chaput points out, are highly specific, and don’t work well for DNA to TNA transcription or reverse transcription. Recent advances in protein engineering however, have produced a new breed of synthetic polymerases. In the current study, one of these—known as Therminator DNA polymerase, faithfully transcribed a 70 nucleotide DNA sequence into TNA, while another, known as SuperScript II (SSII) performed reverse-transcription back into DNA with impressively high fidelity.

Sequences of both 3-letter and 4-letter DNA messages were transcribed and reverse transcribed, both with over 90 percent accuracy. The research paves the way for more sophisticated manipulation of TNA and other xenonucleic acids and may strengthen the case that TNA or a closely related molecule set the stage for the emergence of RNA and the first earthly life. Given the enormous potential for this research for the fields of synthetic biology, exobiology and medicine, it is likely that XNAs will be produced in greater abundance by large chemical laboratories. Currently, the synthesis and purification of nucleoside triphosphates needed to form XNA backbones remains a delicate and labor-intensive process.


Phyorg