Trang chủ www.docsachysinh.com

Ebook online

Đọc sách Y sinh || www.docsachysinh.com || Microworld - Macromind

 

CÁC KHIẾM KHUYẾT TÍN HIỆU VÀ BỆNH TẬT

Phùng Trung Hùng - Nguyễn Phước Long 

Tổng quan

Có nhiều bệnh tật sinh ra do các khiếm khuyết về lộ trình tín hiệu trong tế bào và biểu hiện cũng vô cùng phong phú. Các sinh vật gây bệnh hay virus có thể can thiệp vào các quá trình truyền tin và gây ra sự rối loạn sau đó. Mục “Hiện tượng tái cấu trúc hệ thông tin và bệnh tật” sẽ cho chúng ta cái nhìn tổng quan về cơ chế gây ra sự khiếm khuyết thông tin và các bệnh tương ứng. Các bệnh nặng ở người như cao huyết áp, bệnh tim mạch, đái tháo đường và các thể rối loạn tâm thần  đều có liên quan đến sự nảy sinh của các lộ trình điều chỉnh kiểu hình  một cách tinh vi (phenotypic modification of signaling pathways). Khi sự điều chỉnh này xảy ra, hiện tượng tái cấu trúc kiểu hình gây ra các biến đổi hoạt động chức năng của tế bào và rồi dẫn đến tình trạng bệnh tật. Thật sự rất khó để có thể thiết lập được chính xác mối quan hệ giữa các khiếm khuyết thông tin dẫn đến bệnh tật. Tuy nhiên, đã có một số ít các quá trình được hiểu tương đối có hệ thống và đã mang lại thành công trong các phương pháp điều trị tương ứng.

Ngoài ra người ta còn quan tâm đến hiện tượng điều chỉnh kiểu gene (genotypic modifications) đến từ quá trình đột biến các tế bào sinh dưỡng (somatic) và tế bào mầm (germline). Các nghiên cứu dần hé lộ triển vọng trong chẩn đoán sớm và điều trị. Tuy nhiên, rất khó có thể chữa dứt điểm các bệnh tật có sự liên hợp đột biến của nhiều gene.

Từ những điều trên, chúng ta cũng đã phần nào hiểu được sự quan trọng và cần kíp của việc phải tìm hiểu nhiều hơn những tình trạng bệnh này ở mức độ phân tử để có thể tạo ra các phương pháp chữa trị hiệu quả.

Chương này tập trung vào việc phân loại và giới thiệu một số hình ảnh minh họa điển hình.

Các vi sinh vật gây bệnh và virus

Các vi sinh vật và virus gây bệnh này sử dụng tác nhân gây độc của nó tác động vào các quá trình tín hiệu, gây ra biến đổi chức năng ở các tế bào đặc hiệu:

-          Bệnh lỵ khuẩn que (bacillary dysentery) gây ra bởi Shigella flexneri. Chất độc của vi khuẩn này ngăn cản quá trình tái cấu trúc sợi actin bởi tác động của PtdIns4,5P2 và còn có khả năng hoạt hóa lộ trình tín hiệu PtdIns 3-kinase.

Shigella flexneri gây ra sự xáo trộn các lộ trình tín hiệu của tế bào chủ để giúp nó dễ dàng xâm nhập vào tế bào và sinh độc tố. S. flexneri xâm nhập vào tế bào chủ cùng với protein tác hiệu IpgD (Có chức năng thủy phân PtdIns 4,5P2 thành PtdIns5P). Quá trình xâm nhập của vi khuẩn vào tế bào trở nên dễ dàng khi nồng độ PtdIns4,5P2 giảm xuống đến mức kiệt quệ (vì nó là chất điều hòa sự tái cấu trúc của sợi actin). Hơn nữa, PtdIns5P sau khi tạo ra sẽ hoạt hóa lộ trình PtdIns5P – có thể điều hòa một số hoạt động của tế bào chủ, cụ thể như hoạt hóa PtdIns 3-kinase lớp IA và hậu quả là tế bào không có apoptosis. (Nên nhớ rằng lộ trình PtdIns 3-kinase là một quá trình điều hòa apoptosis liên quan đến hormone rất mạnh)

-          Bệnh tả (cholera) gây ra bởi vi khuẩn Gram (-) Vibrio cholerae. Vi khuẩn này tiết độc tố tả (cholera toxin, CT), nó gây ra hiện tượng mất nước nhiều, nôn ói và chuột rút (muscle cramps) vì CT hoạt hóa lộ trình tín hiệu cAMP.

CT có một tiểu đơn vị xúc tác A và năm tiểu đơn vị B. Các tiểu đơn vị B gắn độc tố tả vào bề mặt của tế bào với gangliosode GM1 và nhờ vậy tiểu đơn vị A được đưa vào bên trong tế bào biểu mô ruột non. Tiểu đơn vị A xúc tác chuyển ADP-ribose từ NAD tới amino acid arginine ở tiểu đơn vị α của Gs. Sự ADP ribosyl hóa này làm cho Gs không thể thủy phân GTP được nữa, do vậy G protein bị khóa lại và nó luôn ở trong trạng thái hoạt hóa nên kích thích quá trình tiết của ruột non không ngừng.

-          Bệnh Chlamydia gây ra bởi Chlamydia trachomatis do nó có khả năng ức chế hiện tượng thực bào của macrophages.

-          Bệnh Listeriosis gây ra bởi Listeria monocytogenes – một vi khuẩn grame (+) có khả năng sống trong macrophages vì có khả năng “trốn” khỏi màng của lysosome của macrophages.

-          Loét dạ dày gây ra bởi Helicobacter pylori.

Loét dạ dày do acid sinh ra quá mức và hủy hoại lớp niêm mạc dạ dày. HP gắn vào bề mặt của tế bào biểu mô bởi nhiều protein kết dính. Ligand của CagA (CagL)có motif RGD giúp nó gắn được với phức hợp integrin α5β1 trên bề mặt màng tế bào, do vậy hoạt hóa được lộ trình tín hiệu của integrin tạo điều kiện cho CagA (một oncoprotein) được đưa vào tế bào và được hoạt hóa tại đây.

Khi vào được tế bào biểu mô, CagA tương tác với  các protein điều hòa tại đó, phá vỡ các liên kết vòng bịt bằng cách liên kết với ZO-1, JAM và họ enzyem serine-threonine kinase: “partitioning-defective 1 (PAR1)/microtubule affinity-regulating kinase” (MARK). Quá trình này dẫn đến mất tính phân cực của tế bào, gây loét, viêm và có thể dẫn đến ung thư dạ dày.

Cơ chế gây tăng tiết acid của HP vẫn còn chưa rõ ràng. Người ta tìm được bằng chứng về các tác động của nó đến quá trình tiết gastrin, ảnh hưởng đến quá trình điều hòa của tế bào D, tế bào G đối với sự tiết acid của tế bào thành.

-          Bệnh lao (tuberculosis) gây ra bởi Mycobacterium tuberculosis vì nó có khả năng ức chế quá trình trưởng thành của thể thực bào (phagosome maturation).

Khi một tác nhân gây bệnh bị chuyển vào túi thực bào, nó sẽ bị giết bởi các enzyme thủy phân. M. tuberculosis phá vỡ quá trình này bằng cách tắt dòng tín hiệu Ca2+. Sự ức chế này được cho là có phụ thuộc vào lipoarabinomannan (LAM, cũng thuộc PAMPs) được giải phóng từ vi khuẩn. LAM hoạt động thông qua thụ thể Toll-like 2 (TLR2), tác động trực tiếp tới hoạt động của phospholipase D trong giai đoạn sinh ra chất truyền tin huy động Ca2+ có tên là sphingosine 1-phosphate (S1P). tuy nhiên, vi khuẩn lao cũng có thể bị giết bởi đại thực bào nếu ATP hoạt hóa các hệ thống thông tin Ca2+ có nguồn gốc ngoại bào qua thụ thể P2x7.

 

Hiện tượng tái cấu trúc hệ thông tin và bệnh tật

Tất cả các tế bào đã biệt hóa đều có một hệ thông tin (signalsome) có vai trò tạo ra các tín hiệu đầu ra bình thường để duy trì chức năng của nó. Tình trạng bệnh lý có thể là hậu quả của một quá trình tái cấu trúc hệ thông tin cả về kiểu hình (phenotypic) và kiểu gene (genotypic).

Một trong những điều quan trọng khi tìm hiểu về mối quan hệ giữa hiện tượng tái cấu trúc hệ thông tin và bệnh tật là giải thích cho được câu hỏi “làm sao hệ thông tin đáp ứng với một sự thay đổi cường độ kích thích?”. Vì khi các thành phần của hệ thông tin bị tái cấu trúc, khoảng tác dụng (operational range) của nó sẽ bị tác động, gây ra hiện tượng tăng hay giảm nhạy với kích thích rồi dẫn tới tình trạng bệnh lý.

Tái cấu trúc kiểu hình hệ thông tin

Trong suốt quá trình phát triển, quá trình biểu hiện hệ thông tin (signalsome expression) sẽ tạo ra hệ thông tin đặc trưng cho từng loại tế bào, phù hợp với chức năng của nó. Những hệ thông tin đặc hiệu này được duy trì liên tục nhờ quá trình phiên mã, sự ổn định của hệ thông tin (signalsome stability),… tuy nhiên, sự tái cấu trúc có nhiều vai trò như:

-          Tăng lực co bóp cơ tim xảy ra khi gắng sức. Đáp ứng inotropic này có được nhờ vào lộ trình tín hiệu Ca2+ ở tâm thất và quá trình phosphoryl hóa thuận nghịch các phân tử tín hiệu sẽ giúp tế bào cơ tim có thể sinh ra lượng Ca2+ lớn hơn.

-          Hiện tượng synaptic plasticity xảy ra trong trí nhớ tạm thời là kết quả của quá trình phosphoryl hóa phụ thuộc Ca2+ của thụ thể AMPA (α-amino-3-hydroxy-5-methylisoxazole-4-propionic acid) trên tủy tiếp hợp (synaptic spine).

-          Trong quá trình co cơ bám xương, yếu tố nhân (nuclear factor) của tế bào T hoạt hóa (NFAT) duy trì tình trạng của nó và quá trình ức chế này có thể làm biến đổi sợi cơ. Đây là ví dụ của hiện tượng tái cấu trúc, các sợi cơ bám xương trải qua sự thay đổi kiểu hình như là một phản ứng đáp ứng với sự thay đổi các yếu tố tác động vào chức năng của nó.

-          Trong quá trình mang thai, tế bào cơ tử cung trải qua các quá trình thay đổi hệ thống lộ trình tín hiệu của nó để hoạt hóa các phân tử dao động trên màng tế bào (oscillator). Nhờ vậy, nó có thể sinh ra các tín hiệu điện để có thể co thắt mạnh trong suốt quá trình lâm bồn.

Các ví dụ trên đều có một đặc điểm chung là sự thay đổi kiểu hình tín hiệu là một phản ứng bình thường. Bằng cách đó, tế bào có thể thực hiện được chức năng của mình. Tuy nhiên, khi quá trình tái cấu trúc này trở nên bất thường, nó có thể sinh ra các hệ tín hiệu bất thường và do vậy cho ra các tín hiệu không phù hợp, gây ra nhiều tình trạng bệnh lý khác nhau.

Một trong những vấn đề chính hiện nay này là hiện tượng tái cấu trúc thuận nghịch tìm ẩn. Đây là lý do tại sao nhiều công ty Dược nỗ lực nghiên cứu các loại thuốc, nhất là loại khóa thụ thể và bất hoạt protein kinase sao cho chúng phù hợp với các quá trình biến đổi kiểu hình này.

Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu một số rối loạn bệnh lý thường gặp có liên quan đến quá trình này. Ở đây chỉ trình bày một cách hết sức sơ khai với mục đích định hướng cho người đọc tự tìm hiểu trong các sách chuyên khảo cho từng loại bệnh một.

Bệnh hen

Hình 44.1: Sinh lý – bệnh của bệnh hen rất phức tạp. Nó gồm có sự tham gia của một số tế bào viêm tương tác lẫn nhau dẫn đến các đáp ứng viêm cấp tính và mãn tính của đường dẫn khí.

Đây là tình trạng bệnh gây ra do sự thay đổi đường dẫn khí bởi các phản ứng viêm, hiện tượng quá nhạy cảm của phế quản, sự tắt nghẽn đường dẫn khí do co thắt quá mức và phì đại các tế bào cơ trơn phế quản. Quá trình co thắt có thể được hoạt hóa do các tác nhân như acetylcholine (Ach), serotonin,…

Khả năng co thắt của các tế bào cơ này có thể tăng lên khi các phân tử dao động trên màng tế bào (oscillator) thay đổi chức năng kiểm soát tình trạng co của chúng. Ngoài ra, sự thay đổi hoạt động của PDE4D hay cơ chế tín hiệu Rho cũng là các nhân tố góp phần vào hiện tượng này vì nó có chức năng kiểm soát sự nhạy cảm của MLCK đối với Ca2+.

Các chất kích thích như (yếu tố tăng trưởng, agonist, cytokines và protein trong dịch ngoại bào,…) có thể kích hoạt sự tăng sinh của tế bào cơ trơn. Ngoài ra, tăng biểu hiện của kênh transient receptor potential 1 (TRPC1) cũng có thể góp phần làm hẹp phế quản và tăng sinh SMC.

Kênh Cl- nhạy cảm với Ca2+ 1 (CLCA1) có mặt ở biểu mô phế quản và tế bào đài có hiện tượng quá điều hòa (up-regulated) trong các bệnh nhân bị hen. Do tế bào đài sản xuất chất nhày, nên nó có thể góp phần làm tình trạng hen nặng hơn.

Hình 44.2: Mô tả suy tim sung huyết từ quá trình tái cấu trúc hệ thông tin tế bào tim. Tình trạng phì đại (quá tải), suy giảm tế bào cơ và các yếu tố nội tiết sẽ dẫn đến hiện tượng tái cấu trúc mà đầu tiên hết là sự phì đại bù trừ (compensated hypertrophy) rồi sau đó tiến triển thành tình trạng phì đại không bù trừ trong suy tim sung huyết.

Xơ gan

Xơ gan là hậu quả của rất nhiều yếu tố gây hại ở người lạm dụng rượu, bị nhiễm virus viêm gan siêu vi và các chất độc khác. Một trong các biểu hiện ở giai đoạn sớm của xơ gan là hiện tượng sinh tế bào sợi (fibrogenesis) được hoạt hóa ở tác tế bào sao gan (hepatic stellate). Hoạt tính của các tế bào này giảm trong quá trình lão hóa (senescence), làm giảm bớt tác động của nó tới xơ gan.

Lộ trình tín hiệu của các tế bào gan trong xơ gan có liên quan đến hệ thống tín hiệu Smad, TGFβ, MAPK và PI3K/Akt.

Rối loạn hưng trầm cảm

Ở nước Anh có hơn hai người bị bệnh này mỗi năm. Họ thường mất khả năng tương tác với cuộc sống thật và rơi vào trạng thái ảo giác, lơ ngơ (euphoria).

Hiện tượng này đã được mô tả kĩ ở chương trước.

Hình 44.3: Mô tả lý thuyết kiểm soát chứng rối loạn hưng trầm cảm với tác dụng của Li+ và valproate.

Hội chứng Cushing’s

Đây là một bệnh nội tiết gây ra bởi sự tăng tiết quá mức cortisol ở lớp bó (zona fasciculata) tủy thượng thận. Béo phì là triệu chứng thường gặp nhất, bệnh nhân tăng cân nhanh, phân bố mỡ không đồng đều chủ yếu ở mặt làm cho bệnh nhân có bộ mặt “tròn như mặt trăng rằm”, sau gáy có bờm mỡ dưới da trông giống lưng lạc đà, tăng tích mỡ ở ngực, bụng. Ngược lại, chân tay nhỏ, khẳng khiu (mỡ ít tập trung ở vùng này làm cho cơ thể mất cân đối (béo từ mông lên đến mặt, chân tay khẳng khiu). Tuy nhiên có một số trường hợp tăng cân ít hoặc không tăng cân.

Ngoài ra, đái tháo đường, đái tháo nhạt (diabetes insipidus), tiêu chảy, động kinh, rối loạn cương dương, bệnh tim mạch, tăng huyết áp, rối loạn lưỡng cực, béo phì, loãng xương, viêm khớp dạng thấp, hội chứng Zollinger-Ellison’s,… cũng là các rối loạn bệnh lý có liên quan đến hiện tượng này.

Hình 44.4: Lộ trình tín hiệu trong cơ chế phì đại cơ tim sinh lý và phì đại cơ tim sinh – bệnh lý. Trong phì đại cơ tim sinh lý, điện thế hoạt động sinh ra tín hiệu Ca2+ để kiểm soát quá trình co cơ và làm ổn định hệ thông tin khi duy trì hệ thống gene. IGF-1 được tổng hợp trong quá trình luyện tập sẽ làm mẫu (template) khi nó hoạt hóa sự tổng hợp protein thông qua hệ thống PtdIns 3-kinase. Trong sự phì đại cơ tim bệnh lý, do quá tải áp lực hoạt hóa lộ trình Ca2+ biến đổi (alter of the nature of the Ca2+ signal), gây ra biến đổi gene, thay đổi protein được tổng hợp và dẫn tới tình trạng bệnh lý.

Tái cấu trúc kiểu gene của hệ thông tin

Có hai cơ chế:

-          Đột biến thể soma: Tạo ra các lộ trình tín hiệu khác biệt có liên quan tới các yếu tố tăng trưởng, và đây cũng là cơ chế sinh ung thư do gây ra các rối loạn trong quá trình điều hòa chu kì của tế bào.

-          Đột biến dòng tế bào gốc (germline): Liên quan rất nhiều đến sự khiếm khuyết các kênh ion.

Sau đây trình bày sơ lượt một số bệnh lý có liên quan đến hai cơ chế này. Để có cái nhìn chi tiết và rõ ràng hơn, mời các độc giả tham khảo thêm quyển “Các bệnh gen” của PGS.TS.BS Nguyễn Trí Dũng.

Bạch tạng

Đây là một rối loạn chuyển hóa bẩm sinh liên quan đến đột biến của enzyme tổng hợp melanin. Bệnh có tần suất là 1:20000.

Bình thường, tyrosine được chuyển đổi thành Dopa rồi sau đó thành Dopamin dưới tác dụng của tyrosinase trong tế bào chất. Sau đó, Dopamin được chuyển thành sắc tố đỏ-vàng là pheomelanin hoặc sắc tố nâu-đen eumelanin. Các phản ứng này xảy ra ở melanosome trong tế bào melanocyte rồi sau đó được chuyển đến các tế bào keratin. Các bất thường xảy ra khi có bất kì khiếm khuyết nào trong quá trình chuyển đổi các thành phần trên.

Trong bệnh bạch tạng, số lượng tế bào melanocyte không thay đồi vì đột biến xảy ra trên enzyme tyrosinase:

-          Bạch tạng týp 1 (OCA1): Được định nghĩa là sự thiếu melanin ở da và tóc. Nguyên nhân của bệnh là sự đột biến thiếu hoàn toàn enzyme tyrosinase có chức năng chuyển đổi tyrosine thành 3,4-dihydroxyphenylalanine.

-          Bạch tạng týp 2 (OCA2): Do đột biến HUMAN P HOMOLOGUE OF THE MOUSE PINK-EYED DILUTION GENE (p) – có chức năng mã hóa cho protein của melanosome có chức năng vận chuyển tyrosine vào trong melanosome trưởng thành.

-          Bạch tạng týp 3 (OCA3): Phổ biến ở người châu Phi. Bệnh xảy ra do sự đột biến của tyrosinase-related protein 1 (TYRP1).

Hình 44.5: Cơ chế tổng hợp melanin.

Bệnh Anderman’s

Đây là một bệnh lý thần kinh phức tạp, liên quan đến các rối loạn của thần kinh vận động và thần kinh cảm giác có liên quan đến agenesis của thể chai.  Hậu quả là sự chậm dẫn truyền và liệt chi. Bệnh do đột biến gene SLC12A6 (có chức năng mã hóa cho kênh đồng vận chuyển K+-Cl- 3, KCC3).

 

Hình 44.6: Bản đồ đột biến thụ thể Ryanodine (RYR) ở 3 điểm “nóng”. Đột biến của thụ thể RYR týp 1 và 2 gây ra nhiều bệnh như Thân nhiệt cao ác tính (malignant hyperthermia, MH), bệnh nhân trung tâm (central core disease, CCD), chứng loạn nhịp tim nhanh trên thất đa hình do catecholinergic (catecholinergic polymorphic venticular tachycardia, CPVT),… Các đột biến này có ở 3 điểm chính được mô tả trên hình.

Hình 44.7: Đột biến dẫn đến các hậu quả là các kênh Ca2+ bệnh lý ở tiểu đơn vị α của các kênh ion do điện thế điều hành khác nhau.

Hội chứng Angelman’s

Là một bệnh liên quan đến sự phát triển thần kinh do đột biến nhiễm sắc thể 15q11-13. Hậu quả là chứng mất điều hòa (ataxia), khó phát âm, chậm phát triển nhận thức,… Kiểu hình có tính chồng chéo với hội chứng Rett. Thực vậy, một vài bệnh nhân của hội chứng không có đột biến 15q11-13 rõ ràng mà lại có đột biến của methyl-CpG-binding protein 2 (MECP2) – vốn liên quan đến hội chứng Rett.

Hội chứng Rett’s

Do đột biến (mất chức năng) gene mã hóa cho MECP2 ở NST X. MECP2 mã hóa cho các protein trong nhân gắn kết DNA đã được methyl hóa và tụ tập các histone deacetylase. Bệnh cảnh lâm sàng ở trẻ nam và nữ khác nhau nhưng thường có điểm chung là chậm phát triển tâm thần, rối loạn chức năng thần kinh.

Mất cảm giác đau bẩm sinh

Do sự khiếm khuyết chức năng của gene SCN9A bình thường mã hóa cho kênh NaV1.7 hoạt động trên các thụ cảm đau (pain perception). Ngược lại với hiện tượng này, các đột biến làm tăng tính nhạy của gene này lại gây ra bệnh erythermalgia.

Hội chứng Down’s

Đây là một bệnh lý phức tạp có liên quan đến sự biến đổi sọ và mặt (craniofacial morphology), khiếm khuyết tim mạch và chậm phát triển tâm thần. Bệnh có tần suất là 1/700 trẻ được sinh ra và có biểu hiện trisomy NST 21.

Hội chứng này có thể là hậu quả của sự hoạt động quá mức lộ trình tín hiệu redox. NST 21 mã hóa cho superoxide dismutase 1 (SOD1). Do vậy, tăng thêm 1 NST 21 là nguyên nhân của tình trạng biểu hiện quá mức (overexpression) ở não người mắc bệnh. Từ đó, lượng H2O2 được tạo ra sẽ nhiều hơn và gây chết tế bào thần kinh. Người ta còn ghi nhận được ở neurons của những người mắc bệnh này có một lượng lớn ROS.

Bệnh Huntington’s

Bệnh di truyền trội trên NST thường có tần suất thấp (chỉ khoảng 3-9/100000 trẻ). Các đột biến gene gây bệnh thường làm tăng sự lập lại của đoạn CAG trên các exon 1 mã hóa cho polyglutamine. Khi nối dài protein huntingtin polyglutamine sẽ dẫn đến các biểu hiện tính trạng mới của protein này, ảnh hưởng đến quá trình phát triển kiểu hình.

Hình 44.8: ECG bình thường ở bên trái. Hội chứng QT kéo dài thể hiện ở bên phải.

Hội chứng QT kéo dài

Do khiếm khuyết tái khử cực tế bào cơ tim. Tái khử cực là một hoạt động thiết yếu nhằm tạo sự cân bằng dòng Na+ và Ca2+ đi vào so với dòng K+ đi ra. Do vậy, mất cân bằng dòng chảy các ion này sẽ làm tăng hoặc giảm điện thế động ở tế bào cơ tim trong suốt thời gian khử cực, dẫn đến kéo dài hoặc làm ngắn QT. Có liên quan đến 5 đột biến gene (mất chức năng) của các kênh ion: KCNQ1, KCHN2, SCN5A, KCNE1 và KCNE2. Bệnh có tần suất 1/5000 – 1/7000.

Rối loạn dự trữ glycogen

Nguyên nhân là sự đột biến tiểu đơn vị γ của AMP-activated protein kinase (AMPK).

Bệnh thận đa nang

Tần suất bệnh là 1/1000. Bệnh xảy ra do đột biết 2 gene là PKD1 (chiếm 85%) và PKD2 tuy nhiên cơ chế đột biến như thế nào còn chưa biết rõ. Hai gene này mã hóa cho polycystins 1 và 2, là protein xuyên màng, có chức năng chuyển đổi các kích thích cơ học thành các tín hiệu hóa học. Nhiều nhà khoa học cho rằng nó có chức năng vận chuyển Ca2+ do vậy các rối loạn của nó ảnh hưởng đến lộ trình tín hiệu Ca2+ và MAPK.

 

Sửa lần cuối ngày 24/11/2012 - www.docsachysinh.com  

 Hãy cùng nhau chung tay xây dựng cộng đồng Y sinh học của Việt Nam bằng tri thức khoa học!

 Diễn đàn Đọc sách Y Sinh